ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ THỊ DIỄM
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN
KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đà Nẵng, năm 2018
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ THỊ DIỄM
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN
KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số:60.34.02.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS VÕ THỊ THÚY ANH
Đà Nẵng, năm 2018
1.4.2. Tổng quan nghiên cứu trong nƣớc .............................................. 24
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 27
CHƢƠNG 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP .......................... 28
2.1. CÁCH TIẾP CẬN .................................................................................... 28
2.2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ...................................................................... 29
2.3. XÁC ĐỊNH BIẾN SỐ .............................................................................. 32
2.3.1. Biến phụ thuộc ............................................................................ 32
2.3.2. Biến độc lập ................................................................................ 34
2.4. CÁC GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU ........................................................... 44
2.5. ƢỚC LƢỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH .......................................... 47
2.5.1. Kiểm định hiện tƣợng đa cộng tuyến.......................................... 47
2.5.2. Ƣớc lƣợng mô hình ..................................................................... 47
2.5.3. Đo lƣờng độ phù hợp của mô hình ............................................. 47
2.5.4. Kiểm định sự khác biệt ............................................................... 48
2.5.5. Đo lƣờng hiệu ứng cận biên........................................................ 48
2.6. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU........................................................................ 49
2.6.1. Lựa chọn mẫu nghiên cứu .......................................................... 49
2.6.2. Thu thập dữ liệu nghiên cứu ....................................................... 49
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 51
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................... 52
3.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ VÀ THỰC TRẠNG .............................................. 52
3.1.1. Thực trạng kiệt quệ tài chính của các công ty niêm yết trên Sở
giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh ....................................................... 52
3.1.2. Thống kê mô tả ........................................................................... 56
3.2. KIỂM ĐỊNH HIỆN TƢỢNG ĐA CỘNG TUYẾN ................................. 68
3.3. ƢỚC LƢỢNG MÔ HÌNH HỒI QUY LOGIT ........................................ 70
3.4. KIỂM ĐỊNH ĐỘ PHÙ HỢP CỦA MÔ HÌNH ........................................ 72
Doanh nghiệp
EBITDA
Thu nhập trƣớc thuế, lãi vay, khấu hao
HĐKD
Hoạt động kinh doanh
HOSE
Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
MDA
Multiple Discriminant – phân tích phân biệt đa biến
NVTC
Nghĩa vụ tài chính
TPCP
Trái phiếu chính phủ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số
Mô tả thống kê hai nhóm mẫu quan sát
63
3.5.
Mô tả thống kê tỉ lệ tổng nợ, nợ dài hạn, nợ ngắn hạn
trên tổng tài sản
66
3.6.
Kết quả kiểm định đa cộng tuyến
69
3.7.
Ma trận hệ số tƣơng quan
70
3.8.
Kết quả hồi quy các mô hình
72
3.9.
3,011 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm trƣớc (31.8%). Tổng số doanh nghiệp
tạm ngừng hoạt động, chờ giải thể và phá sản vào khoảng 73,000 doanh
nghiệp, con số này giảm hơn nhiều so với tổng số hơn 80,000 doanh nghiệp
năm 2015, song số lƣợng doanh nghiệp chính thức rời bỏ thị trƣờng cao hơn.
Về quy mô doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải
thể phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký dƣới 10 tỷ đồng
chiếm 92.5% trên tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký
hoặc chờ giải thể.
Theo số liệu từ Ủy ban chứng khoán, năm 2015 có 47 công ty niêm yết
mới, 33 đơn vị hủy niêm yết. Năm 2016 ghi nhận 16 doanh nghiệp bị hủy
niêm yết với tổng khối lƣợng lên tới 621 triệu cổ phiếu. Nguyên nhân chủ yếu
do thua lỗ 3 năm liên tiếp (2013-2015), lỗ lũy kế vƣợt vốn điều lệ thực góp
vào thời điểm cuối năm 2015 hay vi phạm công bố thông tin nghiêm trọng.
Theo số liệu vừa công bố của Tổng cục thống kê, số doanh nghiệp hoàn
tất thủ tục giải thể trong 11 tháng năm 2017 là 10,814 doanh nghiệp, tăng
3.3% so với cùng kỳ năm trƣớc, trong đó 9,905 doanh nghiệp có quy mô vốn
dƣới 10 tỷ đồng, chiếm 91.6%. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong
11 tháng là 55,664 doanh nghiệp, tăng 3% so với cùng kỳ năm trƣớc, bao gồm
20,821 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 10.2%
và 34,843 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải
thể, giảm 0.9%.
2
Theo nhƣ số liệu của đề tài luận văn thống kê đƣợc, trong 1,140 quan sát
tại 151 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh thì có đến 96 quan sát từ 46 công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính.
Nhƣ vậy có đến 8.42% quan sát kiệt quệ tài chính và 30.46% công ty rơi vào
tình trạng kiệt quệ tài chính trong mẫu quan sát.
Qua những số liệu thống kê nêu trên, việc xác định các nhân tố ảnh
tìm kiếm một mô hình dự báo kiệt quệ tài chính tốt, phù hợp với điều kiện
thực tế tại Việt Nam. Có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng & Lê
Cao Hoàng Anh (2012); Phù Kim Yến, Nguyễn Mạnh Hiệp (2014) vận dụng
mô hình chỉ số Z của Altman để dự báo khả năng xảy ra thất bại của các
doanh nghiệp tại Việt Nam bằng các số liệu liên quan đến yếu tố tài chính.
Nghiên cứu Lê Đạt Chí, Phạm Hoàng Chiến (2016) bƣớc đầu kết hợp đầy đủ
cả ba yếu tố tài chính, yếu tố thị trƣờng, yếu tố môi trƣờng kinh tế vĩ mô để
dự báo kiệt quệ tài chính các doanh nghiệp tại Việt Nam trong giai đoạn
2006-2013.
Trong luận văn này, thay vì đi xây dựng một mô hình dự báo kiệt quệ tài
chính tốt, tác giả xem xét các nhân tố tác động đến kiệt quệ tài chính ở hai
khía cạnh là doanh nghiệp có kiệt quệ tài chính và doanh nghiệp không có
kiệt quệ tài chính, từ đó xác định các yếu tố tác động đến tình trạng kiệt quệ
tài chính cho các công ty niêm yết tại Việt Nam, cụ thể là các công ty niêm
yết tại sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, tác giả chọn đề tài
“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến kiệt quệ tài chính tại các công ty
niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”. Bài
nghiên cứu sẽ xem xét sự tác động của ba nhóm nhân tố ảnh hƣởng đến: tài
chính, thị trƣờng, môi trƣờng kinh tế vĩ mô trong cùng một mô hình kiểm
định. Qua đó có những khuyến nghị cho các nhà quản trị doanh nghiệp và các
nhà hoạch định chính sách nhằm hạn chế kiệt quệ tài chính doanh nghiệp và
4
khuyến nghị cho các nhà đầu tƣ những yếu tố nhận biết để hạn chế đầu tƣ vào
doanh nghiệp kiệt quệ tài chính.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến kiệt quệ tài chính tại các
công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh nhằm
nhận diện các nhân tố tác động đến kiệt quệ tài chính và từ những nhân tố này xây
độc lập trong mô hình trong mô hình từ năm 2008 trở về trƣớc rất là hạn chế.
Vì thế, giai đoạn lấy mẫu chỉ lấy từ năm 2009 đến 2016.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng mô hình hồi quy Logit dựa theo bài nghiên cứu gốc của
Tinoco và Wilson (2013). Mô hình hồi quy Logit đƣợc sử dụng rất phổ hiến
trong các nghiên cứu về kiệt quệ tài chính, hay là các mô hình có biến nhị
phân dùng để xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến biến nhị phân của mô hình
đó. Trong nghiên cứu của Tinoco và Wilson (2013), độ chính xác trong dự
báo kiệt quệ tài chính là 92% cao hơn đáng kể so với khi sử dụng phƣơng
pháp phân tích phân biệt đa biến của Altman với độ chính xác chỉ đạt 85% khi
sử dụng chung một bộ dữ liệu. Tác giả kỳ vọng, việc vận dụng những yếu tố
căn bản của mô hình này kết hợp với vận dụng điều chỉnh cho phù hợp mục
đích nghiên cứu của đề tài cũng nhƣ trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, việc
kiểm định sự tác động của các yếu tố đến kiệt quệ tài chính cũng sẽ những kết
quả tích cực.
Kiệt quệ tài chính là trạng thái mà một công ty đáp ứng một cách khó
khăn các nghĩa vụ tài chính mà của mình đối với các chủ nợ. Trạng thái của
kiệt quệ tài chính là quá trình thay đổi linh hoạt các trạng thái khác nhau giữa
tình trạng khó khăn tạm thời của doanh nghiệp và phá sản, là kết quả của các
bất thƣờng xảy ra trong hoạt động kinh doanh suốt một khoảng thời gian. Các
6
trạng thái này bao gồm thất bại, mất khả năng thanh khoản, vỡ nợ và phá sản.
Trong luận văn này, tác giả sử dụng các dấu hiệu nhận biết kiệt quệ tài chính
từ giai đoạn mất khả năng thanh khoản để xác định sớm khả năng kiệt quệ tài
chính của doanh nghiệp.
Biến phụ thuộc ở dạng nhị phân có hai biểu hiện, 1 là có khả năng kiệt
quệ tài chính và 0 nếu không có khả năng kiệt quệ tài chính. Luận văn bao
gồm 9 biến độc lập đƣợc chia thành ba nhóm biến đó là nhóm biến tài chính,
biên để xem xét sự tác động của các yếu tố đến kiệt quệ tài chính.
5. Bố cục đề tài
Bố cục bài luận văn ngoài phần mở đầu thì gồm 4 chƣơng:
- Chƣơng I: Cơ sở lý thuyết về kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp
- Chƣơng II: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến kiệt quệ tài
chính của doanh nghiệp
- Chƣơng III: Kết quả và bàn luận về các nhân tố ảnh hƣởng đến kiệt quệ
tài chính của doanh nghiệp
- Chƣơng IV: Khuyến nghị
8
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1. CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH
Kiệt quệ tài chính là trạng thái mà một công ty đáp ứng một cách khó
khăn các nghĩa vụ tài chính mà của mình đối với các chủ nợ. Tuy nhiên, quan
điểm này có sự thay đổi qua các nghiên cứu khác nhau trên thế giới. Việc này
xuất phát từ vấn đề lựa chọn mẫu cho các mô hình nghiên cứu về dự báo kiệt
quệ tài chính.
Theo Altman và Hotchkiss (2005), các công ty không thành công có thể
đƣợc xác định thông qua các giai đoạn khó khăn mà chúng trải qua. Có bốn
giai đoạn khái quát đƣợc phát hiện trong các tài liệu nghiên cứu liên quan để
phân loại các công ty kiệt quệ tài chính, đó là thất bại (failure), mất thanh
khoản (insolvency), vỡ nợ (default) và phá sản (bankcrupty). Các giai đoạn
này đôi khi đƣợc sử dụng thay thế nhau nhƣng chúng đều cho thấy các nội
dung khác nhau của kiệt quệ tài chính.
Thất bại (failure) theo Altman và Hotchkiss (2005) nghĩa là tỷ suất sinh
tiền để đảm bảo các nghĩa vụ tài chính hiện tại.
Vỡ nợ (default) là một khái niệm tài chính khác liên quan đến kiệt quệ
tài chính. Vỡ nợ đƣợc thể hiện nhƣ là tình trạng khi một công ty không thể trả
đƣợc nợ gốc hay lãi đối với chủ nợ khi chúng đến hạn, và do đó vi phạm điều
kiện hợp đồng tín dụng dẫn đến các hành động pháp lý (Altman và Hotchkiss,
2005). Vỡ nợ đƣợc tách ra làm hai phạm trù riêng là vỡ nợ thanh toán do
không thể trả nợ gốc và lãi đến hạn, và vỡ nợ kỹ thuật do vi phạm các điều
khoản hợp đồng tín dụng của công ty. Ngoài ra có sự nhầm lẫn phổ biến giữa
10
mất thanh khoản và vỡ nợ. Để phân biệt giữa vỡ nợ và mất thanh khoản cần
tham chiếu đến thời điểm đáo hạn của nợ. Một công ty có thể ở trong tình
trạng mất thanh khoản trong một khoảng thời gian dài. Tuy nhiên, chỉ đến
thời điểm nợ đáo hạn, công ty mới đƣợc xem là vỡ nợ, lúc này công ty sẽ cố
gắng tái cấu trúc nợ trƣớc khi tình trạng phá sản bắt đầu.
Phá sản (bankruptcy) là việc một công ty đệ trình đơn xin phá sản chính
thức đến với tòa án và đƣợc tòa án phê duyệt cho phép phá sản. Diễn biến sau
đó sẽ theo hai hƣớng hoặc là công ty bán tài sản để trả nợ (thanh lý tài sản)
hoặc là nỗ lực thực hiện một chƣơng trình tái cấu trúc (Altman và Hotchkiss,
2005). Phá sản là một hình thái đặc biệt của kiệt quệ tài chính. Phá sản tập
trung vào các nghiên cứu giảm kích cỡ mẫu. Việc sử dụng kiệt quệ tài chính
sẽ có tính linh động hơn, gia tăng kích cỡ mẫu mà trên lý thuyết, không phải
tất cả công ty bị kiệt quệ tài chính đều đi đến phá sản. Phá sản chỉ là sự lựa
chọn cuối cùng đối với các công ty mà chúng không thể giải quyết các vấn đề
tài chính.
Theo Adeyemi (2011), kiệt quệ tài chính có thể đƣợc định nghĩa là một
công ty rơi vào tình trạng khó khăn về hoạt động, quản lý về tài chính. Giá trị
của công ty sẽ giảm trong suốt khoảng thời gian kiệt quệ. Các chi phí trực tiếp
của việc mất khả năng thanh khoản bao gồm chi phí kiểm toán, chi phí pháp
khoản của hợp đồng tín dụng, doanh nghiệp có thể phải chịu trách nhiệm pháp
lý và vỡ nợ. Giai đoạn phá sản đƣợc coi là giai đoạn cuối cùng và là giai đoạn
nghiêm trọng nhất của kiệt quệ tài chính, doanh nghiệp thanh lý tài sản hoặc
thực hiện tái cấu trúc sau khi đƣợc tòa án phê duyệt phá sản.
1.2. CÁC DẤU HIỆU NHẬN BIẾT KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH
Các công ty với sức khỏe tài chính kém và có nhiều vấn đề về nợ vay thì
có thể dễ dàng lâm vào kiệt quệ tài chính, và hơn thế, một số sẽ phá sản khi
12
khủng hoảng kinh tế xảy ra. Tuy nhiên, ngay cả khi trong những nền kinh tế
ổn định, có lợi nhuận tốt, việc quản lý không phù hợp với xu thế hiện tại cũng
có thể xảy ra kiệt quệ tài chính. Nhƣ đã trình bày ở trên, kiệt quệ tài chính
thƣờng trải qua ba giai đoạn chính gồm: giai đoạn sớm – thất bại, giai đoạn
giữa – mất khả năng thanh khoản, giai đoạn cuối – vỡ nợ và phá sản. Tuy
nhiên, trên thực tế không có ranh giới rõ ràng giữa các giai đoạn của kiệt quệ
tài chính. Quá trình kiệt quệ tài chính thƣờng diễn ra trong một thời gian dài
với giai đoạn sau là hệ quả của giai đoạn trƣớc và giai đoạn trƣớc là một phần
của giai đoạn sau. Vì vậy các giai đoạn của kiệt quệ tài chính không thể phân
biệt một cách tuyệt đối. Dựa vào mức độ nghiêm trọng của mỗi giai đoạn kiệt
quệ tài chính, luận văn sẽ trình bày các dấu hiệu chính để giúp nhận biết một
doanh nghiệp đang rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính.
1.2.1. Giai đoạn sớm – giai đoạn thất bại
Trong giai đoạn thất bại, doanh nghiệp gặp một số khó khăn trong hoạt
động kinh doanh nhƣ doanh số sụt giảm, doanh thu không đủ để bù đắp chi
phí làm thu nhập hoạt động bị âm, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu
hồi công nợ nên thỉnh thoảng bị thiếu hụt tiền mặt để hoạt động (Whitaker,
1994), tỷ suất sinh lợi cổ phiếu âm (Opler và Titman, 1994), khách hàng
phàn nàn, mất các khách hàng thân thiết, trễ công bố thông tin (Scherrer,
Nhƣ vậy, việc các nhà nghiên cứu đƣa ra các dấu hiệu nhận biết khác
nhau tƣơng ứng với mỗi giai đoạn của kiệt quệ tài chính nhằm phân biệt mức
độ khó khăn của doanh nghiệp. Do đó, việc lựa chọn dấu hiệu để làm cơ sở
nhận biết một doanh nghiệp kiệt quệ tài chính phụ thuộc vào nhu cầu đánh giá
rủi ro của mỗi ngƣời.
14
1.3. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP
Theo Jahur và Quadir (2012), các nguyên nhân phổ biến gây ra kiệt quệ
tài chính và thất bại kinh doanh thƣờng là hỗn hợp phức tạp của các vấn đề.
Kiệt quệ tài chính là một quá trình chuyển đổi linh hoạt và phức tạp. Sự
không thống nhất của các định nghĩa về kiệt quệ tài chính bắt nguồn từ các
yếu tố khác nhau gây ra tình trạng kiệt quệ tài chính của công ty. Các yếu tố
này đƣợc phân thành hai loại: các yếu tố nội sinh và các yếu tố ngoại sinh.
Các yếu tố nội sinh bao gồm các vấn đề phát sinh từ bên trong của công ty, do
vậy chúng chỉ xuất hiện ở một số công ty cụ thể hoặc trong một nhóm các
công ty trong cùng ngành. Các yếu tố ngoại sinh thƣờng phổ biến hơn và tác
động lên tất cả các công ty trên thị trƣờng.
1.3.1. Yếu tố nội sinh
Các nguyên nhân dẫn đến kiệt quệ tài chính xuất phát từ nội tại của
doanh nghiệp thì có hai vấn đề cần chú ý đó chính là tình hình sức khỏe tài
chính của doanh nghiệp và yếu tố quản lý của doanh nghiệp.
a. Yếu tố tài chính
Nguyên nhân quan trọng nhất gây ra những căng thẳng về tài chính trong
các công ty trẻ mới thành lập là không đủ vốn, nơi mà công việc kinh doanh
đã phải vật lộn từ ngày đầu tiên khi bắt đầu mà không đủ vốn. Vốn cung cấp
một lớp đệm để chịu đƣợc những tổn thất bất thƣờng mà không bao gồm
trong mô hình thu nhập hiện tại (Adeyemi, 2012). Vốn trong bất kỳ hoạt động
kiện cứng nhắc. Sự không sẵn có của các nguồn quỹ cùng các điều kiện có thể
chấp nhận đƣợc đã làm ảnh hƣởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của các
công ty đang rơi vào kiệt quệ tài chính. Mặt khác, các cổ đông có thể bị cám dỗ
để thực hiện các dự án rủi ro bằng cách sử dụng bất kỳ khoản tiền mặt nào còn
lại của công ty. Nếu dự án rủi ro thành công, lợi ích họ có đƣợc sẽ có thể rất
đáng kể. Nhƣng nếu dự án thất bại, chủ nợ sẽ bị thiệt hại.
16
b. Yếu tố quản lý
Các nhà quản lý nói chung có khuynh hƣớng trục lợi các nguồn lực của
công ty dƣới dạng các đặc quyền, thù lao thêm và tránh rủi ro. Khi một công
ty rơi vào tình trạng kiệt quệ, càng có nhiều cám dỗ hơn để bỏ túi các nguồn
lực của công ty. Các nhà quản lý cũng có thể bắt đầu đƣa ra những quyết định
liên quan đến lợi ích ngắn hạn chứ không phải lợi ích lâu dài của công ty. Họ
có thể cắt giảm những chi phí mà ảnh hƣởng đến chất lƣợng của sản phẩm và
bán các tài sản hữu ích để cải thiện tính thanh khoản trong ngắn hạn của công
ty. Họ có thể bỏ qua những cơ hội đầu tƣ có lợi nhuận để tránh bất cứ loại rủi
ro nào. Những quyết định này sẽ làm cho vấn đề kiệt quệ của công ty sâu sắc
thêm và cuối cùng dẫn đến sự phá sản của công ty (Pandey, 2005).
Một công ty có thể rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính nếu phẩm chất và
kỹ năng quản lý kém của cấp lãnh đạo bao gồm quản lý dự án không tốt hoặc
để xảy ra gian lận. Theo Zwaig & Pickett (2012), nếu sự quản lý không thay
đổi kịp theo sự mở rộng nhanh chóng của hoạt động kinh doanh hoặc không
thích nghi với chiến lƣợc mới của đối thủ cạnh tranh có thể kéo theo sự thất
bại của công ty. Việc tuyển dụng đội ngũ quản lý không cân xứng và thiếu kỹ
năng cần thiết để quản lý công ty sẽ đẩy công ty rơi vào kiệt quệ tài chính, do
các quyết định đầu tƣ sai lầm với tổn thất kinh phí lớn mà không thể khắc
phục đƣợc.