Luận văn kinh tế : Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nhập khẩu hàng hóa tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu kỹ thuật – TECHNIMEX - Pdf 51

LỜI NÓI ĐẦU
Sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thế giới trong xu hướng
quốc tế hoá mạnh mẽ đã khiến cho mỗi quốc gia trở thành một mắt xích
không thể thiếu trong dây truyền hệ thống kinh tế thế giới, không một quốc
gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không tham gia vào phân công lao động
quốc tế và trao đổi hàng hoá với bên ngoài. Trong quá trình hội nhập vào xu
thế phát triển chung đó, ngoại thương trở thành một lĩnh vực kinh tế quan
trọng, thông qua hoạt động ngoại thương các mối liên hệ được thiết lập và
thực hiện trên cơ sở phát huy tiềm năng thế mạnh của mỗi nước. Chính vì thế
hoat động ngoại thương trong đó có nhập khẩu giữ vai trò vô cùng quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong chiến lược phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng.
Việt Nam chúng ta là một nước đang trên đà phát triển. Mặc dù qua gần
15 năm mở cửa, các mối quan hệ hợp tác về thương mại, khoa hoc kỹ thuật
giữa Việt Nam và các nước trên thế giới không ngừng được tăng cường và mở
rộng nhưng trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ cũng như trình độ tổ chức
sản xuất của ta vẫn chưa theo kịp các nước trên thế giới. Chúng ta vẫn còn
thiếu rất nhiều các dây chuyền công nghệ, các trang thiết bị hiện đại. Do đó để
từng bước hiện đại hoá nền sản xuất trong nước và đảm bảo đời sống của
người dân không ngừng được nâng lên thì một trong những vấn đề quan trọng
nhất là phải tổ chức tốt các hoạt động nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của thị trường trong nước, khắc phục những yếu kém về mặt kỹ thuật,
công nghệ sản xuất, tạo sức mạnh cho xuất khẩu, phục vụ cho công cuộc công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Trong điều kiện hiện nay, để hoạt động kinh doanh nhập khẩu có hiệu
quả thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động, nhanh nhạy nắm bắt và thoả
mãn kịp thời nhu cầu thị trường. Muốn làm được điều đó thì hệ thống hạch
toán kế toán của đơn vị phải thực sự hoạt động có hiệu quả. Bởi vì hạch toán
là công cụ không thể thiếu trong quản lý kinh tế nói chung và trong hoạt động
kinh doanh nhập khẩu nói riêng, với chức năng thu thập, xử lý và cung cấp
thông tin nó cung cấp một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời về tình hình sản

XUẤT NHẬP KHẨU.
1.1 Nhập khẩu hàng hoá và vai trò của nó trong hoạt động kinh doanh ở

các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như trong toàn bộ
nền kinh tế Quốc dân
Sự phân công lao động Quốc tế ngày càng rõ nét khiến các Quốc gia
xích lại gần nhau hơn. Mỗi quốc gia được tự nhiên ban tặng những lợi thế
nhất định tạo thành thế mạnh kinh tế của mỗi quốc gia đó. Nhưng nếu chỉ dựa
vào sản xuất trong nước thì không thể cung cấp đầy đủ hàng hoá, dịch vụ đáp
ứng như cầu sản xuất tiêu dùng. Vì vậy để thúc đẩy sự tăng trưởng của nền
kinh tế thì ngoài những hàng hoá là thể mạnh, mỗi quốc gia cần nhập khẩu
những hàng hoá thiết yếu khác phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Ngược lại
trên cơ sở khai thác tiềm năng, lợi thế vốn có sản xuất những mặt hàng thế
mạnh, một mặt phục vụ nhu cầu trong nước, mặt khác xuất khẩu phần thặng
dư ra nước ngoài thu ngoài tệ để nhập khẩu những thứ trong nước có nhu cầu
nhưng không thể đáp ứng. Như vậy do nhu cầu phát triển của nền kinh tế mà
nảy sinh ra nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia với nhau hay hoạt
động nhập khẩu là yêu cầu khách quan của tất cả các nền kinh tế.
Là một mặt của hoạt động ngoại thương, nhập khẩu là việc mua hàng
hoá của các tổ chức kinh tế nước ngoài và tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu ở thị
trường nhập khẩu hoặc tái xuất khẩu, được thực hiện bởi các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu. Một số quan điểm kinh tế cho rằng nhập khẩu ảnh
hưởng không tốt tới sự phát triển của nền kinh tế, làm tăng trưởng tỷ lệ thất
nghiệp. Về một mặt độc lập mà xét thì quan điểm này đúng vì tiêu dùng nhiều
hàng ngoại nhập sẽ làm giảm mức cầu về hàng hoá nôị địa dẫn tới ảnh hưởng
không tốt tới sản xuất trong nước. Tuy nhiên xét trên tầm vĩ mô thì nhập khẩu
lại khuyến khích sản xuất hiệu quả, giá thành thấp, là động lực cho sản xuất
hàng hoá xuất khẩu. Thực tế cho thấy trong xu hướng toàn cầu hoá, các nền
kinh tế của các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, hoạt động ngoại


Còn riêng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập
khẩu, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh, hoạt động nhập khẩu có vai trò
khác nhau. Những doanh nghiệp thiên về nhập khẩu thì vai trò của nhập khẩu
tại các doanh nghiệp này rất rõ ràng.
Nhập khẩu là nguồn cung cấp hàng hoá rất quan trọng cho đầu ra của
doanh nghiệp. Thông qua nhập khẩu doanh nghiệp có được nguồn hàng cung
cấp cho thị trường trong nước và tạo doanh thu. Việc tổ chức tốt quá trình
4


nhập khẩu, làm ra những mặt hàng đối tác cung ứng hợp lý giúp doanh nghiệp
thu được mức chênh lệch cao.
Để có thể hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đòi hỏi các doanh
nghiệp phải có hiểu biết sâu sác về thị trường quốc tế, những hiểu biết này chỉ
có được thông qua nghiên cứu, tìm hiều thực tế, từ đó phát hiện ra những cơ
hội kinh doanh. Những cơ hội này chính là sự chênh lệch giá cả giữa hai thị
trường, nếu giá cả trong nước thấp hơn ta có hoạt động xuất khẩu và ngược lại
ta có hoạt động nhập khẩu. Những doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
thông qua các hợp đồng gia công quốc tế thì nhập khẩu là nguồn dưỡng khí
của doanh nghiệp. Hầu hết các nguyên liệu chính phục vụ cho quá trình gia
công đều được thông qua quá trình nhập khẩu từ đối tác. Hoạt động của các
doanh nghiệp này phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu, nếu không có nguyên
liệu nhập khẩu thì sẽ không có hàng xuất khẩu.
Nhận thức được những vai trò to lớn của nhập khẩu không chỉ đối với
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này mà còn đối với cả nền kinh tế
quốc dân hiện nay mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng đến hoạt
động xuất nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu thiết bị, dây chuyền công nghệ
tiên tiến phục vụ cho sản xuất và cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
1.2 Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu hàng hoá trong các doanh nghiệp

FAS: giao dọc mạn tàu
FOB: giao qua lan can tàu
CFR: tên hàng và cước
CIP: cước phí bảo hiểm trả tới
CPT: cước trả tới
DAP: giao tại biên giới
DES: giao tại tàu
DEQ: giao tại cầu cảng
DDU: giao tại đích chưa nộp thuế
DDP: giao tại đích đã nộp thuế
Ứng với mỗi điều kiện cơ sở giao hàng là một điều kiện về giá. Tuy
nhiên do điều kiện kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương của chúng ta
nên trong quá trình xuất nhập khẩu chúng ta thường sử dụng các loại giá:
Giá FOB: giá giao tính đến khi hàng được xếp lên phương tiện vận
chuyển tại cảng xuất. Theo điều kiện giá này người mua phải chịu trách
nhiệm thuê tàu, chịu chi phí vận chuyển, bảo hiểm, mọi rủi ro từ khi hàng đã
qua khỏi lan can tàu đi ở cảng. Người bán có trách nhiệm giao hàng lên tàu do
người mua chỉ định, thông báo cho người mua, cung cấp các chứng từ cần
thiết. Đây là điều kiện mà các công ty xuất nhập khẩu Việt Nam thường sử
dụng khi xuất khẩu hàng hóa.
6


Giá CIF: bao gồm giá FOB + chi phí bảo hiểm + cước phí vận tải. Theo
điều kiện này bên bán phải thuê tàu mua bảo hiểm cho hàng hóa ở mức tối
thiểu, rủi ro về hàng hóa vận chuyển giao tại cảng nhận.
Giá CFR: bao gồm tiền hàng và cước phí vận chuyển.
Giá DAF: giá hàng giao tại biên giới đối với mọi loại hình vận tải. Do
những yếu kém còn tồn tại cùng với tư tưởng cầu toàn sợ rủi ro nên trong
nghiệp vụ xuất nhập khẩu việc lựa chọn các điều kiện giao hàng của chúng ta

phải tự tìm bạn hàng, nguồn hàng, tổ chức giao dịch ký kết và thực hiện hợp
đồng trên cơ sở tuân thủ chính sách chế độ kinh tế của Nhà nước. Đối với số
ngoại tệ thu được từ tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu doanh nghiệp không phải
nộp vào quỹ ngoại tệ tập trung mà có thể bán ở trung tâm giao dịch ngoại tệ
hoặc ngân hàng. Nhập khẩu theo phương thức này tạo cho các doanh nghiệp
điều kiện để phát huy sự năng động sáng tạo và độc lập trong hạch toán kinh
doanh phù hợp với cơ chế thị trường.
1.2.3. Các hình thức nhập khẩu
Hiện nay họat động nhập khẩu thường được thực hiện theo các hình
thức sau:
Hình thức nhập khẩu trực tiếp.
Hình thức nhập khẩu ủy thác.
1.2.3.1. Hình thức nhập khẩu trực tiếp:
Là hình thức mà các doanh nghiệp trong nước có đủ điều kiện về tài
chính, điều kiện nhân lực , điều kiện địa lý có khả năng mua hàng nhập khẩu
và được nhà nước, bộ thương mại cấp giấy phép, cho phép trực tiếp giao dịch,
kí kết các hợp đồng về nhập khẩu hàng hóa với nước ngoài và thanh toán
bằng ngoại tệ (chủ yếu là các ngoại tệ mạnh). Để nhằm phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng và phương trình kinh tế địa phương theo chính sách của Nhà nước.
1.2.3.2. Hình thức nhập khẩu ủy thác.
Là hình thức nhập khẩu được áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhu
cầu nhập khẩu hàng hóa nhưng không có khả năng điều kiện hoặc chưa được
Nhà nước nhập khẩu trực tiếp nên phải nhờ doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp
nhập khẩu hộ. Theo hình thức này doanh nghiệp ủy thác được phép hạch toán
trị giá hàng nhập khẩu và có trách nhiệm thanh toán chi phi nhập khẩu cho
bên nhận ủy thác. Còn bên nhận ủy thác đóng vai trò là đại lý mua hưởng hoa
hồng theo thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác mà hai bên đã kí kết. Đơn vị
nhận ủy thác có trách nhiệm nhập hàng về theo đúng số lượng , chất lượng,
mẫu mã được yêu cầu.
Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức nào là tùy thuộc vào điều kiện cụ

Sơ đồ phương thức thanh toán chuyển tiền

Ngân hàng phục vụ
người nhập khẩu

Người nhập khẩu

(4)

Ngân hàng phục vụ
người xuất khẩu

9


(2) (3)
(2)

(5)
(3)

Người xuất khẩu

(1)

(1) Người xuất khẩu sau khi kí hợp đồng xuất khẩu với phương thức thanh
toán chuyển tiền sẽ giao hàng cùng bộ chứng từ cho người nhập khẩu.
(2) Người nhập khẩu sau khi nhận hàng một thời gian nhất định quy định
trong hợp đồng sẽ liên hệ với ngân hàng phục vụ mình để nhờ chuyển trả tiền
cho người xuất khẩu.

người nhập khẩu

Ngân hàng phục vụ
người xuất khẩu

(6)

(5) (4)

(7)

(5) nhập
(4)khẩu
Người

(1)

(2)

Người xuất (7)
khẩu (2)

(1) Người xuất khẩu sau khi kí hợp đồng, trong đó quy định phương thức
thanh toán là nhờ thu kèm chứng từ sẽ giao hàng không kèm theo chứng từ
cho người nhập khẩu.
(2) Người, xuất khẩu chuyển hối phiếu cùng với bộ chứng từ cho ngân hàng
phục vụ mình uỷ thác thu.
(3) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu chuyển hối phiếu kèm chứng từ cho
ngân hàng phục vụ người nhập khẩu để nhờ thu.
(4) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển hối phiếu và bộ chứng từ cho


(5)

(3)


Người nhập khẩu

Người xuất khẩu

(4)

(1) người nhập khẩu làm đơn xin mở L/C và gửi cho ngân hàng mở L/C yêu
cầu mở L/C cho người xuất khẩu hưởng.
(2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C và
chuyển cho ngân hàng thông báo mở L/C.
(3) Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho
người xuất khẩu toàn bộ nội dung của thông báo về việc mở L/C và khi nhận
được bản gốc L/C thì chuyển ngay cho người xuất khẩu.
(4) Người bán nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, ngược lại thì đề
nghị người mua và ngân hàng mở L/C sửa đổi và bổ xung L/C cho phù hợp
với hợp đồng mới giao hàng.
(5) Sau khi giao hàng, người bán lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C xuất
trình cho ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng thông báo để đòi tiền.
(6) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp với L/C thì trả tiền
cho người bán, nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ
chứng từ cho người xuất khẩu.
(7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ hàng
hoá cho người nhập khẩu.
(8) Người mua kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thì hoàn trả tiền

Là một tờ lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho một
người khác, yêu cầu người này khi nhận được nó phải trả ngay hoặc phải trả
vào một thời gian xác định trong tương lai một số tiền nhất định cho một
người nào đó có tên trên hối phiếu hoặc theo lệnh của người này trả cho một
người khác hoặc trả cho người cầm hối phiếu.
1.3 Những quy định đối với hàng nhập khẩu
1.3.1 Yêu cầu quản lý đối với hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là hoạt động tương đối phức tạp. Nó đòi hỏi các doanh
nghiệp có một tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có trình độ hiểu biết về nghiệp vụ
ngoại thương, tập quán kinh doanh quốc tế, luật pháp quốc tế ở một mức độ
nhất định. Trong điều kiện hiện nay, mức độ cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tương đối cao. Muốn hoạt động kinh
doand có hiệu qủa để đạt được các yêu cầu đề ra ở trên thì các doanh nghiệp
cần phải làm tốt các khâu quản lý.
Trong hoạt động nhập khẩu với những đặc thù riêng và vai trò quan
trọng của nó thì việc quản lý tốt các giai đoạn của quá trình nhập khẩu là rất
cần thiết. Muốn vậy phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Trước khi kí kết các hợp đồng nhập khẩu, các nhà quản lý doanh
nghiệp phải nắm bắt chính xác, kịp thời nhứng thông tin về nhu cầu của thị
13


trường, về tình hình cung cầu của các loại hàng hoá mà doanh nghiệp dự định
sẽ mua, phải hiểu rõ và nắm vững quy luật vận động của thị trường, đặc biệt
là về giá cả hàng hoá. Hơn nữa, các nhà quản lý còn phải quan tâm đến những
biến động khó lường của tỷ gía thị trường để có biện pháp ứng phó kịp thời,
nắm chắc các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng: tên hàng, số lượng, phẩm
chất, giá cả, thời hạn thanh toán…
Khi thực hiện hợp đồng cac doanh nghiệp phải luôn luôn bám sát các
điều khoản của hợp đồng, tuân thủ chặt chẽ mọi điều khoản nhưng vẫn bảo

công tác hạch toán kế toán và thống kê. Theo thông lệ chung và nguyên tắc kế
toán được thừa nhận thì thời điểm xác định là hàng nhập khẩu là khi chủ hàng
có quyền sở hữu cho khách hàng, khách hàng đã thanh toán và chấp nhận
thanh toán. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc rất lớn vào phương thức bán
hàng và địa điểm giao nhận hàng hoá cụ thể như sau:
Nếu hàng chấp nhận vận chuyển bằng đường biển thì hàng nhập khẩu
tính từ ngày hàng hoá đến hải phận nước nhập, hải quan cảng biển đã kí xác
nhận vào tờ khai hàng nhập.
Nếu hàng hoá nhập khẩu được vận chuyển bằng đường sắt hoặc đường
bộ thì hàng nhập khẩu được tính từ ngày hàng hoá đến ga, trạm biên giới
nước nhập theo xác nhận của hải quan cửa khẩu.
Nếu hàng nhập khẩu vận chuyển bằng đường hàng không thì hàng hoá
nhập khẩu được tính từ ngày hàng hoá đến sân bay đầu tiên của nước nhập
theo xác nhận của hải quan sân bay đã hoàn thành thủ tục hải quan.
1.3.3 Những quy định về thuế quan đối với hàng nhập khẩu
Khi hàng hoá về đến cảng thì người nhập khẩu phải làm các thủ tục hải
quan như sau: Tiếp nhận và kê khai hàng hoá nhập khẩu trên cơ sở tính các
loại thuế phải nộp.
Số thuế phải nộp được tính theo công thức:
Số thuế nhập khẩu = số lượng từng mặt hàng x giá tính thuế của từng mặt
hàng x thuế xuất từng mặt hàng.
Giá tính thuế là giá CIF. Các lô hàng nhập khẩu dùng giá trị khác nhau
như giá FOB, CF…phải quy đổi sang giá CIF để tính thuế.
Hàng nhập khẩu có giá trị hợp đồng là ngoại tệ nên khi tính thuế trị giá
phải quy đổi ra tiền VIệt Nam theo tỷ giá hải quan quy định (thường là tỷ giá
do ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm đăng kí tờ khai hàng
hoá). Tỷ giá này là không đổi kể từ khi ấn định trên tờ khai hải quan đến khi
nộp thuế là 30 hay 60 ngày và có sụ biến động của tỷ giá trên thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng.
Số thuế GTGT của hàng nhập khẩu được xác định theo công thức:

doanh của doanh nghiệp, kế toán hoạt động nhập khẩu sẽ cung cấp các thông
tin đầy đủ về việc thanh toán với các bên nhập khẩu và những thông tin về
tình hình thanh toán trong tiêu thụ hàng nhập khẩu để tránh doanh nghiệp bị
phạt do chậm thanh toán cũng như tránh bị các doanh nghiệp khác chiếm
dụng vốn.
Kiểm tra tình hình doanh thu và chi phí: Giúp doanh nghiệp sử dụng
tiết kiệm các loại vật tư tiền vốn trong quá trình nhập khẩu. Trong cơ chế kinh
tế mới, các doanh nghiệp phải tự chủ về tài chính, các hoạt động của doanh
nghiệp phải đảm bảo thu bù chi và có lãi. Chỉ thế mới có thể tồn tại trên

16


thương trường. Điều này đỏi hỏi các doanh nghiệp phải hạch toán đầy đủ và
chính xác doanh thu và các chi phí trong quá trình nhập khẩu.
Cung cấp số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động kinh doanh
nhập khẩu, kiểm tra, phân tích hoạt động kinh tế tài chính phục vụ công tác
lập kế hoạch và theo dõi việc thực hiện kế hoạch kì sau.
1.4.2. Chứng từ sử dụng
Xuất phát từ những đặc điểm của hoạt động nhập khẩu hàng hoá và căn
cứ vào hệ thống chứng từ bộ Tài chính ban hành, tập quán thương mại quốc
tế,…trong hoạt động nhập khẩu thường sử dụng các loại chứng từ chủ yếu
sau:
Hoá đơn thương mại: là chứng từ cơ bản của khâu hạch toán, là yêu
cầu cảu người bán đòi hỏi người mua phải trả số tiền ghi trên hoá đơn. Hoá
đơn thương mại là cơ sở cho việc theo dõi, thực hiện hợp đồng và khai báo
thủ tục hải quan. Hoá đơn thương mại nói rõ đặc điểm của hàng hoá, đơn giá,
tổng giá trị của hàng hoá, điều kiện cơ sở giao hàng, phương thức thanh toán
và phương tiện để chuyên chở. Hoá đơn thương mại thường lập làm nhiều bản
và dùng trong nhiều việc khác nhau như xuất trình cho ngân hàng để đòi tiền

thuận của các bên trong một hợp đồng xuất nhập khẩu.
Giấy chứng nhận phẩm chất: Là chứng từ xác nhận chất lượng của
hàng hoá thực được giao, nó là bằng chứng chứng minh phẩm chất hàng hoá
phù hợp với hợp đồng. Giấy chứng nhận phẩm chất có hể do xưởng hoặc xí
nghiệp sản xuất hàng hoá hoặc cơ quan kiểm nghiệm cấp tuỳ theo điều kiện
giao hàng hay thoả thuận giữa các bên liên quan.
Giấy chứng nhận xuất xứ: là chứng từ do phòng thương mại cấp để xác
định nơi sản xuất hoặc khai thác đối với hàng hoá.
Giấy chứng nhận về vệ sinh: Do cơ quan có thẩm quyền kiểm tra chất
lượng hàng hoá hoặc y tế cấp cho chủ hàng sau khi đã kiểm tra hàng hóa và
không phát hiện ra những tác nhân gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của người
sử dụng.
Bảng kê chi phí đóng gói: là bảng kê khai tất cả hàng hoá đựng trong
kiện hàng. Phiếu đóng gói được lập ngay khi đóng gói hàng hoá tạo điều kiện
kiểm tra hàng hoá trong mỗi kiện hàng.
Ngoài ra có thể còn một số chứng từ khác trong bộ chứng từ. Tuỳ theo
yêu cầu của các bên đã kí kết trong hợp đồngxnk. Bộ chứng từ này bao gồm
rất nhiều chứng từ nhằm phục vụ cho các nghiệp vụ giao, nhận hàng hoá.
Trong thực tế kế toán viên chỉ sử dụng một số chứng từ trong số đó phục vụ
cho nghiệp vụ hạch toán ban đầu.
Ngoài ra những chứng từ trong bộ chứng từ giao nhận hàng, kế toán
hoạt động nhập khẩu hàng hoá còn sử dụng những chứng từ khác trong hạch
toán ban đầu
Phiếu nhập kho
18


Hoá đơn kiêm phiếu xuất nhập khẩu
Bảng kê tính thuế
Biên lai nộp thuế


19


Số dư bên nợ: phản ánh trị giá hàng hoá nhập khẩu chưa về nhập kho cuối
tháng
Tài khoản 156: hàng hoá
Tài khoản này phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động hàng hoá
nhập khẩu đã nhập kho của doanh nghiệp kết cấu của tài khoản.
Bên nợ:
Trị giá hàng nhập khẩu đã nhập kho
Thuế nhập khẩu của số hàng đã nhập kho
Chi phí vận chuyển, bốc dỡ hàng nhập khẩu đã nhập kho
Trị giá hàng thừa phát hiện trong quá trình nhập kho
Bên có:
Trị giá thực tế của hàng hoá nhập khẩu xuất kho để bán, giao đại lý ký
gửi, thuê ngoài gia công hoặc sử dụng trong doanh nghiệp
Chi phí thu mua phân bổ cho hàng nhập khẩu đã tiêu thụ trong định kì
Chiết khấu mua hàng nhập khẩu được hưởng, giảm giá hàng nhập khẩu
được hưởng
Trị giá hàng nhập khẩu trả lại sau khi đã nhập kho do hư hỏng, mất
phẩm chất.
Trị giá hàng hoá nhập khẩu bị phát hiện thiếu hụt trong kho
Số dư bên nợ:
Trị giá hàng hoá nhập khẩu còn tồn kho cuối kỳ
Chi phí mua hàng phân bổ cho hàng nhập khẩu chưa được tiêu thụ cuối
kỳ.
Tài khoản 112 (1122): tiền gửi ngân hàng
Dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động của các khoản tiền
gửi của doanh nghiệp tại ngân hàng, tại kho bạc Nhà nước hoặc công ty tài

- Nguyên tắc 1: Các đơn vị phải tiến hành hạch toán các nghiệp vụ kinh
tế liên quan đến hoạt động nhập khẩu thanh toán bằng ngoại tệ theo tỷ giá
thực tế do liên ngân hàng công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.

21


- Nguyên tắc 2: Đồng thời với việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế liên
quan đến hoạt động nhập khẩu thanh toán bằng ngoại tệ ra VNĐ theo tỷ giá
thực tế thì phải theo dõi nguyên tệ chi tiết ngoài hệ thống sổ ghi kép (Tài
khoản ngoài bảng - 007) để biết số ngoại tệ biến động trong kỳ và còn lại ở
mọi thời điểm.
- Nguyên tắc 3: Nếu đơn vị có phát sinh lớn về các giao dịch ngoại tệ
nhập khẩu thì có thể sử dụng tỷ giá hạch toán để quy đổi về VNĐ để ghi chép
kịp thời, thuận tiện các giao dịch kinh tế, cuối kỳ phải điều chỉnh về tỷ giá
thực tế được công bố vào ngày cuối kỳ.
- Nguyên tắc 4: Các công nợ phải thu, phải trả người bán có gốc ngoai
tệ thì phải hạch toán rành mạch về nợ bằng nguyên tệ và quy đổi về VNĐ
theo nguyên tắc 1 và 3.
- Nguyên tắc 5: Các tài khoản có gốc ngoai tệ còn dư như TK 331,
TK111, TK 112 , ngoại tệ phải được điều chỉnh về tỷ giá thực tế cuối kỳ kế
toán . Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ và chênh lệch đánh giá lại cuối kỳ
của các tài khoản công nợ và vốn bằng tiền được xử lý như sau:
+ Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ được đưa vào thu nhập hoặc chi
phí hoạt động tài chính
+ Chênh lệch tỷ giá ngoại tệ đánh giá lại cuối kỳ được treo trên bảng cân
đối kế toán ở TK 413
1.4.4.2. Nguyên tắc xác định giá hàng nhập khẩu
Hàng hoá trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được phản ánh trên
tài khoản kế toán và trên báo cáo kế toán theo trị giá vốn thực tế, nghĩa là toàn

*Trong đó:Giá mua thực tế bằng ngoại tệ: Mua theo giá nào ghi theo giá
đó và quy ra VNĐ theo tỷ giá khoán (nếu nhập khẩu theo nghị định thư), theo
giá thực tế liên ngân hàng công bố (nếu nhập khẩu ngoài nghị định thư). ở
Việt Nam hiện nay giá hàng hoá xuất nhập khẩu thường áp dụng hai loại giá
chủ yếu là giá CIF hoặc giá FOB và trong hoạt động nhập khẩu, thường thì
giá CIF hay được sử dụng hơn.
Giá FOB là giá của hàng hoá được giao tại cảng, sân bay hoặc biên giới
nước xuất khẩu (nước bán)
Giá
FOB

=

Giá mua thực tế
hàng xuất khẩu

+

Chi phí vân chuyển bốc dỡ tới cảng
biên giới của nước xuẩt khẩu

Giá CIF là giá của hàng hoá được giao tại cảng, sân bay hoặc biên giới
nước nhập khẩu (nước mua )

Giá
CIF

=

Giá thực tế hàng

x

Thuế
suất

Lưu ý: Nếu giá hàng NK trên hợp đồng thấp hơn giá tối thiểu thì sử dụng
đơn giá tối thiểu do Nhà nước quy định Thuế TTĐB (nếu có)
thuế
=
TTĐB

Số lượng hàng x
nhập khẩu

Giá tính thuế
nhập khẩu

23

+

Thuế
NK

Thuế

x suất


*Thuế GTGT của hàng nhập khẩu:

nghiệp, hoặc sản xuất những mặt hàng thuộc diện chịu thuế
GTGT thì thuế GTGT của hàng nhập khẩu được tính vào giá thực
tế của hàng NK.
ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chủ yếu mua hàng
nhập khẩu theo giá CIF.
1.4.4.3. Kế toán hoạt động nhập khẩu trực tiếp
*Theo phương pháp kê khai thường xuyên
Sau khi kí kết hợp đồng nhập khẩu hàng hoá doanh nghiệp làm thủ tục
mở L/C tại ngân hàng do bên bán chỉ định. Doanh nghiệp tiến hành kí quỹ để
mở L/C
Nợ TK 144: tổng số tiền kí quỹ
Có TK 111 (1122), 112 (1122): số tiền kí quỹ
Có TK 311: số tiền vay ngắn hạn để ký quỹ
Đồng thời ghi có tài khoản 007: số nguyên tệ đã ký quỹ
Khi nhận được thông báo hàng về đến địa điểm giao nhận và làm thủ
tục hải quan, kế toán phương án hàng phụ thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp.
Nợ TK 151 : trị giá hàng nhập khẩu (theo tỷ giá thực tế)
Có TK 331: phải trả người bán
Khi kê khai thuế nhập khẩu kế toán ghi:
Nợ TK 151:
số thuế phải nộp
Có TK 333
24


Nếu hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trong khâu
nhập khẩu, khi kê khai thuế tiêu thụ đặc biệt kế toán ghi.
Nợ TK 151: thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp
Có TK 3332

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status