BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG
KINH TẾ ASEAN (AEC) VÀ KHUYẾN NGHỊ
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
VŨ PHƯƠNG QUỲNH
Hà Nội - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG
KINH TẾ ASEAN (AEC) VÀ KHUYẾN NGHỊ
Ngành: Tài chính - Ngân hàng - Bảo hiểm
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 8340201
HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN: VŨ PHƯƠNG QUỲNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN NGỌC HÀ
CHƯƠNG 1: DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VÀ CAM KẾT HỘI NHẬP TRONG
CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC) ...............................................................8
1.1. Những vấn đề cơ bản về dịch vụ tài chính ....................................................8
1.1.1. Khái niệm của dịch vụ tài chính .................................................................8
1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ tài chính ...................................................................9
1.1.3. Phân loại dịch vụ tài chính ........................................................................11
1.1.4. Vai trò của dịch vụ tài chính .....................................................................12
1.1.5. Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến dịch vụ tài chính ............................14
1.2. Khái quát về Cộng đồng Kinh tế ASEAN ...................................................18
1.2.1. Quá trình hình thành .................................................................................18
1.2.2. Mục tiêu của Cộng đồng Kinh tế ASEAN ................................................20
1.2.3. Bản chất của Cộng đồng Kinh tế ASEAN ................................................27
1.3. Cam kết hội nhập lĩnh vực tài chính trong AEC .......................................28
1.3.1. Khuôn khổ hội nhập tài chính ASEAN ....................................................28
1.3.2. Lộ trình hội nhập tài chính ASEAN .........................................................29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỘI NHẬP DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CỦA VIỆT
NAM TRONG KHUÔN KHỔ AEC ......................................................................33
2.1. Cam kết của Việt Nam về dịch vụ tài chính trong bối cảnh hội nhập AEC
................................................................................................................................33
2.1.1. Cam kết chung của Việt Nam về mở cửa thị trường dịch vụ ...................33
2.1.2. Cam kết của Việt Nam về dịch vụ tài chính .............................................37
2.2. Thực trạng thực hiện cam kết về dịch vụ tài chính của Việt Nam trong
AEC .......................................................................................................................41
2.2.1. Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động tài chính trong tương quan với
các cam kết AEC .................................................................................................41
iii
2.2.2. Thực trạng hội nhập của dịch vụ tài chính Việt Nam trong AEC ............42
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ASEAN
Association of South East Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
AEC
ASEAN Economic Community
Cộng đồng Kinh tế ASEAN
AFAS
ASEAN Framework Agreement
on Services
Hiệp định khung ASEAN về
dịch vụ
có hiệu lực chung
GATS
General Agreement on Trade in
Services
Hiệp định chung về thương mại
dịch vụ
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTW
Ngân hàng trung ương
SMEs
của AFAS cao hơn cam kết trong WTO
Bảng 2.2. Các lĩnh vực bảo hiểm và quốc gia thành viên AEC cam kết tự
43
do hóa
Bảng 2.3. Hình thức hiện diện của các NHTM Việt Nam tại ASEAN
49
(tính đến hết năm 2017)
Bảng 2.4. Quy mô vốn điều lệ một số ngân hàng khu vực Đông Nam Á
62
iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 1. Bốn trụ cột của Cộng đồng Kinh tế ASEAN
20
Biểu đồ 1. Tốc độ tăng trưởng của thị trường bảo hiểm Việt Nam
45
giai đoạn 2011 – 2017
Biểu đồ 2. Vốn điều lệ các ngân hàng 100% vốn nước ngoài ở Việt
Nam tính đến hết năm 2016
của Việt Nam về hội nhập tài chính trong AEC.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of South East Asian Nations,
sau đây viết tắt là ASEAN) được thành lập vào ngày 08/08/1967, hiện tại gồm 10
quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam. Sau hơn 50 năm thành lập và phát triển,
ASEAN đã thể hiện là một tổ chức liên kết khu vực thành công, thúc đẩy sự phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong khu vực và quốc tế. Quyết tâm xây dựng Cộng
đồng ASEAN vào năm 2015, gồm ba trụ cột chính là Cộng đồng Chính trị - An
ninh, Cộng đồng Văn hóa – Xã hội và Cộng đồng Kinh tế thể hiện bước tiến mới
trong quá trình hợp tác của các nước ASEAN. Cộng đồng Kinh tế ASEAN
(ASEAN Economic Community, sau đây viết tắt là AEC) là một trụ cột quan trọng
đã đạt được nhiều thành tựu so với hai trụ cột còn lại. AEC được xây dựng dựa trên
những tiền đề lý luận và thực tiễn vững chắc, là cơ sở để các quốc gia ASEAN đẩy
mạnh hợp tác kinh tế cả về bề rộng lẫn chiều sâu, từ đó tạo ra một khu vực kinh tế
ASEAN ổn định, thịnh vượng, có khả năng cạnh tranh cao, hàng hóa, dịch vụ và
đầu tư được lưu chuyển thông thoáng, kinh tế phát triển đồng đều, nghèo đói và
phân hóa kinh tế - xã hội giảm bớt, hướng tới hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn
cầu.
Thực hiện các cam kết trong AEC hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích đối với các
quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam về thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư
dựa trên lợi thế không gian của một thị trường mở và nâng cao tính cạnh tranh trên
nền tảng một cơ sở sản xuất thống nhất. Trong khi lợi ích của hội nhập thương mại
có thể dễ dàng nhận thấy thì lại không có nhiều bằng chứng cụ thể về lợi ích của hội
nhập tài chính. Về lý thuyết, hội nhập tài chính có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
cao hơn, tạo điều kiện cho thương mại và đầu tư nội khối và tăng cường sự ổn định
tài chính hơn nữa. Thực tế cho thấy, hội nhập tài chính giữa các nước thành viên
Law and Regulatory Practice, vol. 1999-2000, tr. 181-200; Rebecca H. Laird,
“Banking and Financial Services”, Developments in Administrative Law and
Regulatory Practice, vol. 2000-2001, tr. 155-172; Walter Douglas Stuber et al.,
“International Financial Services”, International Lawyer, 2003, vol. 37, no. 2, tr.
359-388…
Về hội nhập trong lĩnh vực tài chính, có thể kể đến các nghiên cứu của: Allen
N. Berger, “The integration of the financial services industry: where are the
3
efficiencies?”, FEDS Paper no. 2000-36, 2000, 30 tr.; Mamiko Yokoi-Arai &
Masamichi Kono, “Dissecting Regional Integration in Financial Services from the
Competition Policy and Trade Policy Perspectives”, BIS Paper no. 42, 2009, 58 tr.;
Joseph J. Norton, “An interim filling the gap in multilateral, regional and domestic
hard law deficiencies, respecting financial services intergration within the
Americas”, Law and Business Review of the Americas, 2006, vol. 12, no. 2, tr. 331…
Về AEC, có thể kể đến các nghiên cứu của: Edmund W. Sim, “The
outsourcing of legal norms and institutions by the ASEAN Economic Community”,
Indonesian Journal of International & Comparative Law, 2014, vol. 1, no. 1, tr.
314-vi; Bambang Santoso et al., “The ASEAN Economic Community (AEC)
Reification Pitfall, Forest Fire and Deep Ecology”, Journal of Law, Policy and
Globalization, 2017, vol. 57, pp. 22-29; Jing Jia Ke, “Moving towards ASEAN
Economic Community: A New Era Starting from the ATIGA”, Global Trade and
Customs Journal, 2014, vol. 9, no. 9, tr. 415-426…
Ngoài ra, cũng đã có một số bài viết về hội nhập tài chính trong khuôn khổ
ASEAN, như: Hector Danny D. Uy, “ASEAN’s Legal Frameword on Financial
Intergration”, Philippine Law Journal, 2015, vol. 89, no. 2, tr. 231-264; Vivien
Chien, Andrew Godwin & Ian Ramsay, “Cross-Border Cooperation in Bank
Resolution: A Framework for Asia”, Singapore Journal of Legal Studies, 2016, no.
1, tr. 1-28; Andrew D. Mitchell & Ana Maria Palacio, “Coordination in the Asian
AEC, đó là: Phan Phương Nam, “Tác động của AEC đến pháp luật tài chính của
Việt Nam”, trong Trường Đại học Luật tp. Hồ Chí Minh, Các thể chế pháp lý của
Cộng đồng Kinh tế ASEAN: Tác động đối với pháp luật thương mại và đầu tư Việt
Nam, Kỷ yếu hội thảo quốc tế, 2016, KPV920.C33, tr. 391-406; Ban Tài chính quốc
tế và chính sách hội nhập, “Thị trường tài chính Việt Nam và cơ hội từ AEC”, Tạp
chí Tài chính, 2015, no. 606, tr. 16-19.
Các nghiên cứu về dịch vụ tài chính trong AEC chủ yếu tập trung làm rõ tác
động của AEC tới thị trường cũng như tới thể chế pháp luật về tài chính của Việt
Nam. Nhiều vấn đề cụ thể liên quan đến đề tài còn chưa được nghiên cứu sâu, như
hội nhập trong từng lĩnh vực cụ thể của dịch vụ tài chính (ngân hàng, bảo hiểm,
chứng khoán); việc thực thi các cam kết về dịch vụ tài chính của Việt Nam trong
5
ASEAN; các cơ hội, thách thức từ việc hội nhập tài chính trong AEC đối với Việt
Nam… Do đó, đề tài luận văn này sẽ hướng tới giải quyết các vấn đề còn bỏ ngỏ
nêu trên.
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu về các cam kết của Việt Nam về dịch vụ tài chính trong
AEC, luận văn phân tích, đánh giá tác động của việc thực thi cam kết đối với kinh
tế, xã hội Việt Nam, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm tối ưu
hóa những tác động tích cực, giảm thiểu những tác động tiêu cực của hội nhập tài
chính, cũng như thực hiện hiệu quả theo mục tiêu và lộ trình đã cam kết.
Để thực hiện mục tiêu này, đề tài có một số nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Làm rõ cơ sở lý thuyết về dịch vụ tài chính, về AEC và cam kết hội nhập lĩnh
vực tài chính trong AEC;
- Phân tích thực trạng hội nhập dịch vụ tài chính của Việt Nam trong khuôn
khổ AEC, trong đó, nhấn mạnh đến phân tích nội dung các cam kết và việc thực thi
các cam kết đó của Việt Nam để rút ra các đánh giá về thành công và hạn chế;
- Phân tích các cơ hội, thách thức đối với lĩnh vực tài chính Việt Nam trong
6. Những đóng góp mới của đề tài
Luận văn có một số đóng góp mới như sau:
- Làm rõ phạm vi, mức độ cam kết của Việt Nam về dịch vụ tài chính trong
AEC.
- Chỉ rõ những tác động của việc thực hiện các cam kết về dịch vụ tài chính
của Việt Nam trong AEC.
- Đưa ra một số khuyến nghị để Việt Nam có thể phát huy những tác động tích
cực, hạn chế tác động tiêu cực khi triển khai thực hiện các cam kết về dịch vụ tài
chính trong AEC.
7. Bố cục của luận văn
7
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Dịch vụ tài chính và cam kết hội nhập trong Cộng đồng Kinh tế
ASEAN (AEC).
Chương 2: Thực trạng hội nhập dịch vụ tài chính của Việt Nam trong khuôn
khổ AEC
Chương 3: Khuyến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện các cam kết của Việt
Nam về dịch vụ tài chính trong bối cảnh hội nhập AEC
8
CHƯƠNG 1:
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VÀ CAM KẾT HỘI NHẬP TRONG
CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC)
1.1. Những vấn đề cơ bản về dịch vụ tài chính
1.1.1. Khái niệm của dịch vụ tài chính
Dịch vụ tài chính được xem là một hệ thống cấu thành của loại hình dịch vụ
9
khoán…”.5 Tuy nhiên, một định nghĩa đầy đủ trong các văn bản pháp quy liên quan
đến các hoạt động tài chính thì chưa được công bố chính thức mà chỉ được đề cập
tản mạt trong các luật về ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…
Về phương diện nghiên cứu hiện nay, có quan điểm cho rằng: “Thị trường
dịch vụ tài chính là một bộ phận của thị trường tài chính nơi diễn ra các hoạt động
giao dịch tạo ra sự luân chuyển các dòng tài chính trong nền kinh tế”.6
Như vậy, có thể thấy khái niệm dịch vụ tài chính được xây dựng trên cơ sở
phân tích quá trình vận động của dòng tài chính trong nền sản xuất xã hội, từ người
cung tài chính đến người cầu tài chính. Theo đó, dịch vụ tài chính là một bộ phận
của thị trường dịch vụ trong nền kinh tế nơi cung cấp các sản phẩm tài chính nhằm
đáp ứng lợi ích tài chính cho khách hàng, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội.
1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ tài chính
1.1.2.1. Dịch vụ tài chính mang đặc điểm chung của dịch vụ
Thứ nhất, dịch vụ tài chính cung cấp những sản phẩm vô hình, khó đánh giá
được chất lượng cụ thể. Đây là đặc điểm phân biệt cơ bản với các sản phẩm của các
ngành sản xuất vật chất.
Thứ hai, tính không thể tách biệt hay không chia cắt: phát sinh do quá trình
cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời và không có sản phẩm dở
dang, dự trữ lưu kho. Sản phẩm tài chính được cung cấp trực tiếp cho khách hàng
khi có nhu cầu và đáp ứng được những điều kiện quy định của doanh nghiệp tài
chính.
Thứ ba, tính không ổn định và khó xác định: vì một sản phẩm dịch vụ tài
chính dù lớn hay nhỏ về quy mô đều đồng nhất về thời gian, cách thức, điều kiện
thực hiện vì vậy rất khó xác định. Mặt khác, chất lượng của sản phẩm dịch vụ tài
chính được cấu thành bởi nhiều yếu tố như uy tín của doanh nghiệp cung cấp, công
Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội 2001-2010 (Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng).
đó có nhiều thuận lợi để phát triển dịch vụ tài chính.
(iii) Ngành dịch vụ tài chính bao gồm nhiều phân ngành nhỏ như dịch vụ bảo
hiểm, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ chứng khoán… Mỗi phân ngành của ngành dịch
vụ tài chính đều có nguồn luật điều chỉnh riêng. Do vậy, có thể thấy dịch vụ tài
chính có hệ thống các nguồn luật điều chỉnh rất đa dạng, phức tạp.
11
1.1.3. Phân loại dịch vụ tài chính
Các dịch vụ tài chính trong Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)
bao gồm các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng khoán, dịch vụ ngân hàng và các dịch
vụ tài chính khác, cụ thể7:
- Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan tới bảo hiểm:
+ Các loại hình bảo hiểm trực tiếp: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ;
+ Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
+ Trung gian bảo hiểm: môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm;
+ Các dịch vụ phụ trợ liên quan tới bảo hiểm như dịch vụ tư vấn, thống kê,
đánh giá xác suất rủi ro, giải quyết tranh chấp.
- Dịch vụ chứng khoán và các dịch vụ liên quan tới chứng khoán:
+ Dịch vụ môi giới chứng khoán;
+ Dịch vụ lưu ký chứng khoán: lưu giữ, bảo quản chứng khoán;
+ Dịch vụ tư vấn chứng khoán: tư vấn phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư
chứng khoán…;
+ Dịch vụ tự doanh chứng khoán;
+ Dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán;
+ Dịch vụ quản lý chứng khoán: quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ đầu tư
chứng khoán…
- Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác:
+ Nhận các khoản ký gửi và các quỹ hoàn lại khác hay các khoản tiết kiệm từ
công chúng như: tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiết kiệm, trái phiếu;
ranh giới và sự khác biệt giữa các dịch vụ nêu trên có thể bị xóa mờ.
1.1.4. Vai trò của dịch vụ tài chính
Thứ nhất, thị trường dịch vụ tài chính góp phần tăng trưởng kinh tế.
Lịch sử thế giới đã chứng kiến sự bùng nổ của thời kỳ phát triển dịch vụ tài
chính tại các nước phát triển vào cuối thế kỷ XIX đến nay. Sự đa dạng của các sản
phẩm dịch vụ tài chính đã thúc đẩy quá trình chu chuyển vốn, từ đó không chỉ góp
13
phần đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp với các loại dịch vụ như dịch vụ
ngân hàng, dịch vụ chứng khoán, tham gia bảo toàn vốn với các dịch vụ bảo hiểm,
đáp ứng nhu cầu giao dịch thanh toán như các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng…
mà còn giải quyết nhu cầu đầu tư cho ngân sách quốc gia khi các doanh nghiệp tài
chính luôn là các khách hàng lớn với nhiều tiềm năng tham gia trên thị trường trái
phiếu chính phủ. Mặt khác, các thị trường dịch vụ tài chính còn là nơi mang lại
nguồn thu đáng kể cho ngân sách quốc gia. Ngoài ra, trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, nhiều nước đặt khu vực dịch vụ vào vị trí mũi nhọn trong chiến lược
phát triển, từ đó sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính sẽ góp phần đáng kể
vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng dịch vụ - công nghiệp –
nông nghiệp tương thích với nền kinh tế hiện đại và phát triển ngày nay.
Thứ hai, thị trường dịch vụ tài chính góp phần gia tăng tiện ích trong đời sống
xã hội.
Xã hội ngày càng phát triển, thu nhập của người dân được nâng cao nhu cầu
về quản lý tài sản cá nhân, bảo hiểm rủi ro cho sinh mạng và tài sản đã trở thành
một nhu cầu khách quan trong đời sống của công chúng. Từ đó, những dịch vụ
thanh toán, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ quản lý tài sản, các dòng sản phẩm của bảo
hiểm nhân thọ và phi nhân thọ… ngày càng được đa dạng hơn để đáp ứng yêu cầu
của người dân.
Để nâng cao tiện ích của các dịch vụ tài chính phục vụ cho nhu cầu xã hội
trong những thập niên vừa qua, những thành tựu khoa học công nghệ đã được ứng
dòng vốn đầu tư gián tiếp thông qua các dịch vụ chứng khoán. Từ đó, các dịch vụ
tài chính đã phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu khách hàng từ thanh toán, bảo
lãnh, đồng tài trợ, thuê mua đến hối đoái.
1.1.5. Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến dịch vụ tài chính
1.1.5.1. Các chủ thể tham gia trên thị trường dịch vụ tài chính
a. Đối với chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính
Cũng như các doanh nghiệp khác, các doanh nghiệp tài chính cũng phải cạnh
tranh với nhau qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp với các yếu tố như chất lượng
TS. Vũ Thị Minh Hằng, “Một số suy nghĩ về thuật ngữ thị trường dịch vụ tài chính”, 26/03/2009,
xem tại: https://luattaichinh.wordpress.com/ (truy cập ngày 10/01/2018).
8
15
sản phẩm, chủng loại, chất lượng phục vụ biểu hiện qua sự hài lòng của khách hàng.
Trong đó, vấn đề chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng. Chất lượng của một sản
phẩm dịch tài chính thể hiện ở khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trong
suốt quá trình sử dụng dịch vụ đó. Chất lượng của dịch vụ tài chính phụ thuộc vào
tiềm lực tài chính của chủ thể cung cấp thông qua việc đầu tư phát triển, nghiên
cứu, thiết kế sản phẩm mới, ứng dụng công nghệ hiện đại để tạo sự tiện ích cho
khách hàng, khả năng tiếp thị marketing về sản phẩm dịch vụ tài chính trên thị
trường.
Mặt khác, trong xu thế tự do hóa tài chính, trong những thập niên gần đây các
doanh nghiệp tài chính không những không giới hạn trong lĩnh vực cung cấp dịch
vụ truyền thống của mình mà còn được mở rộng trên cơ sở liên kết, hợp tác với các
đối thủ cạnh tranh tạo nên các dòng sản phẩm dịch vụ tài chính mới đưa đến sự hình
thành các tập đoàn tài chính đa năng.
b. Đối với chủ thể sử dụng các sản phẩm dịch vụ tài chính
Chất lượng của dịch vụ nói chung và dịch vụ tài chính nói riêng không chỉ phụ
thuộc vào bản thân dịch vụ mà còn phụ thuộc rất lớn vào sự đánh giá, sự hài lòng
1.1.5.3. Sự can thiệp của nhà nước đối với sự ổn định và phát triển của thị
trường dịch vụ tài chính
Sự tác động của nhà nước vào thị trường dịch vụ tài chính thể hiện ở ba mặt
cơ bản: (1) tạo môi trường pháp lý cho sự hình thành và hoạt động của thị trường
dịch vụ tài chính; (2) tạo môi trường kinh tế cho sự hình thành và phát triển của thị
trường dịch vụ tài chính; (3) giám sát hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính. Do
đó, sự can thiệp của nhà nước là rất cần thiết nhằm tạo môi trường kinh doanh lành
mạnh giảm thiểu những tiêu cực có thể phát sinh trong giao dịch tài chính mang lại
sự ổn định chung cho toàn thị trường.
Bên cạnh đó, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, nhà nước điều
hành hoạt động tài chính bằng những công cụ quản lý vĩ mô theo tín hiệu thị trường.
Vì vậy, những chính sách liên quan đến hoạt động tài chính – tiền tệ như lãi suất, tỉ
giá, thuế… đã được vận dụng linh hoạt tạo cơ chế kiểm soát các dòng vốn trên thị
trường này một cách hiệu quả.