Các phương thức giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CÁC PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG
HÓA - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

NGUYỄN PHƢƠNG QUỲNH

Hà Nội – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CÁC PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG
HÓA - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Ngành : Kinh doanh
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 8340101


hữu trí tuệ đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn.
Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Phương Quỳnh


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG
HÓA ............................................................................................................................7
1.1. Tổng quan về quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa ...............7
1.1.1. Khái quát về nhãn hiệu hàng hóa ........................................................7
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm ...................................................................7
1.1.1.2. Phân loại nhãn hiệu hàng hóa .....................................................13
1.1.2. Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ ......................................................15
1.1.3. Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa .......16
1.2. Tổng quan về các phương thức giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí
tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa ........................................................................19
1.2.1. Khái quát về tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng
hóa..................................................................................................................19
1.2.1.1. Khái niệm về tranh chấp ..............................................................19
1.2.1.2. Khái niệm về tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn

2.2.3.1. Những điểm đã đạt đƣợc..............................................................64
2.2.3.2 Hạn chế còn tồn tại ........................................................................66
2.2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế còn tồn tại .........................................72


CHƢƠNG III: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG
MỘT CÁCH HỢP LÝ CÁC PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA TẠI VIỆT
NAM .........................................................................................................................73
3.1. Định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật và áp dụng một cách hợp lý các
phương thức giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu
hàng hóa tại Việt Nam ......................................................................................73
3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và áp dụng một cách hợp lý các
phương thức giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu
hàng hóa tại Việt Nam ......................................................................................74
3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về các phương thức giải quyết
tranh chấp quyền SHTT đối với NHHH ..........................................................74
3.2.2. Nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động áp dụng một cách hợp lý
các phương thứ giải quyết tranh chấp quyền SHTT đối với NHHH ..............74
3.3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và áp dụng một cách hợp lý các
phương thức giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu
hàng hóa tại Việt Nam ......................................................................................75
3.3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam quy định về các phương thức
giải quyết tranh chấp quyền SHTT đối với NHHH .........................................75
3.3.2. Kiến nghị đẩy mạnh hoạt động áp dụng một cách hợp lý các phương
thức giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa
............................................................................................................................81
KẾT LUẬN ..............................................................................................................93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................96



LSHTT

Luật Sở hữu trí tuệ

5.

BLDS

Bộ Luật Dân sự

6.

LTM

Luật Thương mại

7.

BLTTDS

Bộ Luật Tố tụng dân sự


TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Nhãn hiệu ra đời xuất phát từ nhu cầu trao đổi hàng hóa của con người, không
chỉ để phục vụ cho nhu cầu của chính bản thân mình mà còn đủ để trao đổi với
người khác, thậm chí mở rộng hoạt động trao đổi ra khỏi giới hạn khu vực nơi mình
sinh sống. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền sản xuất hàng hóa trong giai
đoạn hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu trở lên nổi bật hơn cả trong hệ

chuỗi sáng tạo, dù là lớn hoặc nhỏ. Nhằm kích thích sự sáng tạo và đẩy mạnh việc
ứng dụng, khai thác thành quả của hoạt động sáng tạo, đóng góp cho sự thịnh vượng
chung của xã hội, một chế định quyền tài sản trí tuệ đã được tạo lập nhằm mục tiêu
chủ yếu là xác lập và bảo vệ quyền của đối tượng. Qua thời gian, tài sản trí tuệ đã
được mở rộng và xác định khái quát bao gồm nhưng không giới hạn ở nhãn hiệu,
các tác phẩm khoa học, văn học, nghệ thuật, các sáng chế, phát minh, kiểu
dáng công nghiệp...
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền sản xuất hàng hóa trong giai đoạn
hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu trở lên nổi bật hơn cả trong hệ
thống bảo hộ sở hữu trí tuệ. Nhãn hiệu hàng hóa chính là công cụ giúp người tiêu
dùng phân biệt được sản phẩm và dịch vụ của nhà sản xuất này với nhà sản xuất
khác. Chính vì thế, nhãn hiệu có một vai trò vô cùng quan trọng, góp phần tạo nên
thương hiệu của sản phẩm, dịch vụ trong lòng người tiêu dùng. Tuy nhiên kéo theo
đó, tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu xảy ra ngày càng phổ biến và
với mức độ tinh vi, phức tạp ngày càng tăng. Trong khi hình thức tranh chấp này là
một loại tranh chấp đặc thù và mặc dù xảy ra rất nhiều, nhưng việc giải quyết trên
thực tế gặp rất nhiều khó khăn. Thực tiễn đã có nhiều vụ việc tranh chấp diễn ra
trong một thời gian dài nhưng vẫn chưa thể được giải quyết hoặc chưa được giải
quyết thỏa đáng, dẫn đến việc quyền lợi của chủ sở hữu nhãn hiệu hợp pháp bị ảnh
hưởng trầm trọng. Vì vậy, vấn đề xử lý tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn
hiệu hang hóa là một trong những nội dung hết sức quan trọng nhằm đảm bảo quyền
sở hữu trí tuệ được thực thi một cách có hiệu quả, bảo vệ quyền lợi tối đa cho chủ
sở hữu nhãn hiệu, tạo điều kiện giúp họ khai thác tối đa lợi ích từ nhãn hiệu của
mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh.


2

Trước đòi hỏi tất yếu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế, Việt Nam đã và đang không ngừng nỗ lực xây dựng những hành lang pháp

3

tránh khỏi những sai sót nhất định, tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của các thầy cô và các nhà nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn!
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong thời gian khoảng một thập kỷ trở lại đây, ngày càng xuất hiện nhiều
hơn những công trình nghiên cứu, bài báo viết về các khía cạnh của bảo hộ quyền
SHTT nói chung và quyền SHCN với nhãn hiệu hàng hóa nói riêng. Bên cạnh đó,
các vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại nói chung và tranh chấp quyền sở hữu
trí tuệ nói chung cũng ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên
cứu và xã hội. Có thể kể tới một vài công trình nghiên cứu như: Xử lý xâm phạm
nhãn hiệu hàng hóa theo Pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viên
Khoa học và Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, 2015 của Nguyễn Xuân
Quang; Xây dựng va hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp đối với các quan hệ
thương mại trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viên
Khoa học và Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, 2012 của Dương Quỳnh
Hoa; Cơ chế giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ của Nhật Bản: Gợi mở đối
với Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp Luật, Viện Nhà nước và pháp luật, số
03/2015 của Đỗ Thị Minh Thủy. Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước về các
phương thức giải quyết tranh chấp quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa là chưa
có nhiều. Các nghiên cứu chỉ tập trung vào việc bình luận, đánh giá từng sự vụ, vụ
việc cụ thể, hoặc đề cập tới với một dung lượng nhỏ. Bên cạnh đó, các nghiên cứu
chưa đưa ra những đánh giá cụ thể cũng như một cái nhìn toàn diện tổng quan về
các phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau đối với nhãn hiệu hàng hóa.
3. Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những lý luận của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ đối với
nhãn hiệu nói riêng và các cơ chế giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với
nhãn hiệu để từ đó đưa ra các kiến nghị và thực hành liên quan nhằm:
- Góp phần đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam hiện

Về không gian, những nội dung liên quan đến thực tiễn thực thi pháp luật
được giới hạn nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Việc lấy ví dụ và phân
tích vụ việc cũng không vì thế mà giới hạn những chủ thể nước ngoài có tham gia
vào mối quan hệ kinh tế với Việt Nam, dẫn đến phát sinh mâu thuẫn và xung đột về
quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa. Ngoài ra, luận văn cũng có sự đan
xen học hỏi những kinh nghiệm pháp luật quốc tế như Hoa Kỳ, Nhật Bản,


5

Đức…nhằm giải quyết những bất cập và nâng cao hiệu quả áp dụng và thực thi
pháp luật tại Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề được nghiên cứu trong bài, tác giả cũng đã sử dụng
những phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp lý luận kết hợp với thực tiễn, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp
tổng hợp ý kiến chuyên gia, phương pháp phân tích tình huống…Cụ thể:
* Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong
tất cả các chương của luận án. Cụ thể là được sử dụng để đi sâu vào tìm tòi, trình
bày các học thuyết nền tảng lý luận, các quan điểm về hàng hóa, quyền sở hữu trí
tuệ đối với nhãn hiệu, các loại tranh chấp và giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí
tuệ đối với nhãn hiệu, thực tiễn thực thi pháp pháp luật đối với các phương thức giải
quyết tranh chấp (Chương 1, Chương 2), rồi từ đó rút ra các đề xuất định hướng các
đề xuất các kiến nghị và giải pháp phù hợp;
* Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: phương pháp này được sử dụng ở
tất cả các chương của luận văn. Cụ thể, phương pháp được sử dụng để đi sâu tìm
tòi, trình bày các nền tảng lý luận về quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, các loại
tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu và các phương thức giải quyết
tranh chấp, kết hợp với việc phân tích thực tiễn thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối với
nhãn hiệu, thông qua việc phân tích một số vụ việc để thấy rõ được những điểm đã

của Luận văn được kết cấu thành ba chương.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về các phương thức giải quyết tranh chấp quyền sở
hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa
Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về các phương thức giải quyết tranh
chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa theo quy định của pháp luật
Việt Nam
Chƣơng 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và áp dụng một cách hợp lý các
phương thức giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa
tại Việt Nam


7

CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA
1.1. Tổng quan về quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa
1.1.1. Khái quát về nhãn hiệu hàng hóa
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
Thế giới mà chúng ta đang sống ngày nay đang bước vào một thời kỳ bùng nổ
với hàng trăm, hàng nghìn loại sản phẩm và dịch vụ mới được phát triển từng giờ.
Hàng hóa đóng một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Trong kinh tế chính trị
Mác-Lenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua
trao đổi, mua bán. Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển sách hay ở dạng
vô hình như sức lao động. Khi nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,
C. Mác bắt đầu từ hàng hoá. Bởi vì, một mặt, sản xuất tư bản chủ nghĩa, trước hết là
sản xuất hàng hoá đã phát triển cao, trong đó hàng hoá là "tế bào kinh tế của xã hội
tư sản". Muốn nghiên cứu "một cơ thể đã phát triển" thì phải bắt đầu từ "tế bào của
cơ thể đó" (C. Mác và Ph. Ăngghen, 1993, tr.221). Trong từ điển tiếng Việt, hàng
hóa cũng được định nghĩa là “sản phẩm do lao động làm ra được mua bán trên thị
trường” (Từ điển tiếng Việt, 2002).

trước, đã sử dụng chữ ký của mình để đánh dấu lên trên các sản phẩm nghệ thuật
của mình để phân biệt với các thợ thủ công khác, trước khi gửi hàng hóa sang Iran.
Những nhà sản xuất từ Trung Quốc cũng sử dụng những ký hiệu của riêng mình
trên hàng hóa buôn bán tại thị trường Địa Trung Hải từ cách đây hơn 2000 năm
(WIPO 2004, tr.67). Với sự phát triển cường thịnh của hoạt động thương mại, việc
sử dụng những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của các thương nhân hoặc các nhà
sản xuất khác nhau cũng vì thế ngày càng phổ biến.
Nền kinh tế thế giới càng phát triển, đồng hành cùng sự tiến bộ của khoa học
và công nghệ, hàng ngày có rất nhiều hàng hóa mới xuất hiện trên thị trường. Song
song với đó là cũng có rất nhiều yếu tố sẽ ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của
khách hàng, từ chất lượng sản phẩm, dịch vụ, bao bì mẫu mã, giá cả, khuyến mãi,
dịch vụ khách hàng, và quan trọng là những ấn tượng trong tâm trí của khách hàng
về sản phẩm và dịch vụ đó. Ấn tượng đó sẽ được lưu giữ và khắc họa thông qua tên
gọi, hình ảnh, kiểu dáng, màu sắc, hương vị, mùi hương…gắn liền với sản phẩm và
dịch vụ. Đó chính là “Nhãn hiệu của sản phẩm”. Nhãn hiệu được nhìn thấy trên hầu
hết các sản phẩm, gắn trên bản mô tả sản phẩm và bao bì sản phẩm. Là khách hàng,
chúng ta có thể đưa ra nhiều quyết định, đôi khi những quyết định đó được đưa ra
theo ý chí chủ quan, thậm chí chẳng cần nhìn thấy sản phẩm, mà dựa vào danh tiếng


9

và uy tín của nhãn hiệu. Theo thời gian, những trải nghiệm tốt về sản phẩm sẽ tạo
nên “thương hiệu” của sản phẩm, dịch vụ. Điều này giúp lưu lại hình ảnh của doanh
nghiệp trong tâm trí khách hàng. Nếu hài lòng với sản phẩm của doanh nghiệp,
khách hàng sẽ tin tưởng thương hiệu đó và dần dần, họ trở thành khách hàng trung
thành đối với sản phẩm của doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng
hóa, đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế thị trường tiền tư bản, nhãn hiệu
chuyển thành một công cụ quan trọng hơn là giúp người mua, người tiêu dùng dễ
dàng phân biệt hàng hóa của một nhà sản xuất này với nhà sản xuất khác, giúp họ

của các doanh nghiệp khác”. Các dấu hiệu có thể bao gồm “các từ, kể cả tên riêng,
các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất
kỳ của các dấu hiệu” và “Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được
đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được”. Bên cạnh đó, Hiệp định
cũng đưa ra một quan điểm tương đối mới đối với một số trường hợp bản thân các
dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ tương ứng thì “các
Thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân
biệt đạt được thông qua việc sử dụng” (Khoản 1, Điều 15 Hiệp định về các khía
cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ).
Theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thì nhãn hiệu là
“các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự của các
cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau” ( Thêm
vào đó, WIPO cũng đưa ra những loại dấu hiệu có thể được đăng ký với tư cách là
một nhãn hiệu là “Một từ hoặc sự kết hợp của các từ, chữ, số” và cũng có thể là
“hình vẽ, biểu tượng, hình ảnh ba chiều như hình dáng và bao gói của sản phẩm,
những dấu hiệu không nhìn thấy được như âm thanh và mùi hương hoặc màu sắc
được sử dụng như một đặc điểm phân biệt”. Và một điều quan trọng nhất, WIPO
khẳng định những dấu hiệu này là “không có giới hạn”. Cuốn cẩm nang Sở hữu trí
tuệ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO cũng khẳng định: “Nhãn hiệu hàng
hóa là bất kỳ một dấu hiệu nào mà cá biệt hàng hóa của một doanh nghiệp nhất định
và phân biệt chúng với hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp này”
(WIPO 2004, tr.68). Như vậy, định nghĩa này của cuốn cẩm nang đã một lần nữa
nhấn mạnh vai trò của nhãn hiệu trong mối tương quan với việc cạnh tranh và phát
triển thương mại của các doanh nghiệp.
Trên cơ sở hội nhập nền kinh tế thế giới cũng như tiếp thu các Điều ước Quốc
tế mà Việt Nam là thành viên, LSHTT Việt Nam 2005, được sửa đổi bổ sung năm
2009 đã định nghĩa nhãn hiệu là “dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của
các cá nhân, tổ chức khác nhau” (Trích Điều 4, Điểm 16, LSHTT 2005, sửa đổi bổ



nhất định nào đó và tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp.
Qua đó, chúng ta có thể thấy được nhãn hiệu có bốn chức năng: (1) phân biệt
hàng hóa, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức khác nhau, (2) đảm bảo chất lượng của
sản phẩm và dịch vụ, (3) chức năng quảng cáo/tiếp thị, (4) chức năng thúc đẩy hoạt


12

động sản xuất. Trong các chức năng này, chức năng quan trọng nhất chính là phân
biệt hàng hóa, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức khác nhau. Theo đó, nhãn hiệu giúp
người tiêu dùng nhận ra sản phẩm, dịch vụ để phân biệt với các sản phẩm, dịch vụ
trùng hoặc tương tự từ các đơn vị sản xuất, cung cấp khác nhau. Khách hàng dùng
sẽ căn cứ vào nhãn hiệu để nhận biết sản phẩm, dịch vụ của một nhà sản xuất, nhà
cung cấp, làm cơ sở để so sánh chất lượng, giá thành các sản phẩm, dịch vụ cùng
loại được cung cấp bởi những nhà sản xuất, nhà cung cấp khác nhau. Từ đó, khách
dễ dàng ghi nhớ và đưa ra quyết định chọn lựa hoặc từ chối mua các sản phẩm, dịch
vụ từ các nhà sản xuất, nhà cung cấp. Thứ hai, nhãn hiệu cũng đảm nhận một số
chức năng khác như đảm bảo chất lượng của sản phẩm và dịch vụ. Nhãn hiệu được
xem như một phương tiện chỉ dẫn nguồn gốc thương mại một cách hiệu quả và
nhanh chóng. Nhãn hiệu được coi là biểu tượng thương mại của doanh nghiệp. Từ
những nhãn hiệu, người tiêu dùng biết được người sản xuất tạo nên sản phẩm, và
theo đó có thể đánh giá tổng quan chất lượng của sản phẩm/dịch vụ cung cấp. Thậm
chí, khi một nhãn hiệu trở nên có uy tín, người tiêu dùng chỉ cần chọn lựa sản phẩm
mang nhãn hiệu đó mà không quan tâm đến thông tin chi tiết về thành phần tạo nên
sản phẩm do họ hoàn toàn tin tưởng về chất lượng sản phẩm được cung cấp bởi nhà
sản xuất. Thứ ba, nhãn hiệu có chức năng quảng cáo/tiếp thị. Nhãn hiệu giúp doanh
nghiệp phân biệt và định vị sản phẩm của họ đối với sản phẩm của các đối thủ cạnh
tranh. Đây là một vai trò quan trọng trong chiến lược quảng cáo, tiếp thị và xây
dựng hình ảnh. Nhãn hiệu là một cách thức chỉ dẫn cô đọng về sản phẩm, là một sự
giới thiệu ngắn gọn về sản phẩm, nguồn gốc sản phẩm và chất lượng của sản phẩm

dùng làm nhãn hiệu phải là những “dấu hiệu có thể nhìn thấy được” (khoản 1, Điều
72, LSHTT năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009). Tuy nhiên, với sự phát
triển mạnh mẽ của công nghệ và các phương tiện truyền thống hiện nay, luật pháp
nhiều nước cũng đã chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu là các đối tượng mới, bao gồm các
dấu hiệu âm thanh, clip hình ảnh động, hình biến đổi theo góc nhìn (hologram),
thậm chí cả mùi, vị và cảm giác. Với việc Việt Nam trở thành thành viên của Tổ
chức thương mại thế giới, số lượng nhãn hiệu xin đăng ký tại Việt Nam của người
Việt Nam và nước ngoài ngày càng tăng, có thể trong tương lai, hành lang pháp lý
của Việt Nam cũng sẽ cần có những điều chỉnh thích hợp nhằm hài hóa hóa và rút
ngắn sự cách biệt với pháp luật cũng như quy định của quốc tế đối với cách công
nhận một nhãn hiệu.
Nếu dựa vào chủ sở hữu quyền, nhãn hiệu có thể được phân thành bốn loại:
nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết.


14

Nhãn hiệu thông thường là những nhãn hiệu được đăng ký và thuộc quyền sở
hữu của những cá nhân, pháp nhân đáp ứng đủ điều kiện của pháp luật: “1. Tổ chức,
cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch
vụ do mình cung cấp.” và “2. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp
pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng
do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó
cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó” (Trích Khoản 1, 2 - Điều 87,
LSHTT năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009).
Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các
thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ
chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó. Khoản 3 – Điều 87, LSHTT
năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định “Tổ chức tập thể được
thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình

sản vô hình, không thể được xác định bằng các đặc điểm vật chất của chính nó
nhưng lại có giá trị lớn vì có khả năng sinh ra lợi nhuận. Hiện nay tài sản trí tuệ
đang dần trở thành một loại tài sản có giá trị cao trong toàn bộ giá trị doanh nghiệp.
Khi các doanh nghiệp hoạt động trong sức ép canh tranh của nền kinh tế thị trường,
tài sản trí tuệ đóng vai trò như là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh và
khả năng phát triển của doanh nghiệp. Bằng việc xây dựng, phát triển và sở hữu các
tài sản trí tuệ, uy tín và vị thế của doanh nghiệp được củng cố và mở rộng; khả năng
cạnh tranh, thị phần và doanh thu của doanh nghiệp được nâng cao.
Quyền sở hữu trí tuệ là các quyền đối với những sản phẩm sáng tạo nói trên.
Trong cuốn cẩm nang về sở hữu trí tuệ, WIPO có nhận định về quyền tài sản trí tuệ
được cấp cho người sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp hàng hóa và dịch vụ. Quyền
sở hữu trí tuệ là một loại quyền có thời hạn và không được áp dụng cho các vật thể
có tính chất vật lý và dù có thể có chứa sự sáng tạo nhưng không phải là sự sáng tạo
trí tuệ (Điểm 1.2, WIPO 2004, tr.3). Cụ thể, WIPO phân loại quyền sở hữu trí tuệ
thành quyền Sở hữu công nghiệp và bản quyền. Quyền Sở hữu trí tuệ được xác lập
và bảo hộ cho một hoặc nhiều cá nhân, tổ chức bởi cơ quan nhà nước có thẩm
quyền khi nhãn hiệu đó đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ theo quy định của pháp luật.
LSHTT năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định: “Quyền sở hữu trí
tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và
quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với
giống cây trồng” (Điểm 1, điều 4, LSHTT 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009).
Theo quy định tại Điều 115, BLDS 2015, quyền sở hữu trí tuệ là một trong những



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status