Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi rút gây hoại tử thần kinh và tạo kháng nguyên tái tổ hợp làm nguyên liệu sản xuất vắc-xin phòng bệnh cho cá mú (Epinephelus spp.) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------------

NGUYỄN THỊ THANH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VI RÚT GÂY
HOẠI TỬ THẦN KINH VÀ TẠO KHÁNG NGUYÊN TÁI TỔ HỢP
LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT VẮC- XIN PHÒNG BỆNH CHO
CÁ MÚ (Epinephelus spp.)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Hà Nội, năm 2018


MỤC LỤC
Lời cam đoan ...................................................................................................... i
Lời cảm ơn ........................................................................................................ ii
Mục lục ............................................................................................................. iii
Danh mục chữ viết tắt ..................................................................................... vii
Danh mục bảng................................................................................................. ix
Danh mục hình .................................................................................................. x
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................ 4
1.1. Một số đặc điểm sinh học của cá mú ....................................................... 4
1.1.1. Hệ thống phân loại cá mú ....................................................................... 4
1.1.2. Đặc điểm phân bố.................................................................................... 4

2.3.1.7 Phương pháp tách dòng gen: ............................................................... 41
2.3.2. Phương pháp xác định đặc tính sinh học của vi rút gây hoại tử thần kinh
(NNV).............................................................................................................. 45
2.3.2.1. Phương pháp xác định độc lực của vi rút trên tế bào GS1................ 45
2.3.2.2. Phương pháp xác định độc lực của vi rút trên cá mú ......................... 46
2.3.2.3 Thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng gây nhiễm của vi rút
trên tế bào GS1 ................................................................................................ 47
2.3.2.4. Thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng gây nhiễm của vi
rút trên cá mú................................................................................................... 48
2.3.3. Nhóm các phương pháp biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên và đánh
giá khả năng tạo kháng thể của kháng nguyên tái tổ hợp ............................... 48
2.3.3.1 Chuẩn bị vector pET32a+ để thực hiện phản ứng nối gen ................. 48
2.3.3.2 Nối gen T4 vào vector pET32a+.......................................................... 49
2.3.3.3 Chuyển gen vào E. coliJM109 ............................................................ 49
2.3.3.4. Tách chiết plasmid từ các khuẩn lạc sau biến nạp chuẩn bị cho kiểm
tra bằng PCR và enzyme giới hạn. .................................................................. 50
2.3.3.5 Nuôi cấy E. coli BL21 mang plasmid tái tổ hợp pET32a+-T4............ 51
2.3.3.6 Phương pháp điện di SDS-PAGE ...................................................... 51
2.3.3.7. Phương pháp Western blot ................................................................. 52
iv


2.3.3.8. Phương pháp đánh giá khả năng tạo kháng thể trung hòa của kháng
nguyên tái tổ hợp ............................................................................................. 53
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 56
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .............................................. 57
3.1. Xác định vi rút gây bệnh hoại tử thần kinh trên cá mú tại Việt Nam ..... 57
3.1.1. Sàng lọc mẫu nhiễm vi rút gây bệnh hoại tử thần kinh bằng phương
pháp mô bệnh học ........................................................................................... 57
3.1.2. Xác định mẫu cá nhiễm vi rút gây bệnh hoại tử thần kinh bằng phương

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ...........................................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................

vi


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Giải thích

aa

Amino axit

BFNNV

Barfin flounder nervous necrosis virus (vi rút gây hoại tử
thần kinh trên cá bơn)

bp

Base pair (cặp bazơ)

BSA

Bovine Serum Albumin (Albumin huyết thanh bò)

cDNA

Diamino bezidine (kit làm hiện màu)

DNA

Deoxyribonucleic acid

EDTA

Ethyllene diamine tetra acetic acid

ELISA

Enzyme linked immunosorbent assay (phản ứng miễn dịch
liên kết enzyme)

EtBr

Ethidium Bromide

FCS

fetal calf serum (Huyết thanh bào thai bê)

HRP

Horseradish peroxidase (Enzyme Horseradish Peroxidase)

kb

kilobase


Lethal Dose 50% (liều gây chết 50% động vật thí nghiệm)

NCR

Non coding region

ND

Not done (không đánh giá)

NNV

Nervous Necrosis Virus (vi rút gây hoại tử thần kinh)

nt

nucleotid

OD

Optical Density (mật độ quang)

ORF

Open Reading Frame (Khung đọc mở)

PAGE

Polyacrylamide Gel Electrophoresis (Điện di trên gel

kinh trên cá măng sọc)

TAE

Tris - acetate - EDTA

TBS

Tris Buffer Saline

TBST

TBS - Tween

TCID50

Tissue culture infective dose 50% (liều gây chết 50% tế bào)

TPNNV

Tiger puffer nervous necrosis virus (vi rút gây hoại tử thần
kinh trên cá nóc hổ)

UV

Ultraviolet light

VLPs

Virus-like particles (Tạo hạt giả vi rút)


Thuận lợi và tồn tại của vắc-xin DNA

33

1.4

Một số vắc-xin phòng bệnh hoại tử thần kinh trên cá mú

34

3.1

Kiểm tra vi rút bằng phương pháp mô bệnh học

58

3.2
3.3
3.4

3.5

Kiểm tra vi rút gây bệnh hoại tử thần kinh bằng phương pháp
RT-PCR
Xác định vi rút gây hoại tử thần kinh trên tế bào GS1
So sánh mức độ đồng nhất của trình tự đoạn gen T4 thu được
với các trình tự của GenBank
Đặc tính gây bệnh của vi rút gây hoại tử thần kinh trên tế bào
GS1

ngày và đêm
Khả năng gây bệnh của NNV trên cá mú ở 28oC ban ngày và
24oC ban đêm
Hiệu giá kháng thể trung hòa vi rút gây bệnh hoại tử thần
kinh ở mô hình in vitro
Hiệu giá kháng thể trung hòa vi rút gây bệnh hoại tử thần
kinh ở mô hình in vivo
Hiệu giá sinh đáp ứng miễn dịch của cá mú chống lại NNV
trên mô hình in vitro

ix

78

79

97

99

101


DANH MỤC HÌNH
Thứ tự

Tên hình

hình


22

2.1

Quy trình thực hiện phương pháp mô bệnh học

39

2.2
2.3
3.1
3.2
3.3
3.4

Thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng gây
nhiễm của vi rút trên tế bào
Thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng gây
nhiễm của vi rút trên cá mú
Bệnh tích tế bào ở mô não và mô mắt cá
Điện di đồ sản phẩm RT-PCR của một số mẫu bệnh phẩm
nghi nhiễm NNV
Bệnh tích của tế bào GS1 sau khi gây nhiễm NNV
Mức độ gây hiệu ứng bệnh tích tế bào (CPE) khi gây
nhiễm NNV trên tế bào GS1

47
48
57
61

Sơ đồ quy trình tạo vector tái tổ hợp pET32a+-T4

81

3.10
3.11

Cắt vector pGEM-T-T4 (A) và cắt vector pET32a+(B)
bằng enzyme EcoRI
Tinh sạch sản phẩm cắt plasmid pGEM-T-T4 và vector
pET32a+

x

82
83


3.12
3.13
3.14
3.15
3.16

Đĩa khuẩn lạc thu được sau khi chuyển gen pET32a+-T4
vào E. coliJM109
Kiểm tra DNA plasmid tái tổ hợp pET32a+-T4 trong vi
khuẩn E. coliJM109
Điện di sản phẩm PCR kiểm tra sự có mặt gen T4 trong
vector tái tổ hợp

87

coliBL21(DE3)
3.18
3.19

Điện di SDS-PAGE gel polyacrylamide 15% dòng vi
khuẩn số 1 và 2
Điện di SDS-PAGE gel polyacrylamide 15% dòng vi
khuẩn số 3 và số 4

89
90

3.20

Kết quả Westen blot của protein T4 tái tổ hợp

91

3.21

Lượng protein T4 tái tổ hợp được tổng hợp theo thời gian

93

3.22
3.23
3.24


có thể chết sau 3-5 ngày với tỷ lệ chết cao từ 80-100%. Ở Việt Nam, bệnh
phân bố ở hầu hết các vùng nuôi cá trên cả nước. Mùa vụ xuất hiện bệnh từ
tháng 5 đến tháng 10 khi nhiệt độ nước từ 24 đến 30ºC. Tỷ lệ chết do VNN
gây ra dao động từ 50 - 100% tùy thuộc theo loài và giai đoạn xuất hiện bệnh
(Đỗ Thị Hoà và cs, 2004) [2].
Hiện tại, ở Việt Nam mặc dù chưa có báo cáo tổng quát về bệnh hoại
tử thần kinh gây ra cho cá mú nuôi, nhưng các số liệu từ nghiên cứu của
trường Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II cho thấy, tỷ lệ cá mú nhiễm vi rút hoại tử
thần kinh cao lên tới 82% mẫu cá bệnh thu thập (Nguyễn Ngọc Du và cs,

1


2005; Phan Thị Vân và Bùi Ngọc Thanh, 2004; Trần Vĩ Hích và Phạm Thị
Duyên, 2008) [1][13][3].
Tình hình dịch bệnh hoại tử thần kinh trên cá mú đang ngày càng gia
tăng đòi hỏi cần có các biện pháp phòng bệnh hiệu quả. Cá mú có khả năng
sinh đáp ứng miễn dịch khá tốt khi tiếp xúc với kháng nguyên, do đó việc
nghiên cứu tạo nguyên liệu để sản xuất vắc-xin phòng bệnh cho cá đang là
vấn đề cấp thiết hiện nay. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi rút gây hoại
tử thần kinh và tạo kháng nguyên tái tổ hợp làm nguyên liệu sản xuất
vắc-xin phòng bệnh cho cá mú (Epinephelus spp.)”.
Mục tiêu của đề tài luận án:
- Xác định được vi rút gây hoại tử thần kinh trên cá mú tại Việt Nam và
một số đặc tính sinh học của vi rút gây bệnh.
- Tạo được kháng nguyên tái tổ hợp và đánh giá khả năng kích thích
sinh miễn dịch của kháng nguyên để làm nguyên liệu phục vụ sản xuất vắcxin phòng bệnh hoại tử thần kinh cho cá mú.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Luận án là công trình đầu tiên tại Việt Nam đã tạo được kháng
nguyên protein T4 tái tổ hợp, kháng nguyên có khả năng sinh đáp ứng miễn
dịch và bảo hộ cho cá mú cho đến ngày thứ 90 sau khi tiêm. Đây là cơ sở
khoa học vững chắc để sử dụng kháng nguyên protein T4 tái tổ hợp làm
nguyên liệu sản xuất vắc-xin phòng bệnh hoại tử thần kinh cho cá mú.

3


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số đặc điểm sinh học của cá mú
1.1.1. Hệ thống phân loại cá mú
Cá mú thuộc họ Serranidae, họ phụ cá mú (Epinephelinae), giống
Epinephelus, tên tiếng Anh: groupers. Giống Epinephelus gồm 99 loài, khu
vực Ấn Độ, Thái Bình dương đã phát hiện được 63 loài thuộc giống
Epinephelus. Theo Viện Hải dương học Nha Trang, vùng biển nước ta có
khoảng 30 loài cá mú (Lê Anh Tuấn, 2004) [11].
Ngành Chordata
Lớp

Pisces

Bộ Perciformes
Họ Serranidae
Giống

Epinephelus

Hình 1.1 Hình thái ngoài cá mú chấm
nâu (Epinephelus coioides)

loài lớn nhất trong họ cá mú. Hiện nay đã khai thác được cá mú ngoài tự
nhiên có những con đạt khối lượng tới 150 kg.
Cá bột sau 1 ngày tuổi có chiều dài trung bình 2,18 mm, miệng đóng,
chưa có sắc tố, khối noãn hoàng vẫn còn. Sau 3 ngày tuổi, miệng mở, cá bắt
đầu ăn thức ăn ngoài, lúc này ống tiêu hoá chưa hoàn chỉnh. Khi cá đạt 12
ngày tuổi, dài 3,57 mm; miệng, mắt, ống tiêu hoá hoàn chỉnh, bắt đầu phát
triển sắc tố thân. Sau 18 ngày tuổi, chiều dài cá từ 5-8 mm, gai lưng thứ 2 dài,
giai đoạn này cá rất nhạy cảm với các yếu tố bên ngoài, thời điểm này tỷ lệ
hao hụt rất lớn. Cá 32 ngày tuổi, chiều dài 8-10 mm; vây phát triển hoàn
thiện và có sắc tố đen trên tất cả các tia vây, gai lưng thứ 2 và cơ thể ngắn
lại. Cá 39 ngày tuổi dài 10-12 mm, các vây hoàn chỉnh, tỷ lệ gai lưng thứ 2
giảm đáng kể. Cá 54 ngày tuổi dài 16,5 mm, gai lưng ngắn, hình dáng và sắc
tố giống cá trưởng thành. Thông thường cá mú chấm đỏ (E. akaara) lúc 1
5


tuổi dài 18 cm, 2 tuổi dài 18 -24 cm, 3 tuổi dài 23-28 cm, khối lượng 0,5 kg,
4 tuổi dài 26- 33 cm khối lượng 0,7-1,0 kg, 5 tuổi dài 31-34 cm (Nguyễn Thị
Vui, 2012) [14].
1.1.4. Đặc điểm sinh sản
Cá mú có khả năng chuyển đổi giới tính, thông thường lúc nhỏ là cá
cái, khi trưởng thành chuyển thành cá đực. Cá thường sinh sản vào ban
đêm theo tuần trăng. Trứng đẻ ra được thụ tinh ngay trong môi trường
nước, đường kính trứng khoảng 0,76-0,82 mm và có giọt dầu nhỏ giúp trứng
nổi trong nước. Trứng sau khi thụ tinh sẽ xảy ra quá trình phân cắt tế bào và
sự phát triển phôi. Ở độ mặn 30‰, hàm lượng oxy trên 5 mg/l, nhiệt độ 2630oC và sau thời gian từ 15 đến 25 giờ trứng sẽ nở ra cá bột.
1.1.5. Đặc điểm về hệ miễn dịch ở cá mú
Ở cá xương nói chung và cá mú nói riêng có các hàng rào cơ học như
dịch nhờn, da và mang bảo vệ giúp cơ thể cá chống lại sự xâm nhập của tác
nhân gây bệnh (Kim Văn Vạn và Lê Thanh Hòa, 2009) [12].

kháng thể tại chỗ cho nên mang có vai trò quan trọng đối với cá.
Đáp ứng miễn dịch cục bộ ở da: Immunoglobulin đã được phát hiện
trong dịch nhớt được tiết ra trên da cá. Sự có mặt của lympho, tương bào và
đại thực bào ở biểu bì đã khẳng định có sự đáp ứng miễn dịch cục bộ trên da
cá (Kim Văn Vạn và Lê Thanh Hòa, 2009) [12].
Đáp ứng miễn dịch cục bộ ở dịch nhầy: dịch nhầy có chứa globulin miễn
dịch chủ yếu là IgM và các yếu tố hòa tan khác như ngưng kết tự nhiên, lysin,
lysozym, bổ thể. Khi tiến hành ngâm hoặc cho tiếp xúc với kháng nguyên
bằng cách cho ăn sẽ hình thành kháng thể trong dịch nhầy song không làm
tăng kháng thể trong huyết thanh (Kim Văn Vạn và Lê Thanh Hòa, 2009)
[12].
1.2. Ýnghĩa kinh tế và tình hình nuôi cá mú
Theo Liên minh nuôi trồng thủy sản toàn cầu (GAA), sản lượng cá mú
nuôi trên toàn thế giới năm 2009 ước đạt hơn 70.000 tấn, sản lượng tăng dần
trong những năm gần đây và năm 2018 dự kiến đạt gần 160.000 tấn [67].
Hiện nay có khoảng 22 loài cá mú được nuôi ở các nước Đông Nam Á và
7


Đông Á. So với một số quốc gia khác thì nghề nuôi cá mú ở Việt Nam còn
khá khiêm tốn.

(Nguồn: Global Aquaculture Alliance) [67]
Hình 1.2. Sản lượng cá mú nuôi ở một số quốc gia trên thế giới
Theo Tổng cục Thủy sản, cá biển là một trong 5 đối tượng nuôi chính
hiện nay. Năm 2016, diện tích nuôi cá biển ở ao đầm của Việt Nam đạt 6.300
ha và 1.164.643 m3 lồng, sản lượng cá biển nuôi đạt 28.293 tấn. Các loài cá
nuôi phổ biến nhất là cá mú (chiếm 50%), cá giò (30%) và cá vược (7-8%)
[72]. Cá mú là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế rất cao. Giá thị trường đối với
loài cá mú đen và cá mú chấm nâu có khối lượng từ 800 g đến 1000 g là

thương phẩm.
Cá mú được nuôi nhiều trong các lồng tre hay bè gỗ, được đặt cố định
hay thả nổi ở các vùng biển ít gió bão, sóng nhẹ như các vịnh, đầm, phá.
Ngoài ra hiện nay cá mú còn được nuôi trong các ao đầm nước lợ ven biển.
Cá giống được thả với có kích cỡ khoảng 8-12 cm, nuôi từ 6 đến 8 tháng thì
đạt khối lượng khoảng 0,5-1,5 kg/con, khối lượng cá xuất bán tùy yêu cầu
của thị trường.
Tuy có giá trị kinh tế rất cao như vậy song cá mú thường hay bị một số
bệnh như đốm đỏ, bệnh hoại cơ, bệnh đường ruột... các bệnh này đều do vi
khuẩn gây nên. Đặc biệt bệnh nguy hiểm mà cá mú mắc phải và có tỷ lệ tử
vong lớn nhất là bệnh hoại tử thần kinh do vi rút gây ra. Hiện nay, chưa có
9


vắc-xin phòng ngừa loại vi rút này và biện pháp phòng bệnh chủ yếu vẫn là
đảm bảo vệ sinh và cách ly các nguồn lây nhiễm vi rút.
1.3. Tình hình dịch bệnh hoại tử thần kinh ở cá mú trên thế giới và Việt
Nam
1.3.1. Đặc điểm của bệnh hoại tử thần kinh ở cá biển
Bệnh hoại tử thần kinh do vi rút gây ra là một trong những bệnh nguy
hiểm đối với cá biển trên toàn thế giới. Theo các nghiên cứu cho thấy bệnh
này đã gây ra trên 70 loài thủy sản nước mặn và nước ngọt trong đó có 32 loài
cá biển, cá mú là loài rất mẫn cảm với bệnh này (Munday và cs, 2002; Doan
và cs, 2017) [44][31].
Tác nhân gây bệnh được xác định là Betanodavirus thuộc họ
Nodaviridae (Nishizawa và cs, 1997; Setty và cs, 2012) [48][62]. Vi rút
thường cư trú nhiều nhất là ở hệ thần kinh trung ương như não và võng mạc
mắt. Ngoài ra vi rút còn được tìm thấy ở tuỷ sống, tuyến sinh dục, gan, dạ dày
và ruột (Đỗ Thị Hòa và cs, 2004; Breuil và cs, 2000; Muroga, 1995; Nakai và
cs, 1995; Munday và cs, 2002; Grotmol và cs, 2000) [2][21][45][46][44][34].

cm chết tới 100%, khi cá đạt kích cỡ lớn hơn 15 cm thì tỷ lệ chết giảm dưới
20%. Bệnh hoại tử thần kinh đã thực sự trở thành mối đe dọa đối với nghề
nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới và Việt Nam.
11


1.3.2. Tình hình dịch bệnh hoại tử thần kinh ở cá mú trên thế giới
Trong một vài năm trở lại đây, nhiều nước đã chủ động cho sinh sản
nhân tạo cá mú thành công nên càng thúc đẩy nghề nuôi cá thương phẩm phát
triển. Những số liệu thống kê cho thấy 95% cá nuôi lồng bè và 80% cá nuôi
ao có ảnh hưởng bởi dịch bệnh trong đó cả 2 loại tác nhân Nodavirus và
Iridovirus đã gây thất thoát 62,44% tổng giá trị sản lượng cá nuôi (Munday và
cs, 2002; Nakai và cs, 2000; Roy và cs, 2010) [44][47][59].
Ở Nhật Bản năm 1994 - 1995, VNN đã gây chết từ 80- 90% cá bột và
cá giống loài E. akaara. Fukuda đã khẳng định Betanodavirus chính là tác
nhân gây bệnh cho cá E. septemfasciatus, bệnh thường xảy ra khi nhiệt độ
nước biển cao từ 30-35oC (Fukuda và cs, 1996) [33].
Tại Thái Lan vào năm 1995, cá mú loài E. malabaricus nuôi cỡ từ 2,515 cm bị VNN có triệu chứng bơi quay tròn với tỷ lệ chết lên tới 100% ở cỡ
cá nhỏ, 20% ở cỡ cá lớn (Danayadol và cs, 1995) [30].
Tại Singapore năm 1998, Chew lim và cs đã phân lập được
Betanodavirus từ loài cá mú mỡ E. tauvina với cỡ cá 2-5 cm và xác định đó
chính là nguyên nhân gây chết 86 - 91% cá giống. Cá bị bệnh không có dấu
hiệu hoại tử hay lở loét bên ngoài cũng như trong cơ thể, cá có biểu hiện bơi
xoay tròn không định hướng, một số nhảy lên mặt nước, hoạt động yếu dần và
chết (Hegde và cs, 2003) [36].
Tại Đài Loan, năm 1994 lần đầu tiên VNN đã gây thành dịch trên các
loài cá mú E. fuscoguttatus, E. akaara và E. owoara. Bệnh đã bùng phát trở
lại năm 1995 và làm chết tới 60% sản lượng cá nuôi (Chi và cs, 2003) [24].
Tại Hàn Quốc, VNN đã gây chết tới 80% cá mú chỉ trong vài tuần.
Bệnh có thể xuất hiện ở hầu hết các giai đoạn phát triển của cá nhưng tỷ lệ


Chi và cs, 2003 [24]

Cá mú vàng E. awoara

Lai và cs, 2001 [42]

Indonesia

Cá mú chuột Cromileptes altivelis

Zafran và cs, 2001 [71]

Malaysia

Cá mú mỡ E. tauvina

Bondad và cs, 2000 [19]

Singapore

Cá mú mỡ E. tauvina

Hegde và cs, 2003 [36]

Thái Lan

Cá mú chấm xanh E. malabaricus

Danayadol và cs, 1995 [30]

nuôi cá như lưới, vợt, dây sục khí...
Theo nghiên cứu của Chi và cs (2003) [24], những con cá tạp nhỏ được
thu từ các trại nuôi mà bị nhiễm VNN khi dùng làm thức ăn thì cá nuôi có thể
nhiễm vi rút. Các tác giả đã chính thức phân lập được vi rút từ nguồn thức ăn
hàng ngày cho cá gồm: Artemia salina, Tigriopus japonicas, Acetesinte
medius và khẳng định thức ăn là một trong những nguồn lây nhiễm vi rút.
Ngoài ra, cá nuôi trong cùng một bể ăn thịt lẫn nhau cũng được xem
như một con đường lây nhiễm VNN. Có vài nhân tố ảnh hưởng đến phương
thức lan truyền theo chiều ngang như mật độ nuôi cá, nhiệt độ nước và độc
lực của các chủng vi rút ở các điều kiện nuôi dưỡng (Tanaka và cs, 2001)
[65].
Phương thức truyền bệnh theo chiều dọc: vi rút gây bệnh được truyền
từ bố mẹ sang con qua trứng và tinh trùng, đã chứng minh khi phát hiện thấy
vi rút ở tuyến sinh dục và trứng đã thụ tinh ở Pseudocaranx dentex bằng
phương pháp ELISA. Sau đó một số báo cáo chứng tỏ sự lây truyền theo
chiều dọc đã được phát hiện ở cá mú 7 vạch, cá măng sọc, cá bơn, cá chim.
Sự lây nhiễm vi rút vào buồng trứng cũng được công bố ở loài Dicentrarchus
labrax (Arimoto và cs, 1993) [17].
Vi rút gây bệnh trên cá mú có thể chịu đựng ngưỡng pH rất rộng từ 2
đến 9 và duy trì sống được ở nhiệt độ nước 15 oC trong vòng hơn 1 năm
(Frerichs và cs, 2000) [32]. Vi rút thích nghi được ở những vùng nước ấm
hoặc bệnh chỉ xảy ra vào mùa hè 20-30oC. Sau khi tiêm vào phần cơ của cá
hỗn dịch vi rút từ não và mắt của cá bị bệnh loài E. septemfasciatus và E.
akaara, Tanaka và cs (2001) [65] đã kết luận rằng cả tỷ lệ chết và triệu chứng
14


của bệnh đều bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ nước. Khi nhiệt độ cao hơn 28oC thì
tỷ lệ chết cao nhất và thời gian ủ bệnh nhanh nhất. Tác giả cũng xác định
được VNN hiếm khi bùng phát trên cá E. septemfasciatus ở nhiệt độ thấp 14 15oC.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status