Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ỜI CAM ĐOAN
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ của cán bộ Viện Khoa học sự sống
Đại học Thái Nguyên, các cơ sở chăn nuôi và bạn bè đồng nghiệp về các số liệu và
kết quả nghiên cứu. Các số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực, mọi
trích dẫn chính xác và đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Các số liệu và kết quả này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Thái Nguyên, ngày 1 tháng 10 năm 2014
Tác giả Đào Thị Xuân ii LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Nguyễn Quang
Tuyên - Phó Viện trưởng Viện Khoa học sự sống Đại học Thái Nguyên. Thầy đã
tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận
văn này. Đồng thời tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô, cán bộ kĩ
thuật tại bộ môn Công nghệ vi sinh, Công nghệ sinh học, Viện Khoa học sự sống đã
giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi thực hiện các thí nghiệm của đề tài.
1.1.2. Triệu chứng 5
1.1.3. Bệnh tích 5
1.2. Đặc điểm của vi khuẩn salmonella 6
1.2.1. Đặc điểm hình thái 6
1.2.2. Đặc điểm nuôi cấy 7
1.2.3. Đặc tính sinh hóa 8
1.2.4. Sức đề kháng 9
1.2.5. Cấu trúc kháng nguyên của Salmonella 10
1.2.6. Các yếu tố gây bệnh của Salmonella 13
1.3. Tình hình nghiên cứu salmonella ở gà 17
1.3.1. Tình hình nghiên cứu Salmonella trên thế giới 18
1.3.2. Tình hình nghiên cứu Salmonella trong nước 22
1.4. Đặc điểm của probiotic và chế phẩm biovet 25
1.4.1. Chế phẩm probiotic 25
1.4.2. Chế phẩm Biovet 26
Chƣơng 2: NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. Nội dung nghiên cứu 31
iv 2.1.1. Điều tra tình hình dịch tễ gà mắc bệnh thương hàn 31
2.1.2. Phân lập và xác định một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Salmonella
spp từ gà mắc bệnh thương hàn 31
2.1.3. Xác định độc lực các chủng Salmonella phân lập được 31
2.1.4. Đánh giá tác dụng của chế phẩm Biovet 31
2.1.5. Thử nghiệm một số phác đồ điều trị 31
2.2. Nguyên vật liệu dùng trong nghiên cứu 31
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu 31
2.2.2. Nguyên liệu, dụng cụ và trang thiết bị 31
2.2.3. Địa điểm nghiên cứu 32
3.4. Kết quả xác định serotype của các chủng salmonella phân lập được 57
3.5. Kết quả xác định độc lực của vi khuẩn salmonella gallinarum - pullorum 59
3.5.1. Kết quả xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella
gallinarum pullorum 60
3.5.2. Kết quả xác định độc lực của vi khuẩn Salmonella gallinarum-pullorum
phân lập được 62
3.6. Đánh giá tác dụng của chế phẩm biovet đến khả năng sinh trưởng và phòng
bệnh thương hàn ở gà 64
3.6.1. Kết quả nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm 64
3.6.2. Tác dụng của chế phẩm Biovet đến tỷ lệ nuôi sống và phòng bệnh
thương hàn ở gà 69
3.6.3. Ảnh hưởng của chế phẩm Biovet đến số lượng vi khuẩn Salmonella 71
3.7. Thử nghiệm một số phác đồ điều trị 71
3.7.1. Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng
Salmonella phân lập được 72
3.7.2. Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh thương hàn ở gà 75
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
vi DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGA
:
Brilliant Green Agar
BPW
:
Buffered Pepton Water
CNTY
:
Nhà xuất bản
PCR
:
Polymerase Chain Reaction
RPF
:
Rapid Permebility Factor
TN
:
Thí nghiệm
WHO
:
World Health Organization
S
:
Salmonella
Stn
:
Salmonella toxin
TT
:
Thể trọng
TCVN
:
Tiêu chuẩn Việt Nam
XLD
:
Xylose Lysine Deoxychlate
vii
Bảng 3.15. Số lượng vi khuẩn Salmonella có trong đường ruột của gà thí nghiệm 71
Bảng 3.16. Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các
chủng vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum 72
Bảng 3.17: Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh thương hàn ở gà đạt kết
quả cao 75
viii DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Tỷ lệ mắc bệnh thương hàn gà ở 3 xã của huyện Yên Lạc 46
Hình 3.2. Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp từ các mẫu phân và phủ tạng 52
Hình 3.3: Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Salmonella ở bệnh phẩm 54
Hình 3.4. Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn Salmonella
phân lập được 59
Hình 3.5: Khối lượng bình quân của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 67
Hình 3.6: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 69
Hình 3.7. Khả năng mẫn cảm với kháng sinh của chủng vi khuẩn Salmonella
phân lập được 74
Hình 3.8. Hiệu quả một số phác đồ điều trị bệnh thương hàn ở gà 76 1
gây ra. Chế phẩm hiện nay có tác dụng như vậy là chế phẩm Biovet. Chế phẩm này
góp phần cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột như Salmonella và E.coli, nâng cao
khả năng tiêu hóa và giá trị của thức ăn thông qua quá trình lên men vi sinh vật. Từ
2
đó tác dụng lên quá trình sinh trưởng, phát triển của gia cầm và hạn chế dịch bệnh,
nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
Đặc biệt, khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì vấn
đề an toàn vệ sinh thực phẩm, trong đó có thịt gà sạch bệnh, sạch vi khuẩn
Salmonella là một yêu cầu cấp thiết. Vì vậy, việc nghiên cứu vi khuẩn Salmonella,
tỷ lệ nhiễm và một số đặc tính sinh vật học cũng như vai trò gây bệnh của chúng là
việc làm cần thiết, để từ đó có cơ sở xây dựng biện pháp phòng, chống bệnh đạt
hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi gà nói
riêng phát triển bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm, có sức cạnh
tranh cao trên thị trường.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Salmonella và tác dụng của chế phẩm
Biovet đến khả năng sinh trưởng, phòng bệnh thương hàn ở gà nuôi tại huyện
Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc”.
1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau đây:
- Bổ sung thêm những hiểu biết khoa học cơ bản về đặc điểm dịch tễ học của
bệnh thương hàn ở gà.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm nguồn tư liệu cho những nghiên
cứu về Salmonella trên gà nói riêng và Salmonella trên gia cầm nói chung.
- Kết quả là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp phòng và điều trị
bệnh thương hàn ở gà.
- Là cơ sở khoa học để sản xuất và ứng dụng chế phẩm Biovet trong thực tiễn
C bị tiêu diệt sau 20 phút, các chất khử trùng thông
thường như xút, phenic, formon tiêu diệt vi khuẩn nhanh chóng.
Theo Shivaprasad và cs (1997)[62] cũng giống như các vi khuẩn khác, S. gallinarum
và S. pullorum lây truyền qua nhiều đường. Gia cầm nhiễm bệnh đóng vai trò quan
trọng lớn nhất như là vật mang trùng lây lan mầm bệnh. Vai trò đầu tiên đã được
xác nhận chính là trứng ấp bị nhiễm khuẩn lây truyền hai mầm bệnh kể trên, do sự
có mặt của S. gallinarum và S. pullorum trong các noãn hoàng trước khi trứng được
đẻ ra. Phương thức lây truyền này được xác nhận là phương thức lây truyền chính.
Sự lây truyền mầm bệnh có thể xẩy ra trong đàn gà bị mổ cắn, ăn trứng và qua
các vết thương ở da và ở bàn chân.
Phân gà nhiễm bệnh, thức ăn, nước uống và chất độn chuồng bị ô nhiễm cũng
là nguồn lây truyền mầm bệnh.
4
Các động vật nhiễm Salmonella có thể trở thành vật mang trùng dưới dạng
mãn tính không thể hiện triệu chứng lâm sàng. Khả năng đề kháng của gia cầm
trưởng thành với S. gallinarum và S. pullorum rất cao, nên ít khi nổ ra thành dịch
bệnh lớn.
Vi khuẩn Salmonella thường thấy ở đường ruột, túi mật của gia súc khỏe, phổ
biến nhất là S. typhimurium. Vi khuẩn gallinarum – pullorum có thể lây bệnh cho
gà, gà tây, gà sao và các loại chim bồ câu, chim trĩ, chim sẻ, vẹt, đối với vịt, ngan,
ngỗng cũng bị nhiễm và mắc do vi khuẩn này. Bệnh thương hàn do vi khuẩn
Salmonella gallinarum pullorum gây nên. Vi khuẩn này không có lông và không di
động được (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[34] .
* Đặc tính nuôi cấy
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001)[34] Salmonella gallinarum pullorum là
loại vi khuẩn hiếu khí dễ nuôi cấy trên các môi trường thông thường.
- Môi trường thạch thường: trên mặt thạch, sau 24 giờ vi khuẩn mọc thành
2
1/1000 giết chết vi khuẩn sau 30 giây, focmol 1% sau 5 phút, thuốc tím 1‰
và clorua vôi giết chết vi khuẩn sau 20 phút (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[34].
1.1.2. Triệu chứng
Thời gian nung bệnh phụ thuộc vào độ tuổi và sức đề kháng của con vật khi bị
nhiễm bệnh, thường kéo dài từ 2-14 ngày.
Triệu chứng, bệnh tích của gà con nở ra từ trứng bị nhiễm Salmonella thể hiện
ngay trong máy ấp nở hay ngay sau khi gà nở ra. Thường thì trứng gà mang trùng
đến ngày nở gà con không làm vỡ vỏ trứng để chui ra nên bị chết ngạt. Số còn lại
sau nở thường ốm yếu và phát bệnh ngay sau đó. Những gà bị nhiễm trùng sau nở
có triệu chứng muộn hơn, khoảng từ 3-10 ngày.
Gà bệnh ốm yếu có trọng lượng nhỏ hơn nhiều so với các con khác. Bụng gà
trễ xuống do lòng đỏ không tiêu. Gà thường kêu xao xác, đứng tụm lại ở góc sân,
góc chuồng, mệt mỏi, xù lông, xã cánh. Nền có những bãi phân trắng, hậu môn gà
bết đầy phân, gà nọ mổ vào hậu môn gà kia có thể làm chảy máu. Phần lớn gà bệnh
chết sau 2-3 ngày và có thể kéo dài 1-2 tuần. Tỷ lệ chết cao ở giữa tuần thứ nhất đến
tuần thứ 3. Sang tuần thứ 4 bệnh dừng lại.
Gà đẻ bị bệnh thường ở thể mãn tính, gà bệnh ủ rũ, gầy yếu, xù lông. Bệnh lý
ở buồng trứng dẫn đến viêm phúc mạc làm xoang này tích nước trương to, do vậy
gà đứng như chim cánh cụt. Gà mái giảm đẻ, vỏ trứng xù xì, lòng đỏ có máu. Gà
trống ỉa chảy triền miên và có thể chết đột ngột do viêm hoại tử các cơ quan phủ tạng.
Gà bệnh thường ỉa chảy, phân trắng bết quanh hậu môn và kéo dài liên tục, nhiều ngày,
gà gầy yếu dần, mào tái do thiếu máu và dẫn tới chết sau vài tuần mắc bệnh. Tỷ lệ gà
ốm và chết thường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ tuổi lây nhiễm, dinh dưỡng
và quy trình chăm sóc. Tỉ lệ chết cao nhất ở giai đoạn 2 tuần sau khi gà nở, sau đó
giảm dần vào tuần thứ 3 và tuần thứ 4 (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2012)[14].
1.1.3. Bệnh tích
Bệnh tích ở gà con thấy xuất hiện lòng đỏ không tiêu. Thông thường sau nở 8-
10 ngày lòng đỏ đã tiêu hết nhưng trong trường hợp này gà chết ở tuần thứ 2-4 mà
lòng đỏ vẫn tồn tại, có màu vàng xám, mùi thối.
hiện, tuy nhiên không phải tất cả đều gây bệnh cho người.
Vi khuẩn Salmonella có hình gậy ngắn, 2 đầu tròn, kích thước 0,4-0,6 x 1-3 ,
không hình thành giáp mô và nha bào. Đa số các loài Salmonella đều có khả năng di
động mạnh do có từ 7-12 lông xung quanh thân. Salmonella gallinarum và
Salmonella pullorum gây bệnh cho gia cầm, không có lông, không có khả năng di
động và thường có kích thước nhỏ hơn các Salmonella khác. Lông giúp vi khuẩn di
động, có hình tròn, dài, xuất phát từ màng cytoplasma. Do có cấu trúc từ các sợi
7
protein hình xoắn nên có thể co giãn, vì di động nên lông của chúng rất khó nhuộm,
nếu nhuộm bằng phương pháp đặc biệt có thể nhận thấy bằng kính hiển vi thông
thường. Lông có tính kháng nguyên và do các gen mã hóa tổng hợp protein riêng
quy định. Các gen mã hóa này dễ bị biến đổi dẫn tới mất khả năng tạo lông. S.
gallinarum, và S. pullorum đều không có lông nên chúng không di động và không
có kháng nguyên lông. Vi khuẩn Salmonella dễ nhuộm với thuốc nhuộm, bắt màu
Gram âm đều toàn thân hoặc ở 2 đầu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[34].
1.2.2. Đặc điểm nuôi cấy
Salmonella vừa hiếu khí vừa kị khí không bắt buộc, dễ nuôi cấy, nhiệt độ thích
hợp 37
0
C nhưng có thể phát triển được ở nhiệt độ 6 - 42
0
C, pH thích hợp là 7,2- 7,6;
phát triển được ở pH 6-9. Tuy nhiên, vi khuẩn có thể mọc ở 42
0
C. Đặc tính này
được ứng dụng trong phân lập Salmonella, nhằm ức chế sự phát triển của các vi
khuẩn khác, trong trường hợp bệnh phẩm bị tạp nhiễm (Timoney và cs, 1988)[68].
Các khuẩn lạc Salmonella có H
2
S dương tính mọc trong môi trường xylose
lysine deroxycholate (XLD) và XLD có novobioxin (XLDN) đều có màu đen.
Môi trường Endo: Vi khuẩn Salmonella mọc hình thành khuẩn lạc mầu hồng,
tròn trơn nhẵn bóng, trông giống giọt sương trên nền hồng nhạt của môi trường.
Trong tất cả các môi trường nuôi cấy, khuẩn lạc đều có thể thay đổi theo thời
gian, đôi lúc có sự dị thường về hình thái của khuẩn lạc (Snoyeboc G.H, 1991)[65].
1.2.3. Đặc tính sinh hóa
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008)[38] đặc tính chung của Salmonella là
không lên men đường lactose. Mỗi loài Salmonella có khả năng lên men một số
đường nhất định và không đổi. Phần lớn các loài Salmonella lên men có sinh hơi
đường glucoza, mannit, mantoza, galactoza, levuloza, arabinoza. Một số loài như S.
abortus equi, S. abortus bovis, S. abortus ovis, S. typhi, S. typhisuis, S. cholerae
suis, S. gallinarum, S. enteritidis cũng lên men các đường nhưng không sinh hơi.
Riêng S. pullorum không lên men mantoza, S. cholerae suis không men
arabinoza. Tất cả các vi khuẩn Salmonella đều không lên men lactoza, saccaroza.
Salmonella trong môi trường thạch TSI do sản sinh alkaline nên tạo phần trên
mặt thạch nghiêng phía trên có mầu đỏ, dưới đáy ống nghiệm màu vàng do axit, co
nhiều bọt khí, môi trường chuyển màu đen do khí H
2
S của vi khuẩn sinh ra, màu
đen môi trường thường làm át phản ứng tạo axit ở phần đáy ống nghiệm.
Do quá trình phân hủy lysine tạo alkaline của Salmonella nên phần trên mặt
thạch nghiêng môi trường phân lập LIM có màu đỏ tía sâu hơn xuống dưới đáy ống
nghiệm, môi trường thường biến màu đen nhạt do H
2
S mà vi khuẩn sinh ra.
Các khuẩn lạc Salmonella mọc trên môi trường thạch TSI và LIM được cấy
chuyển sang các môi trường phân lập phụ trợ (Addition indentification media) để
C trong 5phút hoặc ánh sáng mặt trời
chiếu trực tiếp trong 5 giờ có thể diệt được vi khuẩn.
Các chất diệt trùng thông thường dễ phá huỷ vi khuẩn hoàn toàn: HgCl
2
1/500;
formol 1/500 diệt vi khuẩn trong 15 - 20 phút.
Đặc biệt Salmonella có thể sống trong thịt ướp muối nồng độ 29% được 4 - 8
tháng ở nhiệt độ từ 6 - 12
0
C.
Xử lý miếng thịt nhiễm trùng bằng hơ lửa hay nướng ít có tác dụng diệt vi
khuẩn ở bên trong (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[34].
10
1.2.5. Cấu trúc kháng nguyên của Salmonella
Cấu trúc kháng nguyên của Salmonella hết sức phức tạp, gồm rất nhiều loại.
Theo Phạm Hồng Sơn (2002)[30] Salmonella có hơn 67 loại kháng nguyên O (có
nhiều tài liệu công bố hơn 80 loại), 94 loại kháng nguyên H pha 1, hơn 11 kháng
nguyên H pha 2, kháng nguyên K là kháng nguyên Vi.
Những năm gần đây, người ta phát hiện thêm kháng nguyên pili của
Salmonella, yếu tố giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào biếu mô. Có tới 80% type
Salmonella sản sinh kháng nguyên pili, trong đó có S. typhimurium. Cần phân biệt
kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella là:
Kháng nguyên O (O-Antigen): kháng nguyên thân.
Kháng nguyên H (H- Antigen): kháng nguyên lông
Kháng nguyên K (K-Antigen): kháng nguyên vỏ.
Kháng nguyên F (Fimbriae Antigen): kháng nguyên pili.
Trong đó kháng nguyên có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán là kháng
cấu tạo của LPS, chuỗi đa đường gắn vào 2 thành phần khác nữa là phần Lypit A và
phần lõi (Core) có tính chất đặc biệt quan trọng trong quá trình bệnh lý.
Kháng nguyên O được cấu tạo bởi các đơn vị Oligosaccharide kế tiếp nhau,
chúng là đơn vị cơ sở của kháng nguyên thuộc nhóm vi khuẩn gram âm, vì vậy trật
tự sắp xếp các loại đường và cách nối quyết định đặc tính của kháng nguyên O.
Phần kháng nguyên O được nối với phần lõi có độ dài ngắn khác nhau, chứa
các loại đường khác nhau, hoặc có chứa một số loại đường hãn hữu không thấy
trong tự nhiên, góp phần tạo nên sự đa dạng của các chủng Salmonella.
Kháng nguyên - O không phải là độc tố nhưng là yếu tố gây bệnh của vi
khuẩn, giúp vi khuẩn chống lại khả năng phòng vệ của cơ thể, chống lại hiện tượng
thực bào (Moris,1976)[57].
1.2.5.2. Kháng nguyên vỏ
Kháng nguyên K của Salmonella không phức tạp, có một kháng nguyên vỏ đã
biết là kháng nguyên Vi ( từ chữ Virulence nghĩa là độc tính) và cũng chỉ có ở 2
type huyết thanh S. typhi, S. paratyphi (Nguyễn Như Thanh và cs 2001)[34]
Theo Kauffmann F.M.D. (1972) có 3 loại kháng nguyên K là: kháng nguyên
5 (KN 5), kháng nguyên Vi (KN Vi), kháng nguyên M (KN M). Đây là các kháng
nguyên vỏ (capsular) được phân thành nhiều nhóm trong họ vi khuẩn đường ruột,
được biểu thị bằng các chữ cái A, B, L nhờ các đặc điểm sinh hoá khác nhau (Chữ
K bắt nguồn từ chữ Kapsel trong tiếng Đức).
12
- Kháng nguyên 5: Loại kháng nguyên này không liên quan đến độc lực của vi
khuẩn, kém chịu nhiệt hơn hơn kháng nguyên O, dễ bị axit HCl phá hủy và tính
chất ngưng kết của kháng nguyên - 5 hoàn toàn bị phá hủy ở nhiệt độ 120
0
C nhưng
không bị phá hủy bởi cồn.
Colonization Factor Antigen (CFA) I và II (Trần Quang Diên, 2002)[5].
1.2.5.5. Kháng nguyên lông (kháng nguyên H)
Kháng nguyên H của Salmonella bản chất là một protein nằm trong phần lông
của vi khuẩn. Kháng nguyên H không chịu nhiệt, rất kém bền vững so với kháng
nguyê O; bị phá huỷ ở 60
0
C trong 1 giờ, dễ bị phá hủy bởi cồn và axit yếu. Kháng
nguyên H không có ý nghĩa trong việc tạo ra miễn dịch phòng bệnh, nhưng có ý
nghĩa trong việc phân loại, định danh vi khuẩn.
Kháng nguyên H không quyết định yếu tố độc lực, không có vai trò bám dính,
nhưng có tác dụng bảo vệ vi khuẩn đường ruột tránh sự tiêu diệt của đại thực bào,
giúp vi khuẩn sống và nhân lên trong tế bào gan, thận và ngay cả trong đại thực
bào (Weinstein, 1984)[71].
Kháng nguyên H chia làm 2 pha. Pha 1 có tính chất đặc hiệu, gồm có 28
kháng nguyên lông, được biểu thị bằng chữ la tinh thường: a, b, c, d, f, g nếu hết
cả 28 chữ thì người ta sử dụng chữ f và số đứng bên phải chữ f. Ví dụ f5, f27 Pha
2 không có tính chất đặc hiệu, gồm có 6 loại, được biểu thị bằng chữ số Ả rập: 1, 2,
3, 4, 5, 6. Pha 1 và pha 2 được biểu thị bởi H
1
và H
2
được kiểm tra bởi một phát
động H
2
(Promoter H
2
), nhờ sự phát động này mà có thể chuyển ngược lại một
mặt thúc đẩy H
2
và ức chế H
Kháng nguyên K cũng có ý nghĩa về mặt độc lực vì nó tạo hàng rào bảo vệ
giúp vi khuẩn chống lại tác động ngoại cảnh và hiện tượng thực bào (Nguyễn Như
Thanh, 2001)[34]
- Yếu tố bám dính:
Theo Lê Văn Tạo (1994)[33] trên mỗi tế bào vi khuẩn Salmonella có từ 2-400
fimbriae, với chức năng là giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non
để gây bệnh.
Khả năng bám dính của vi khuẩn là yếu tố gây bệnh quan trọng, là bước đầu
tiên củaquá trình gây bệnh của vi khuẩn đường ruột, đó là quá trình liên kết vững
chắc giữ bề mặt của vi khuẩn với bề mặt của tế bào vật chủ. Quá trình bám dính:
Trước hết, vi khuẩn liên kết với từng phần của bề mặt tế bào; tiếp theo là quá trình
hấp phụ và cuối cùng là quá trình tương tác giữa yếu tố bám dính của vi khuẩn (đó
là phân tử fimbriae type I) với điểm tiếp nhận trên bề mặt của tế bào (Nguyễn Như
Thanh và cs 2001)[34].
Yếu tố bám dính của Salmonella có điện tích ion bề mặt trái dấu với ion bề
mặt nhung mao ruột, thì điểm tiếp xúc có tương tác (hút) xẩy ra và vi khuẩn bám
dính lên bề mặt của tế bào. Khả năng bám dính là yếu tố quan trọng của vi khuẩn
xâm nhập vào tế bào vật chủ. Những vi khuẩn có độc lực cao thì sẽ có khả năng
bám dính tốt hơn so với các vi khuẩn có độc lực thấp hơn.
- Khả năng xâm nhập và nhân lên:
15
Vi khuẩn xâm nhập được vào tế bào biểu mô ruột là bước cần thiết của quy
trình gây bênh. Sự xâm nhập của Salmonella vào tế bào biểu mô ruột là một quá
trình tổng hợp gồm nhiều yếu tố tham gia. Sau khi tiếp xúc với tế bào vật chủ, vi
khuẩn Salmonella tác động làm tăng hàm lượng Ca
++
nội bào, hoạt hóa actin
chlotetracillin, neomycin, furazolidon, streptomycin và sulphonamide cho thấy
100% số chủng Salmonella đề kháng với penicillin và sulphonamide.
Sử dụng kháng sinh trong phòng và trị bệnh đem lại nhiều thành công và có
hiệu quả kinh tế nhưng đồng thời đã tạo áp lực chọn lọc đối với vi khuẩn. Việc
dùng kháng sinh đã tạo ra sự đề kháng với chính kháng sinh đó ở một mức độ nhất
định trong quần thể vi khuẩn. Vì vậy cần phải có những khuyến cáo, những chỉ dẫn
cụ thể cho người sử dụng thuốc, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và an toàn
trong chăn nuôi.
1.2.6.2. Các yếu tố là độc tố của vi khuẩn Salmonella
Độc tố đƣờng ruột (enterotoxin)
Độc tố đường ruột của vi khuẩn Salmonella có hai yếu tố chính là yếu tố thẩm
xuất nhanh (Rapit Permeability Factor - RPF) và yếu tố thẩm xuất chậm
Yếu tố thẩm xuất nhanh giúp Salmonella xâm nhập vào tế bào biểu mô, làm
trương tế bào CHO (Chinese Hansten Ovary Cell). Yếu tố thẩm xuất nhanh có cấu
trúc, thành phần giống độc tố chịu nhiệt của E. coli được gọi là độc tố chịu nhiệt
của Salmonella (Heat Stable Toxin - ST), cấu trúc phân tử gồm những chuỗi
polysaccarit và một số chuỗi poly-peptit phân tử lượng lớn hơn 90.000 dalton, chịu
được ở nhiệt độ 100
0
C trong 4 giờ, nhưng bị phá huỷ nhanh khi hấp cao áp và bền
vững ở nhiệt độ thấp. Độc tố này làm tăng tính thấm thành mạch, phá hủy các mạch
máu cục bộ (Peteron, 1980)[59].
Nội độc tố (endotoxin)
Nội độc tố nằm ở lớp màng ngoài của tế bào vi khuẩn và được cấu tạo bởi
thành phần cơ bản là Lipopolysaccharide (LPS). LPS có cấu tạo phân tử lớn, gồm 3
vùng riêng biệt với các đặc tính và chức năng riêng biệt: Vùng ưa nước, vùng lõi và
vùng lipit A.
Vùng ưa nước bao gồm một chuỗi Polysaccharide chứa các đơn vị cấu trúc kháng
nguyên O. Vùng lõi có bản chất là acid heterooligosaccharide, ở trung tâm, nối kháng
nguyên O với vùng lipit A. Vùng lipit A đảm nhận chức năng nội độc tố của vi khuẩn.