VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TÌNH
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở NƢỚC TA
HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng & chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số:
9 22 90 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : GS.TS. HỒ SĨ QUÝ
HA NOI - 2018
Công trình đƣợc hoàn thành tại
Học viện Khoa học xã hội
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : GS.TS. Hồ Sĩ Quý
Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Văn Huyên
Phản biện 2: GS.TS. Lê Hồng Lý
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn
Luận án đƣợc bảo vệ trƣớc hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện khoa học xã hội
Vấn đề là ở chỗ, hiện hay việc xác định hệ thống triết lý nhân sinh trong kho tàng
tục ngữ, ca dao Việt Nam trên thực tế chưa được tìm hiểu một cách hệ thống. Đại đa số
các tác giả tuy đánh giá cao giá trị của các triết lý nhân sinh, chỉ ra sự tồn tại của một số
triết lý nhân sinh cụ thể trong kho tàng tục ngữ, ca dao và phân tích nội dung của chúng,
nhưng lại chưa tiến hành hệ thống hóa, phân loại, và đánh giá ý nghĩa nhiều tầng, đa diện
của tục ngữ, ca dao đối với các xã hội ở từng giai đoạn lịch sử và trong toàn bộ đời sống
xã hội nói chung. Việc xem xét cũng chủ yếu tiến hành trong khuôn khổ những nghiên
cứu văn học, văn hóa học… hầu như rất ít được nghiên cứu từ góc độ triết học.
Đối với việc nghiên cứu từ góc độ triết học, những vấn đề cần phải giải đáp là:
Những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam gồm
những gì? Làm thế nào để phân loại, xác định và nhận diện hợp lý các triết lý nhân
sinh phong phú, đa dạng trong đời sống xã hội Việt Nam ở các thời kỳ lịch sử khác
nhau? Ý nghĩa định hướng của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao đối với đời sống
xã hội hiện nay thể hiện như thế nào? Cần phải làm gì và làm như thế nào để giữ gìn
và phát huy những nội dung của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam vào
giáo dục con người trong bối cảnh hiện nay?
1
Nghiên cứu triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, do vậy có ý nghĩa
không nhỏ trong việc khẳng định những giá trị quý báu của văn hóa dân tộc. Trên cơ
sở đó, việc làm rõ, đánh giá những giá trị của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao
Việt Nam, sẽ góp phần làm tăng cường sức sống của đời sống tinh thần xã hội, củng
cố niềm tin, lý tưởng sống cho mỗi người Việt Nam hiện nay dưới tác động của toàn
cầu hóa.
Vì những lý do đó, tác giả đã chọn: “Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt
Nam và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay” để làm đề tài luận
án tiến sĩ triết học này.
2.1. Mục đích
- Nghiên cứu, xác định những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp logic - lịch sử, quy nạp - diễn dịch, tổng hợp phân tích, so sánh - đối chiếu, thống kê,…
Luận án chú trọng sử dụng các tài liệu triết học và triết lý, về đời sống tinh thần
và vật chất của xã hội và con người, về văn hóa và con người. Trong chừng mực có
liên quan, luận án có sử dụng các tài liệu văn học, văn hóa học có liên quan đến chủ đề,
các báo cáo chuyên môn của các tổ chức văn hóa - xã hội của Đảng và Nhà nước, đặc
biệt các báo cáo của các Hội văn học - nghệ thuật, các trường Đại học khu vực phía
bắc… có liên quan đến đề tài.
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án đã xác định được những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục
ngữ, ca dao Việt Nam. Bước đầu phân loại các loại triết lý nhân sinh theo đặc thù của
đời sống người Việt thể hiện trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam.
Luận án đã cố gắng chỉ ra những nét độc đáo, góp phần khẳng định giá trị của
triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam.
Luận án đã phân tích làm rõ ý nghĩa của các triết lý nhân sinh trong việc xây
dựng nhân sinh quan lành mạnh của con người Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án đã góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận như nội dung cơ bản, phân
loại, ý nghĩa định hướng… của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam.
Luận án đã chỉ ra ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
đối với việc xây dựng nhân sinh quan của con người hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy về triết học, triết lý, chủ nghĩa duy vật lịch sử, văn học dân gian, văn hóa
học về ca dao, tục ngữ Việt Nam, đặc biệt về triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao
Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
cần nghiên cứu” trên Tạp chí “Nghiên cứu con người”, số 2 năm 2002 là một bài báo
rất sâu sắc về giá trị con người của người Việt Nam trong lịch sử và hiện nay; Hồ Sĩ
Quý với “Con người và phát triển con người”, Giáo trình Khoa Triết học, Trường Đại
học Khoa học xã hội và nhân văn, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007. Nguyễn Văn
Dân với “Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập”, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011… là những công trình có ý nghĩa mà tác giả luận án đã
khai thác được nhiều gợi ý khi bàn đến các vấn đề triết lý nhân sinh.
1.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý trong tục ngữ, ca
dao Việt Nam
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về giá trị ca dao tục ngữ nói chung
Trong luận án, các các công trình nghiên cứu có giá trị được tổng quan và phân
tích là:
Nguyễn Văn Ngọc với công trình sưu tập ca dao, tục ngữ được đánh giá là công
phu nhất, có nội dung rất phong phú là bộ sách “Tục ngữ phong dao”, Nxb. Đại Nam,
xuất bản năm 2003 (xuất bản lần đầu năm 1928). Vũ Ngọc Phan với “Tục ngữ, ca dao,
dân ca Việt Nam”, Nxb. Khoa học xã hội, 2010. “Tục ngữ Việt Nam” của nhóm tác
giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri, Nxb. Khoa học xã hội xuất bản
1975. Nguyễn Xuân Lạc với “Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường”, Nxb.
Giáo dục, Hà Nội 1998. Thao Nguyễn với công trình “Ca dao Việt Nam - Viên ngọc
quý trong kho tàng văn học dân gian”, Nxb Văn hóa – thông tin, Hà Nội, 2005. Vũ Thị
Thu Hương với “Ca dao Việt Nam - Những lời bình” Nxb. Văn hóa – thông tin, Hà
Nội, 2000.
Trong những công trình này, các tác giả đã dày công sưu tập ca dao, tục ngữ các
vùng miền, tiến hành hệ thống hóa và phân loại các loại hình ca dao tục ngữ. Một số
4
công trình đã phân tích sâu nội dung và giá trị của các loại hình ca dao tục ngữ điển
hình.
Những công trình này chủ yếu bàn luận vấn đề trên phương diện văn học. Tuy
trống, đòi hỏi phải khám phá nhiều hơn và sâu hơn.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian nói chung, tục ngữ ca dao
nói riêng cũng đã có những thành tựu đáng kể trong việc phân loại tục ngữ ca dao. Nhưng
thực sự lại chưa có một công trình nào nghiên cứu và phân loại các nội dung cơ bản của
triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam. Ý nghĩa của nó về phương diện triết lý,
do vậy, cũng rất mờ nhạt trong các công trình. Các công trình đi trước không đặt ra cho
mình việc xác định và hệ thống hóa các triết lý nhân sinh trong ca dao tục ngữ.
5
Những công trình nghiên cứu của các các giả đi trước đã giúp tác giả luận án
những gợi ý quan trọng và có ý nghĩa về cơ sở văn hóa - xã hội của loại hình tục ngữ
ca dao, tính kinh nghiệm, địa phương của những khái quát của loại hình tri thức này,
đời sống con người với những định hướng kinh nghiệm mà từ đó có thể khái thác
những chỉ dẫn về thế giới quan và nhân sinh quan. Tuy nhiên những gọi ý như vậy rất
tản mạn, mờ nhạt và khá xa triết học.
Những thiếu hụt vừa nêu cũng chính là nhiệm vụ mà luận án đặt ra cho mình để
nghiên cứu, bổ sung, làm rõ.
Kết luận chƣơng 1
Nghiên cứu ca dao, tục ngữ Việt Nam là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu,
nhiều tác giả quan tâm. Hàng loạt các nghiên cứu về các nội dung chi tiết của ca dao
tục ngữ đã được các thế hệ nối tiếp nhau công bố. Có khá nhiều các tác phẩm nghiên
cứu về tục ngữ, ca dao đã đạt tới trình độ những công trình có giá trị, nhiều công trình
ở dạng quy mô lớn. Tuy nhiên, do mục tiêu, nhiệm vụ của các công trình cụ thể chưa
đặt ra hoặc ít bàn đến các vấn đề về triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam,
nên cho đến nay, nội dung này vẫn là chủ đề chưa được khám phá ở mức cần thiết.
Chƣơng 2
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ CA DAO VIỆT NAM:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1. Quan niệm về triết lý nhân sinh
triết lý kinh doanh,.v.v..
2.1.1.3. Phân biệt triết học với triết lý
Luận án chỉ ra mối liên hệ giữa triết học và triết lý như sau:
- Triết học là một hệ thống tri thức, có thể là một bộ môn khoa học (có thời kỳ
còn được xem là khoa học của mọi khoa học), triết lý không phải là hệ thống chặt chẽ,
hay bộ môn khoa học. Như vậy, triết lý hẹp hơn triết học.
- Từ triết học người ta có thể rút ra những triết lý, cách ứng xử, phương châm
sống và hành động của những cá nhân và cộng đồng nào đó. Từ triết lý, chưa thấy hệ
thống lý luận triết học nào được xây dựng.
- Trong đời sống tinh thần xã hội, có hiện tượng là khi chưa có một nền triết học
thành văn hoàn chỉnh, nhưng đã có triết lý. Như vậy, triết lý có thể có trước triết học.
- Triết lý có thể được rút ra từ triết học. Nhưng phần lớn triết lý nảy sinh từ đời
sống thường ngày, từ ý nghĩa trong một số áng văn thơ, công trình kiến trúc, điêu khắc,
hội hoạ; từ một số lễ hội, y học, võ thuật, truyền thuyết, cổ tích, thần thoại,… Triết lý
còn được thể hiện qua những hành động, đó chính là triết lý hành động. Lại có cả triết
lý im lặng, triết lý vô ngôn của nhà Phật.
2.1.2. Nhân sinh, nhân sinh quan và triết lý nhân sinh
2.1.2.1. Quan niệm về nhân sinh
Nhân sinh (với tính cách là khái niệm dùng để chỉ một lĩnh vực thuộc đối tượng
của nhận thức được phản ánh ở các trình độ khác nhau - từ ý thức thông thường, triết
lý dân gian đến tôn giáo, tư tưởng triết học hay triết học…) là quan niệm về giá trị của
đời sống con người, về ý nghĩa của cuộc đời, về mục đích của cuộc sống, về giá trị làm
người của mỗi cá nhân, về giá trị xã hội của mỗi con người, về vị thế của con người
trong xã hội và trong thế giới…
2.1.2.2. Nhân sinh quan
Nói đến nhân sinh quan là nói tới quan điểm, quan niệm sống với hệ thống giá
trị cá nhân và xã hội định hướng hành vi và hoạt động của con người. Quan điểm sống,
quan niệm sống và hệ giá trị (nhân sinh quan) quy định cách sống, lối sống và hành vi
và phẩm chất của hành vi, quy định việc xác định ý nghĩa của cuộc sống và ý nghĩa
2.2.1.2. Phân biệt tục ngữ và thành ngữ.
Tục ngữ thường là là một mệnh đề hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý; còn
thành ngữ chỉ là một cụm từ, một bộ phận của mệnh đề, diễn đạt một quy tắc, một
quan hệ tất nhiên, một định hướng nhận thức và hành động. Tục ngữ thiên về đúc rút
kinh nghiệm sống. Thành ngữ lại nặng về khái quát, ẩn dụ bằng nghệ thuật tu từ để
định hướng con người. Thành ngữ và tục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói hằng
ngày của nhân dân. Không dễ phân biệt thành ngữ với tục ngữ. Hầu hết thành ngữ và
tục ngữ đều do nhân dân sáng tác, tuy nhiên cũng có một số ít câu rút ra từ các thi
phẩm nổi tiếng, hoặc từ ca dao, dân ca.
2.2.1.3. Quan niệm về ca dao
Ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu. Đôi khi là lời những
đoạn dân ca đã thoát ra khỏi đời sống âm nhạc của nó. Ca dao để lại dấu ấn rõ rệt nhất
trong văn học và trong đời sống. Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu - tình yêu
nam nữ, yêu gia đình, yêu quê hương đất nước và diễn tả các mối quan hệ trong đời
sống xã hội...
2.2.1.4. Phân biệt ca dao với dân ca
Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán – Việt. Thời trước người ta còn gọi ca dao là
8
phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời
đại. Tuy nhiên, theo chúng tôi ca dao có từ hai đến tám chữ đều có thể ngâm được
nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát thì nó sẽ biến thành dân ca, vì hát yêu cầu
phải có khúc điệu và như vậy phải có thêm tiếng đệm. Tác giả Vũ ngọc Phan lấy ví dụ:
Một đàn cò trắng (thời) tung bay
Bên nam (thời) bên nữ ta cùng hát lên1
Vậy thì ca dao là một loại thơ dân gian có thể được ngâm như các loại thơ khác
và có thể xây dựng thành các làn điệu dân ca.
Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những câu hát có nhạc điệu
nhất định, nó ngả về nhạc điệu ở mặt hình thức, nên ca hát người ta cung gọi là thanh
Vũ Ngọc Phan (2010), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb. Thời đại. Hà Nội, tr.43
9
2.2.3.2. Vai trò của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao đối với đời sống con
người
Trong đời sống hàng ngày của người dân, những kinh nghiệm trong lao động sản
xuất, những tri thức đúc kết từ văn hóa bên ngoài, được sử dụng trong những tình
huống sống - đơn giản và phức tạp, gay cấn và bình thường… được thể hiện qua tục
ngữ, ca dao, được cô đọng trong các triết lý lại là vũ khí tinh thần sắc bén, là kim chỉ
nam định hướng hoạt động, là ngọn lửa hy vọng dẫn dắt các thế hệ người. Chính
những triết lý này đã đồng hóa nhiều tư tưởng ngoại lai, là cơ sở tiếp thu có chọn lọc
các giá trị văn hóa – văn minh bên ngoài, biến thành thế giới quan, nhân sinh quan chỉ
đạo, định hướng cuộc sống và phương thức ứng xử của người dân lao động.
Không hệ thống đến mức trở thành học thuyết, nhưng triết lý nhân sinh trong tục
ngữ ca dao lại có sức sống mãnh liệt trường tồn cùng với dân tộc. Ngày nay, những
quan niệm, tư tưởng đó không hề cản trở chúng ta trong hội nhâp, trái lại lại là cơ sở,
điều kiện, là hành tranh giúp chúng ta hội nhập và hội nhập thành công với các nền
văn hoá khác.
Kết luận chƣơng 2
Tục ngữ, ca dao là một hình thức của nghệ thuật ngôn từ tồn tại bằng phương
thức truyền miệng. Nó từ tồn tại xã hội mà ra, phản ánh tồn tại xã hội, dẫn dắt con
người sống, sáng tạo trong tồn tại xã hội.
Tri thức của tục ngữ, ca dao là tri thức dân gian được rút ra trên cơ sở quan sát và
miêu tả cái cụ thể, đó là những tri thức kinh nghiệm, những “lẽ phải thông thường”.
Tục ngữ, ca dao là một trong những thể loại của Văn học dân gian nên tác giả là tập
thể, là quần chúng nhân dân. Tục ngữ, ca dao Việt Nam chứa đựng trong nó triết lý
nhân sinh, thứ triết lý có sức mạnh đặc biệt trong việc phát hiện ra bản chất và tính quy
sẵn có với sự giáo dục; nhưng bên cạnh đó triết lý dân gian cũng lại chú trọng đến tư
chất di truyền. Nhiều câu tục ngữ khẳng định bản tính con người do thiên định – tiền
định.
Hơn thế nữa, người Việt đã thấy được tính di truyền đó không phải là yếu tố duy
nhất làm nên bản tính con nguời. Yếu tố giáo dục cũng đã được khẳng định. Con
người sinh ra trong môi trường tốt, nhận được sự giáo dục ngay từ nhỏ thì nhân cách
của con người sẽ phát triẻn tốt. Mối quan hệ đầu tiên mà con người tiếp xúc đó là quan
hệ gia đình, mà từ đó, nhân cách sẽ dần dần hình thành và phát triển. Truyền thống gia
đình được lĩnh hội qua cách giáo dục của cha mẹ:
- Cha hiền con thảo3
- Phúc đức tại mẫu4
3.2. Triết lý về quan hệ con ngƣời với tự nhiên
Trong quá trình sống của mình, con người trước hết phải dựa vào tự nhiên, phải
thừa huởng từ tự nhiên, luôn cố gắng tìm cho mình cái ăn, cái mặc, chỗ ở, và luôn luôn
đấu tranh với tự nhiên để vươn lên với mức sống cao hơn. Với phương thức canh tác
chủ yếu là trồng trọt, người Việt hiểu được rằng đất đai là vô cùng quan trọng. Cũng
giống như quan niệm của nhiều dân tộc khác, ở buổi đầu của nhân loại, người Việt
cũng thần thánh hóa tự nhiên. Mỗi lĩnh vực của tự nhiên đều được gán cho các vị thần,
đều được khoác cho các sức mạnh siêu nhiên. Trong tín ngưỡng dân gian người Việt
có thần Sông, thần Núi, thần Mưa, thần Biển… Hiểu được giá trị của tự nhiên, người
Việt biết quý trọng tự nhiên. Đối với người Việt, rừng là vàng, biển là bạc;
- Tấc đất tấc vàng5
- Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu6
Người Việt coi trọng tự nhiên, thấy được tầm quan trọng của tự nhiên, nhưng
không quá sợ hãi tự nhiên, không khuất phục tự nhiên. Trời có lúc là một lực lượng
đầy quyền năng, đầy sức mạnh, khiến cho con người phải “trông trời, trông đất, trông
mây”. Hữu sự, người Việt xưa (và cả nay) đều “lạy trời”. Thậm chí là thần thánh hóa
3
4
đời sống cộng đồng trên thế giới.
Tuy có nhiều điểm chung, nhưng các sự vật hiện tượng trong thế giới, bên cạnh
cái chung còn có cái đơn nhất. Cái đơn nhất tồn tại khách quan gắn liền với sự vật hiện
tượng và nó ít nhiều làm nên sự khác biệt, sự phong phú của thế giới. Và chúng ta phải
chấp nhận sự khác biệt đó, tôn trọng những giá trị khác biệt. Đây chính là nguyên tắc
của các mối quan hệ quốc gia.
Trong ca dao của người dân tộc Tày cũng có những câu rất sâu sắc khi nói về đối
nhân xử thế của con người. Bản chất người dân tộc Tày sống ngay thẳng và thật thà.
Chính vì vậy, người Tày không thích những lời nói và cách sống giả dối, hai lòng.
Giáo dục con cháu phải sống chân chính, họ dạy con cháu rằng: Dú chính bấu lao
ngày páy, cần đây bấu lao phít xá (Đứng thẳng không sợ lệch bóng/Người tốt không
sợ sai lầm) hay câu: Dú đây kin bấu lẹo, cột quẹo kin bấu đo (Ở ngay ăn không hết,
cong queo ăn không đủ).
Tục ngữ, ca dao có những lối giáo dục chân thực, hóm hỉnh tạo nên đời sống vật
chất và tinh thần phong phú. Trong đời sống hàng ngày, câu ca dao, tục ngữ vẫn được
ông bà, cha mẹ truyền tụng khuyên răn con cháu. Loại hình văn hóa truyền miệng này
như một nguồn nhựa sống để nuôi dưỡng tâm hồn cho thế hệ hôm nay và mai sau.
3.3.2. Triết lý đối nhân xử thế
7
7
Nguyễn Lân (2003): Từ điển Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.106
Nguyễn Lân (2003): Từ điển Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.237
12
3.3.2.1. Triết lý về công lao sinh thành của cha mẹ
Vấn đề ân nghĩa, về công lao của cha mẹ với con cái, về tình cảm của con cái đối
với cha mẹ đã được nhiều tác giả văn học dân gian nói đến tạo thành những triết lý đạo
Phải có một tình cảm sâu đậm như vậy thì các cặp vợ chồng mới cùng nhau chia sẻ
9
Nguyễn Lân (2003): Từ điển Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.450
Nguyễn Lân (2003): Từ điển Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.312
11
Nguyễn Lân (2003): Từ điển Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.104
12
Nguyễn Lân (2003): Từ điển Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.392
10
13
Nhóm tri thức Việt (2012), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam. Nxb.văn hóa, Hà Nội, tr.41
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh- Vũ Quang Hào (2000), Từ điển Thành ngữ và Tục Ngữ Việt Nam, Nxb. Văn Hoá, Hà Nội,
tr.322
15
Nhóm tri thức Việt (2012), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam. Nxb.văn hóa, Hà Nội, tr.171
14
13
gian khổ, vất vả và tìm thấy niềm vui trong lao động, trong cuộc sống hàng ngày. Ai
đó trong quan hệ vợ chồng mà không có tình yêu thương chân thành, sâu nặng thì đấy
chính là hiện thân của bất hạnh, bi kịch.
Trong ca dao, tục ngữ Việt Nam, tình cảm vợ chồng được thể hiện trên 3 nội
dung lớn: Tình cảm người vợ dành cho người chồng, tình cảm người chồng dành cho
vợ và sự đồng cam cộng khỏ trong đời sống vợ chồng.
Trong mối quan hệ giữa con người với xã hội, người Việt còn thể hiện một tấm
lòng tương thân tương ái, tất cả vì tập thể. Quan điểm duy vật cho rằng mọi sự vật hiện
16
Nguyễn Lân (2003): Từ điển Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.13
Nhóm tri thức Việt (2012), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam. Nxb.văn hóa, Hà Nội, tr.85
18
Nhóm tri thức Việt (2012), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam. Nxb.văn hóa, Hà Nội, tr.135
17
14
tượng đều tồn tại khách quan, độc lập và không hề phụ thuộc vào ý muốn chủ quan
của bất cứ con người nào. Do vậy, qua thành ngữ, tục ngữ phần nào thể hiện được lý
tưởng, quan niệm sống của người Việt. Trong điều kiện khó khăn, con người luôn gắn
bó giúp đỡ lẫn nhau: “Chị ngã” thì “em nâng”, chăm lo cho người khác trong điều kiện
có thể. Giúp đỡ người khác là điều kiện để mỗi cá nhân khác có thể cùng tồn tại. Tư
tưởng tương thân, tương ái không chỉ dừng lại ở mối quan hệ trong gia đình, nội tộc
mà đã phát triển nên thành tình thương yêu trong toàn dân tộc. Đó là một dân tộc
thương yêu giúp đỡ nhau, thúc đẩy nhau cùng tiến lên trong quá trình phát triển
3.4.2. Triết lý về ý nghĩa cuộc sống
Trên thế gian này con người là thứ quý giá nhất. Con người có thể làm ra mọi thứ.
Sức lao động của con người là vô hạn và cũng là cái để con người thực hiện những
ước mơ, là phương tiện tồn tại cùng với thời gian. Dân gian ví con người còn quý hơn
cả vàng bạc, của cải; điều đó làm tôn giá trị con người lên mức đỉnh cao.
Chính bởi cha ông ta rất quý trọng cuộc sông nên cũng đề cập đến cái chết – quy
luật tất yếu của tự nhiên một cách sâu sắc. Có thể nói quan niệm về cái chết là một
trong những tư tưởng tiến bộ, mang tính nhân văn sâu sắc trong quan niệm về con
người. Họ cho rằng mọi sự vật, hiện tượng kể cả con người đều có quá trình sinh ra,
trò của người thầy, nhưng mặt khác có đôi lúc người Việt lại khẳng định: “học thầy
không tày học bạn”. Thực ra câu tục ngữ trên không có hàm ý hạ thấp giá trị của
người thầy, mà nó chỉ đề cao vai trò của bạn bè. Tất nhiên là các câu tục ngữ trên đều
đúng, nhưng đúng trong hoàn cảnh, điều kiện của nó, đúng về một phương diện, khía
cạnh nhất định. Ở trường, ở lớp, thậm chí cả trong cuộc đời, thì thầy cô là người dạy
dỗ, chỉ bảo cho học trò những điều hay lẽ phải… Câu tục ngữ cảnh báo rằng sẽ thất bại
nếu ai đó có thái độ thiếu cầu thị trong học hỏi ở người thày. Nhưng đó mới chỉ là một
phần, một mặt của cuộc sống mà con người cần tiếp nhận. Ngoài giờ học, trong những
hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống, không phải lúc nào cũng có thày bên cạnh, không
phải mọi chuyện đều có thể tham vấn người thầy. Trong những trường hợp đó thì bạn
bè - những người gần gũi với mình sẽ là những người khó có thể thay thế. Những kinh
nghiệm của bạn bè sẽ được trao đổi cho nhau vào những lúc vui chơi hay chính những
câu chuyện hàng ngày.
3.5.2. Phạm vi ứng dụng rộng, bao quát
Tất cả những kinh nghiệm, những phán xét của cha ông ta trong ca dao, tục ngữ
không phải một ngày mà có, mà phải sau một thời gian nhất định, qua rất nhiều trường
hợp cụ thể mới có thể ổn định thành một phương châm sống, một dịnh hướng hành vi,
định hướng sống.
Có những câu ca dao, tục ngữ chỉ có ý nghĩa ở một địa phương. Nhưng lại có
những câu trở thành những câu giáo huấn, thành phương châm sống của người đời –
đúng và có giá trị với nhiều hoàn cảnh đa dạng khác nhau.
3.5.3. Trình độ khái quát cao
Tục ngữ, ca dao Việt Nam mặc dù xuất phát từ thực tiễn đời sống hàng ngày, chỉ
dựa vào quan sát thực tiễn cuộc sống, dựa vào những hiện tượng riêng lẻ nhưng lại có
một mức độ khái quát rất cao. Bởi lẽ, một hiện tượng cụ thể trong đời sống luôn luôn
chứa đựng trong nó nhiều ý nghĩa mà con người có thể liên tưởng, suy diễn, hoặc gợi
mở, thậm chí ám chỉ.
Kết luận chƣơng 3
Cùng với sự tiếp thu và Việt hóa những tri thức văn hóa, văn minh từ bên ngoài,
người Việt vốn có và đã sáng tạo ra những quan niệm, cách tiếp cận độc đáo của mình
cả toàn cầu với tất cả các hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, khoa học... khác
nhau. Giao tiếp không chỉ giới hạn trong hoạt động đối nhân xử thế, mà là mọi lĩnh
vực hoạt động phổ biến của con người, nhằm thoả mãn các nhu cầu kinh tế, chính trị,
xã hôi, văn hoá kể cả các quan hệ tình cảm, ý chí... Cả thế giới là một môi trường giao
lưu, trao đổi, hợp tác, lao động, học tập.
Qua phân tích thực trạng đạo đức lối sống ở xã hội ta hiện nay chúng ta thấy:
Vấn đề giáo dục giá trị truyền thống cho các tầng lớp trong xã hội trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết. Và những triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong việc định hướng hành vi con người, để cơn lốc của
kinh tế thị trường không làm băng hoại đi những gì là tinh hoa cốt cách của con người
Việt Nam.
4.2. Ý nghĩa định hƣớng của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao đối với
đời sống xã hội hiện nay
4.2.1. Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam góp phần thúc đẩy tư
duy lành mạnh, định hướng hành động hợp lẽ phải
4.2.1.1. Xây dựng và phát triển tư duy lành mạnh
Từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất cùng với trình độ nhận thức, trình độ trừu
tượng hóa và khái quát hóa đã đạt đến mức tương đối phát triển, đặc biệt là quá trình
lâu dài tích lũy kinh nghiệm từ việc quan sát các sự vật, hiện tượng đã giúp cha ông ta
trả lời được một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn lao động sản xuất và sinh sống để
17
phục vụ cho cuộc sống của chính mình. Nhờ những hiểu biết đó mà cha ông ta đã
tránh được những thiên tai, những tác hại do tự nhiên gây ra. Điều đáng chú ý là sự
quan sát ấy mang dấu ấn của yếu tố duy vật, chẳng hạn người xưa đã căn cứ vào sự
quan sát những phản ứng của sinh vật đối với sự thay đổi thời tiết để xem thời tiết chứ
không tìm nguyên nhân của thời tiết ở ý chí của thần linh.
Những hiểu biết như vậy tuy còn thô sơ và mới ở trình độ của những tri giác cảm
tính nhưng trong đó đã chứa đựng nhiều yếu tố hiện thực. Những hiểu biết này đã có
4.2.2.1. Trong mối quan hệ với tự nhiên
Có thể thấy, thông qua ca dao tục ngữ, cha ông ta gửi gắm những triết lý nhân
sinh về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong một nền kinh tế nông nghiệp
18
còn nghèo. Đồng thời, cha ông ta cũng gửi gắm những lời nhắn nhủ của mình tới thế
hệ con cháu mai sau trong cách ứng xử với tự nhiên đó là phải biết tôn trọng tự nhiên,
từ đó xây dựng một lối ứng xử phù hợp với tự nhiên.
Việc nắm vững những quy luật của tự nhiên không những giúp con người có
được năng suất cao hơn trong lao động, sản xuất mà còn tạo cho con người có được sự
tự do trước tự nhiên. Con người có thể làm chủ cuộc sống của mình chứ không phụ
thuộc vào tính quy luật của thần thánh.
4.2.2.2. Trong cách ứng xử của con người với xã hội
- Thứ nhất, tình yêu đôi lứa chân thành, trong sáng, bình dị nhưng cũng hết sức
thiết tha, mãnh liệt được thể hiện trong chính cuộc sống lao động hàng ngày. Tình yêu
trong ca dao, tục ngữ thật đẹp, giản dị và thanh cao, đặc biệt đẹp hơn cả khi tình yêu
ấy được thể hiện trong chính cuộc sống lao động hàng ngày. Những sắc thái tình yêu
trong ca dao, tục ngữ muôn phần phong phú và ấn tượng, thông qua những cung bậc
cảm xúc ấy, cha ông ta đã gửi gắm một triết lý nhân sinh sâu sắc về mối quan hệ giữa
con người với con người, một mối quan hệ vô cùng đặc biệt làm nên điều kỳ diệu của
cuộc sống.
- Thứ hai, Ứng xử trong gia đình người Việt được dựa trên nền tảng tình cảm hết
sức vững chắc, tốt đẹp, đó là quan hệ vợ chồng thủy chung son sắt. Từ đó đã hình
thành nên triết lý nhân sinh trong quan hệ vợ chồng ân tình, thủy chung, nhường nhịn,
chia sẻ.
- Thứ ba, Xuất phát từ quan điểm gắn bó giữa những thành viên trong gia đình,
đó là mối quan hệ trên dưới tôn kính, cha con chí hiếu. Con cháu phải lễ phép ông bà,
cha mẹ, ngược lại bố mẹ, ông bà cũng phải tôn trọng con cháu. Trong gia đình Việt
Nam, người cha không chỉ là người sinh thành ra chúng ta, mà còn là người thầy đầu
tương ái trong cộng đồng quốc gia, dân tộc: Cha ông ta nhắn gửi tới con cháu sống
phải biết yêu thương, chia sẻ giúp đỡ nhau trên tinh thần “người trong một nước phải
thương nhau cùng”.
4.2.2.3. Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam góp phần giáo dục ý
thức dân tộc và tình cảm cộng đồng
Ca dao, tục ngữ Việt Nam là kết quả lao động, sáng tạo, chứa đựng những triết lý
sâu sắc được đúc rút từ thực tiễn cuộc sống lao động của cha ông ta, cho đến nay đã
trở thành một kho tàng lý luận phong phú, phản ánh rõ nét thế giới quan và nhân sinh
quan của nhân dân ta trong buổi đầu dựng nước và giữ nước. Không những thế, trong
ca dao, tục ngữ, những tư tưởng, truyền thống tốt đẹp của dân tộc được thể hiện một
cách sâu sắc, có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách của con
người Việt Nam hiện đại, đặc biệt là thế hệ thanh niên Việt Nam
4.2.3. Về hạn chế của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
4.2.3.1. Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam quá nhấn mạnh những
tư tưởng duy tâm, siêu hình.
Cha ông ta thời trước, do trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, chưa nắm bắt
được quy luật chi phối sự phát sinh, phát triển của các sự vật, hiện tượng nên người lao
động đã giải thích chúng một cách siêu hình. Điều này nói lên sự bế tắc, không lối
thoát và nói lên tư tưởng an phận của người lao động. Chính tư tưởng an phận thủ
thường này của người lao động lại là cơ hội cho giai cấp phong kiến củng cố địa vị của
mình.
4.2.3.2. Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam quá chú trọng kinh
nghiệm
Qua việc phân tích những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca
dao Việt Nam chúng tôi nhận thấy rằng nhận thức của cha ông ta thời xưa chủ yếu dựa
vào kinh nghiệm trong quá trình sinh sống và lao động.
Nhận thức kinh nghiệm nhiều khi gặp phải những mâu thuẫn, những hạn chế
trong quá trình nhận thức vì chỉ dựa vào những cái bên ngoài cho nên khi áp dụng vào
cuộc sống tầm nhìn bị hạn chế sẽ không tránh khỏi tính chất chủ quan, thậm chí là cố
chấp, bảo thủ, lạc hậu, cản trở sự phát triển của nhận thức.
sinh sâu sắc. Triết lý ấy có tác động và ảnh hưởng tới suy nghĩ, nhận thức từ đó định
hướng nhận thức đúng cho mỗi người. Bởi vậy, nó có một ý nghĩa nhất định trong đời
sống xã hội hiện nay như: Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam thể hiện
tư tưởng duy vật, biện chứng tự phát của nhân dân lao động. Triết lý nhân sinh trong
ca dao, tục ngữ Việt Nam mang tính giáo dục rất sâu sắc. Triết lý nhân sinh trong ca
dao, tục ngữ Việt Nam góp phần giáo dục đạo đức lý tưởng sống cho nhân dân Việt
Nam nói chung và thế hệ thanh niên Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại
một vài hạn chế nhất định như: Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam còn
chứa đựng những tư tưởng duy tâm, siêu hình. Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ
Việt Nam phản ánh hiện thực khách quan, các quan hệ xã hội chủ yếu dưới hình thức
kinh nghiệm. Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam còn chứa đựng những
mâu thuẫn trong cách ứng xử với tự nhiên và xã hội của con người.
Trong thời đại ngày nay, khi con người được tiếp xúc với nhiều tư tưởng, nhiều
nền văn hóa khác nhau, thì việc nghiên cứu, tiếp thu tinh hoa văn hóa dân tộc trong
21
kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam là việc làm hết sức cần thiết. Nhiều triết lý có giá
trị đã trở thành những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp giáo
dục, là cơ sở tư tưởng để xây dựng triết học giáo dục Việt Nam
KẾT LUẬN
Tục ngữ, ca dao thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người Việt Nam từ xa
xưa. Đó là một sự phản ánh chân thực về cuộc sống với những ngôn từ dung dị, mộc
mạc, quen thuộc với người nông dân. Trong ca dao, tục ngữ, tư duy triết học được hình
thành từ sự thể hiện tình cảm, thể hiện thế giới nội tâm bằng nghệ thuật của ngôn từ,
bằng hình ảnh để tạo nên các triết lý sâu sắc.
Thực tế lịch sử đã chứng minh, các tác phẩm tục ngữ, ca dao có sức sống trường
cửu vì đấy là sự phản ánh khái quát đời sống xã hội và có tác dụng giáo dục, hướng
thiện… cho con người. Đọc các câu tục ngữ, ca dao nhiều người chúng ta có cảm giác
như cha ông ta đang để lại các tác phẩm kể về cuộc đời của chính họ. Triết lý nhân
Việt Nam”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 06, tr.82-88.
5. Nguyễn Thị Tình (2018), “Ý nghĩa định hướng của triết lý nhân sinh trong
tục ngữ ca dao đối với đời sống xã hội Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục và xã hội,
sốđặc biệt kỳ 2, tháng 05/2018, tr.209-214.
6. Nguyễn Thị Tình (2018), “Cơ sở hình thành và đặc điểm của triết lý nhân
sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục và xã hội, số đặc biệt kỳ 2,
tháng 05/2018, tr.220-225.