ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THI ANH ĐẠT
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
NHÓM CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” VẬT
LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
VỚI THÍ NGHIỆM HỌC SINH
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý
Mã số: 60140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. LÊ VĂN GIÁO
Thừa Thiên Huế, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các s ố
liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung th ực, được các
đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì
một công trình nào khác.
Tác giả
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
ĐC
GV
HS
HSPT
KN
NL
NLHS
NLHT
PT
SGK
TN
TNg
THPT
TNSP
Đối chứng
Giáo viên
Học sinh
Học sinh phổ thông
Kỹ năng
nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân …” [10]. Giáo dục phổ
thông không chỉ nhằm trang bị kiến thức mà còn phải hình thành cho người học
những năng lực, phẩm chất để cho họ có thể sống và làm việc trong một xã hội luôn
vận động và thay đổi sau khi hoàn thành chương trình trung học phổ thông.
Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đã khẳng định: “Đổi mới chương trình
nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy
người, dạy chữ và dạy nghề… Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và
đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” [12]
Giáo dục phổ thông nước ta hiện nay đang từng bước đổi mới theo hướng
chuyển từ dạy học tiếp cận nội dung sang dạy học tiếp cận năng lực người học.
Nghĩa là không phải dạy cho học sinh biết được cái gì mà học sinh phải làm được
cái gì từ cái đã biết. Để thực hiện được điều đó giáo viên cần phải chuyển từ
phương pháp dạy học “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng
kiến thức, rèn luyện kỹ năng hình thành năng lực học sinh.
8
Trong hoạt động học tập cũng như trong các hoạt động xã hội khác đòi hỏi
học sinh phải có sự phối hợp, hợp tác giữa học sinh – học sinh, giữa học sinh – giáo
viên nhằm thực hiện có hiệu quả các hoạt động và cùng hướng đến một mục đích
chung. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, khả năng hợp tác của học sinh còn rất
nhiều hạn chế. Do đó khi đứng trước các tình huống, những vấn đề cần hợp tác với
nhau thì học sinh thường tỏ ra rất lúng túng không biết phải làm như thế nào. Điều
đó khẳng định rằng năng lực hợp tác là rất cần thiết trong xã hội hiện đại.
tự học cho học sinh trong dạy học phần Quang hình học vật lí 11 trung học phổ
thông với sự hổ trợ của máy vi tính” đã đưa ra các biện pháp hình thành và rèn
luyện năng lực tự học cho học sinh nhằm phát huy tính chủ động, tích cực học tập
từ đó nâng cao chất lượng học tập ở môn Vật lí. [8]
Tác giả Nguyễn Thanh Tùng trong đề tài luận văn thạc sĩ: “Sử dụng thí
nghiệm học sinh trong chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn”- Vật lý 10
theo hướng bồi dưỡng năng lực thực hành cho học sinh” , trong đó tác giả đã nêu ra
biện pháp bồi dưỡng năng lực thực hành cho học sinh với thí nghiệm học sinh. [17]
Tuy có nhiều công trình nghiên cứu về khai thác và sử dụng thí nghiệm trong
dạy học cũng như việc bồi dưỡng năng lực tuy nhiên chưa đề cập đến việc phát triển
năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học nhóm. Do đó chúng tôi đã lựa chọn
nghiên cứu đề tài “Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học nhóm
chương “Từ trường” vật lý 11 THPT với thí nghiệm học sinh”.
3. Mục tiêu của đề tài
Đề xuất được biện pháp và quy trình tổ chức dạy học nhóm với sự hỗ trợ của
thí nghiệm học sinh theo định hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh và
vận dụng vào dạy học chương “Từ trường” Vật lý 11 THPT.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được biện pháp và quy trình tổ chức dạy học nhóm với sự hỗ trợ thí
nghiệm học sinh và vận dụng vào dạy học vật lý sẽ góp phần phát triển năng lực hợp
tác cho học sinh qua đó nâng cao hiệu quả dạy học vật lý ở trường phổ thông.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng thí nghiệm học sinh trong tổ chức
dạy học nhóm theo hướng phát triển năng lực hợp tác của học sinh.
Nghiên cứu thực trạng của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực hợp
tác cho học sinh ở chương “Từ trường” vật lý 11 THPT.
Nghiên cứu đề xuất biện pháp và quy trình tổ chức dạy học theo nhóm với sự
10
11
8.2. Phương pháp thực tiễn
Điều tra thông qua đàm thoại và lấy phiếu ý kiến giáo viên, học sinh điể biết
được thực trạng vấn đề của việc tổ chức dạy học nhóm theo hướng phát triển năng
lực hợp tác của học sinh.
8.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT để đánh giá hiệu quả của
việc tổ chức dạy học nhóm theo hướng phát triển năng lực hợp tác của học sinh.
8.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm sư
phạm và kiểm định giả thuyết về sự khác biệt trong kết quả học tập của hai nhóm
đối chứng và thực nghiệm.
9. Đóng góp mới của đề tài
Nghiên cứu và bổ sung thêm cơ sở lý luận của việc phát triển năng lực hợp
tác cho học sinh đồng thời làm rõ vai trò của việc phát triển năng lực hợp tác cho
học sinh qua việc dạy học nhóm.
Phân tích, đánh giá thực trạng của việc dạy học theo hướng phát triển năng
lực hợp tác cho học sinh ở trường THPT hiện nay đồng thời rút ra các kết luận làm
cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh.
10. Cấu trúc của luận văn
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học nhóm theo
hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh với thí nghiệm học sinh
Chương 2: Tổ chức dạy học chương “Từ trường”, Vật lý 11 THPT theo
hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
nhiên (natural ability) là loại năng lực được nảy sinh trên cơ sở những tư chất bẩm
sinh di truyền, không cần đến tác động của giáo dục, đào tạo. Nó cho phép con người
giải quyết được những yêu cầu tối thiểu, quen thuộc đặt ra cho mình trong cuộc sống.
Chính năng lực tự nhiên này góp phần vào sự phát triển của các trẻ em, nhưng sự khác
nhau giữa các trẻ không phải do yếu tố năng lực tự nhiên quyết định hoàn toàn”. [9]
13
Theo tâm lý học, năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng của mỗi cá nhân,
nhờ những thuộc tính này mà con người có thể hoàn thành một loạt hoạt động nào
đó với kết quả cao. Người có năng lực về một mặt nào đó thì có thể khắc phục được
những khó khăn nhanh chóng và dễ dàng hơn so với những người khác.
Các định nghĩa tuy diễn đạt khác nhau nhưng tất cả đều có điểm chung là coi
năng lực gắn với khả năng thực hiện, nghĩa là phải biết làm chứ không dừng lại ở
mức hiểu. Theo các tác giả thì năng lực được hình thành trên cơ sở kiến thức, kỹ
năng, thái độ và trách nhiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra.
Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc khối OECD,
người ta cũng sử dụng mô hình đơn giản hơn, phân chia năng lực thành hai nhóm
chính, đó là các năng lực chung và các năng lực chuyên biệt.
Các năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau
bao gồm:
- Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân
+ Năng lực tự học.
+ Năng lực giải quyết vấn đề.
+ Năng lực tư duy.
+ Năng lực tự quản lý.
- Nhóm năng lực về quan hệ xã hội
+ Năng lực giao tiếp.
+ Năng lực hợp tác.
Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các
nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách
độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Trong đó bao gồm cả
khả năng tư duy lô gic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các
mối quan hệ hệ thống và quá trình. Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là
năng lực nội dung chuyên môn, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp
chuyên môn.
15
Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với
những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các
nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung
và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả
năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức.
Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong
những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối
hợp chặt chẽ với những thành viên khác.
Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá
được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng
khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn
giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử.
Từ cấu trúc của năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực
không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng
chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực
cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng
lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.
1.1.3. Đặc điểm năng lực
Theo tác giả Đinh Quang Báo ( 2013), tuy năng lực được định nghĩ theo
Năng lực của HS là một cấu trúc động (trừu tuợng), có tính mở, đa thành tố,
đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng,... mà cả niềm tin,
giá trị, trách nhiệm xã hội... thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong
môi truờng học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội.
1.2.2. Hệ thống năng lực học sinh
Sự phân loại năng lực phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Trong
chương trình theo hướng tiếp cận năng lực của các nước, hệ thông năng lực học
sinh được phân theo 2 loại đó là: năng lực chung (general competence) và năng lực
cụ thể, chuyên biệt (specific competence).
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và
làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do
nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Vì thế có nước gọi là năng lực xuyên
chương trình (Cross-curricular competencies). Hội đồng châu Âu gọi đó là năng lực
chính (key competence). Mặc dù tên goi khác nhau, nhưng theo quan niệm của EU,
mỗi năng lực chung cần:
17
a) Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng.
b) Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng
lớn và phức tạp.
c) Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng
với tất cả mọi người.
Như vậy có thể hiểu: Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất
kỳ một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc. Tất cả các hoạt động
giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo) với khả năng
khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực
chung của học sinh. [7]
CÁC NĂNG LỰC CHUNG, CỐT LÕI
truyền
Năng
ngôn
thông
lực
ngữ
tính
(ICT)toán
Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển
do một lĩnh vực/môn học cụ thể nào đó, do đặc điểm của môn học đó. Ngoài ra,
người ta còn gọi là Năng lực đặc thù môn học hay năng lực môn học cụ
thể (Subject-specific competencies) để phân biệt với năng lực xuyên CT- năng lực
chung. Tuy nhiên cũng có thể một năng lực chung nào đó cũng đồng thời là năng
lực đặc thù môn học.
Để nhận diện năng lực chung Hội đồng châu Âu đưa ra ba tiêu chí: Thứ
18
nhất là khả năng hưũ ích của năng lực ấy đối với tất cả các thành viên cộng đồng.
Chúng phải liên quan đến tất cả mọi người, bất chấp giới tính, giai cấp, nòi giống,
văn hoá, ngôn ngữ và hoàn cảnh gia đình. Thứ hai: nó phải tuân thủ (phù hợp) với
các giá trị đạo đức, kinh tế văn hoá và các quy ước xã hội. Thứ ba: nhân tố quyết
định là bối cảnh, trong đó các năng lực cơ bản sẽ được ứng dụng (thực hiện).
Để xác định các năng lực chung cho chương trình giáo dục một quốc gia, cần
dựa vào ba yếu tố cơ bản sau đây: Thứ nhất: yêu cầu phát triển của đất nước trong
một giai đoạn cụ thể, nhất là yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và đào tạo một thế
hệ công dân đáp ứng được những thách thức của tương lai. Thứ hai: thực trạng năng
lực của HSPT nói riêng và của người lao động nói chung của một đất nước. Thứ ba:
xu thế quốc tế về phát triển năng lực cho HS trong nhà trường PT nhằm đáp ứng thị
1.
Giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ
2.
Giao tiếp bằng tiếng nước ngoài
3. Công nghệ thông tin và truyền thông
4. Tính toán và năng lực toán, khoa học, công nghệ
19
5.
Doanh nghiệp, kinh doanh (entrepreneurship )
6.
Năng lực liên cá nhân và năng lực công dân
7. Hiểu biết về học (learning to learn)
8. Văn hoá chung
Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông chương trình tổng thể của Bộ
giáo dục và đào tạo tháng 4 năm 2017 (Cập nhật dự thảo mới nhất vừa được thông qua
gồm 5 phẩm chất và 10 năng lực) ở Việt Nam thì chương trình giáo dục phổ thông
nhằm hình thành các phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh bao gồm: [5]
Hệ thống các phẩm chất
Hệ thống các năng lực
hợp tác
+ Xác định trách nhiệm và hoạt động
của bản thân
+ Xác định nhu cầu và khả năng của
người hợp tác
+ Tổ chức và thuyết phục người khác
+ Đánh giá hoạt động hợp tác
+ Hội nhập quốc tế
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
+ Nhận ra ý tưởng mới
+ Phát hiện và làm rõ vấn đề
+ Hình thành và triển khai ý tưởng mới
+ Đề xuất, lựa chọn giải pháp
+ Thực hiện và đánh giá giải pháp giải
quyết vấn đề
+ Tư duy độc lập
- Năng lực ngôn ngữ
20
Hệ thống các phẩm chất
Hệ thống các năng lực
+ Sử dụng tiếng Việt
+ Sử dụng ngoại ngữ
- Năng lực tính toán
+ Hiểu biết các khái niệm, kiến thức
toán học phổ thông, cơ bản
+ Biết cách vận dụng các thao tác tư
bi, cái hài, cái chân, cái thiện, cái cao cả)
+ Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ
+ Tái hiện và tạo tác các yếu tố thẩm mỹ
- Năng lực thể chất
+ Sống thích ứng và hài hòa với môi
trường
+ Nhận biết và có các kỹ năng vận động
cơ bản trong cuộc sống
21
Hệ thống các phẩm chất
Hệ thống các năng lực
+ Nhận biết và hình thành các tố chất
thể lực cơ bản trong cuộc sống
+ Nhận biết và tham gia hoạt động TDTT
+ Đánh giá hoạt động vận động
1.3. Năng lực hợp tác
1.3.1. Hợp tác
Hợp tác là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống lao động của con
người, nó diễn ra thường xuyên trong gia đình, trong xã hội. Do vậy hợp tác mang
bản chất sinh học tự nhiên của mỗi con người trong xã hội.
Theo từ điển tiếng Việt (1992): “Hợp tác là cùng chung sức giúp nhau trong
một công việc, trong một lĩnh vực hoạt động nào đó nhằm đạt được mục đích
chung”. [13]
Tác giả Nguyễn Thanh Bình cho rằng nếu so sánh các thuật ngữ gần nhau
như: hợp tác, hợp lực, cộng tác, phối hợp,... sẽ thấy hợp tác là thuật ngữ rộng nhất,
mục đích và ý nghĩa của việc hợp tác. phân tích được quy trình hợp tác và trình bày
được các cách hình thành nhóm, vai trò của các thành viên trong nhóm, kỹ thuật
hoạt động trong nhóm ...
- Thái độ hợp tác:
+ Tích cực hoạt động nhóm: Các thành viên trong nhóm tham gia tích cực
trong các hoạt động của nhóm và động viên cùng nhau tham gia.
+ Cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ: Các thành viên trong nhóm hợp tác,
chung sức cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm, có trách nhiệm với sự
thành công của nhóm.
+ Giúp đỡ, chia sẽ lẫn nhau: Các thành viên trong nhóm tôn trọng lẫn nhau,
chia sẻ, ủng hộ, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Theo tác giả Lương Việt Thái và nhóm nghiên cứu trong cuốn xác định các
năng lực chung cốt lõi cho chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 đã trình bày
rằng: “Năng lực là khả năng cá nhân biết chia sẽ trách nhiệm, biết cam kết và biết
cách cùng làm việc, lắng nghe và quan tâm tới các quan điểm khác nhau; hiểu biết
và quan tâm tới nhau; giúp đỡ hỗ trợ lẫn nhau, phát huy thế mạnh của mỗi thành
viên trong một công việc, lĩnh vực nào đó vì mục đích chung có hiệu quả với những
thành viên khác trong nhóm” [14]
1.3.3. Vai trò của rèn luyện kỹ năng hợp tác cho người học
Đối với nhà trường, dạy học theo hướng phát triển NLHT cho học sinh (HS)
giúp nâng cao hiệu quả của nhà trường trong nhiệm vụ phát triển nhận thức, nhân cách,
23
tình cảm của HS. Nhà trường trở thành một xã hội thu nhỏ, trong đó mỗi HS được bình
đẳng, có cơ hội được giáo dục và phát triển như nhau, đồng thời cải thiện các mối quan
hệ xã hội có tính chất giới, tôn giáo, thành phần của HS trong phạm vi nhà trường.
Đối với HS, hình thành NLHT có ý nghĩa rất quan trọng. Nó giúp cho HS có
được thành tích học tập tốt hơn nhờ sự cố gắng, tích cực của bản thân cũng như sự
luyện KN hợp tác HS cũng hiểu sâu hơn về kiến thức hợp tác và có thái độ tốt
trong quá trình hợp tác.
Các KN hợp tác bao gồm:
Kỹ năng
Kỹ năng tổ chức nhóm
Tiêu chí
- Biết cách di chuyển, tập
Yêu cầu đạt được
Di chuyển một cách trật
hợp tác
hợp nhóm
tự, nhanh nhẹn, tập hợp
đúng nhóm theo yêu cầu,
- Đảm nhận được các vai
thời gian dưới 1 phút.
Xác định đúng nhiệm vụ
trò khác nhau trong nhóm
và công việc cụ thể của
từng vị trí trong nhóm,
thực hiện có hiệu quả các
hoạt động để hoàn thành
trình tự với thời gian hợp
lí và cách thức tiến hành
những công việc đó để
hoàn thành nhiệm vụ được
- Tự đánh giá và đánh giá
giao.
Tự đánh giá được năng
đồng đẳng
lực của bản thân và đánh
25