ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VÕ TẤN THẠNH
XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC TÍCH HỢP CHỦ
ĐỀ “NƯỚC”
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT
VẤN ĐỀ THỰC TIỄN CỦA HỌC SINH LỚP 10
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN HUY HOÀNG
1
Thừa Thiên Huế, năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho
phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lời cam đoan............................................................................................................. ii
Lời cảm ơn...............................................................................................................iii
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Viết tắt
Viết đầy đủ
1
ĐC
Đối chứng
2
GV
Giáo viên
3
HĐ
Phương pháp dạy học
9
PTDH
Phương tiện dạy học
10
QĐSPTH
Quan điểm sư phạm tích hợp
11
SGK
Sách giáo khoa
12
THPT
Trung học phổ thông
13
TN
Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần
thứ 2 (khoá VIII). Trong đó có mục tiêu quan trọng là giáo dục cho thế hệ trẻ những
phẩm chất và năng lực sau: “Có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá
nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại. Có tư duy sáng tạo, có kỹ
năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật cao”[4].
6
Sau khi Quốc hội thông qua Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ
thông, Bộ GD-ĐT tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng
cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, trong đó
tăng cường năng lực dạy học theo hướng “tích hợp, liên môn” là một trong những
vấn đề cần ưu tiên[7].
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong
việc xác định nội dung dạy học ở nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương
trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Cơ sở những quan điểm tích cực về quá
trình học tập và quá trình dạy học[11]. Vận dụng hợp lí quan điểm tích hợp trong
giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển các năng lực giải quyết những vấn đề phức
tạp và làm cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn với học sinh so với việc các môn
học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ. Tích hợp là một trong những quan
điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo ra những con
người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện
đại[17]. Tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc và là quan điểm hiện đại trong giáo dục.
Đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay việc hiểu đúng và vận dụng phù hợp quá
trình tích hợp có thể đem lại những hiệu quả cụ thể đối với từng phân môn trong
nhà trường phổ thông.
Nước có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống chúng ta, nước là nguồn gốc
là sự duy trì sự sống. Nước chi phối các ngành Nông - Lâm - Ngư ngiệp[21]. Hiện
nay trên thế giới và các tổ chức bảo vệ môi trường đều có những thông điệp bảo vệ
trong hệ thống đó tầm quan trọng của việc phát triển và ứng dụng kỹ năng được chú
trọng, quá trình dạy học tích hợp này bao gồm việc dạy, học và kiểm tra đánh giá
năng lực tiếp thu kiến thức cũng như ứng dụng của học sinh phổ thông [11, tr. 11].
ỞViệt Nam hiện nay, tư tưởng dạy học tích hợp bắt đầu nghiên cứu và áp
dụng từ những năm của thập kỷ 90 trở lại đây. Đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục
nghiên cứu cơ sở lý luận về tích hợp và các biện pháp nhằm vận dụng giảng dạy
tích hợp vào thực tiễn như:
Tác giả Đào Trọng Quang với bài “ Biên soạn sách giáo khoa theo quan điểm
tích hợp, cơ sở lý luận và một số kinh nghiệm”. Tác giả đã đề cập tới bản chất của
sư phạm tích hợp,Tác giả Đào Trọng Quang với bài “ Biên soạn sách giáo khoa theo
quan điểm tích hợp, cơ sở lý luận và một số kinh nghiệm”. Tác giả đã đề cập tới bản
chất của sư phạm tích hợp, quan điểm tích hợp, một số nguyên tắc chủ đạo và một
số kỹ thuật của tích hợp.
Tác giả Đỗ Ngọc Thống đã nêu một hệthống quan điểm tích hợp và dạy học
8
theo hướng tích hợp, đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa cộng gộp kiến thức và tích
hợp kiến thức trong cuốn “Đổi mới dạy và học Ngữ văn ở THCS”
Tác giả Trần Viết Thụ(1997) trong công trình nghiên cứu “ Vận dụng nguyên
tắc liên môn khi dạy các vấn đề văn hóa trong SGK trong lịch sử THPT” đã vận
dụng kiến thức văn học, địa lý, chính trị vào giảng dạy bộ môn lịch sử theo quan
điểm liên môn.
Tác giả Lê Trọng Sơn với công trình “Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua
dạy học phần sinh lý người ở lớp 9 THCS” tác giả đã nhấn mạnh việc tích hợp dân
số vào môn Sinh học 9 là thích hợp với nội dung cũng như độ tuổi của học sinh.
Tác giả Đoàn Thị Thùy Dương trong luận văn thạc sĩ (2008) với đề
tài “Rèn luyện thao tác lập luận và so sánh cho học sinh lớp 11 theo quan điểm tích
hợp và tích cực” đã nhấn mạnh việc xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của thao tác
+ Xây dựng hệ thống thí nghiệm, phiếu học tập, phiếu đáp án, thông tin bổ
sung cho học sinh.
+ Soạn giáo án để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh.
+ Xây dựng hệ thống kiểm tra đánh giá nhằm đánh giá năng lực của học sinh
đạt được sau khi học chủ đề.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT để kiểm chứng giả thuyết
khoa học của đề tài và rút ra các kết luận cần thiết.
7. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu lý luận về dạy học, dạy học tích hợp.
+ Nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa về một số môn học phổ thông liên quan
đến nội dung chủ đề.
- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn.
+ Điều tra thực trạng dạy học tích hợp ở nước ta hiện nay.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT theo quy trình, phương
pháp và hình thức tổ chức đã đề xuất.
+ Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm để rút ra
kết luận cho vấn đề nghiên cứu.
8. Đóng góp của đề tài
- Trình bày có hệ thống và bổ sung những lý luận về dạy học tích hợp.
- Phân tích và khái quát kiến thức về nước trong chương trình phổ thông.
- Xây dựng và tổ chức dạy học tích hợp chủ đề “Nước” theo hướng phát
10
triển năng lực GQVĐ thực tiễn của học sinh lớp 10 THPT.
- Bổ sung vào nguồn tài liệu tham khảo cho GV phổ thông, sinh viên, học
viên cao học cùng chuyên ngành.
Trong lĩnh vực giáo dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kỳ khai sáng (thế kỷ
XVIII) dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng
làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối. Tích hợp còn có nghĩa là thành lập
một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường
vốn có.
Trong lĩnh vực giáo dục trẻ khuyết tật, intergration có nghĩa là tiến hành tổ chức
giáo dục hòa nhập các trẻ em bị khuyết tật (khiếm thị, khiếm thính….) với các trẻ em
phát triển bình thường. Trong cấu trúc môn học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ
hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền
thống từ 400 năm nay) thành một “môn học” mới. Ví dụ môn Khoa học (Science) được
hình thành từ sự tổ hợp, kết hợp của các môn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên: Vật lý,
Hóa học, Sinh học; môn Nghiên cứu xã hội được hình thành từ sự tổ hợp, kết hợp của
các môn thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội: Lịch sử, Địa lý, Xã hội học, Kinh tế học.
Tích hợp cũng có thể được hiểu là sự lồng ghép các nội dung cần thiết vào
những nội dung vốn có của một môn học, thí dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân
số, giáo dục môi trường…..vào nội dung các môn học: Địa lý, Sinh học, Giáo dục
công dân….xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống.
1.1.2. Các hình thức và mức độ tích hợp
Cấu trúc các môn học theo quan điểm tích hợp có những mức độ khác nhau
từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao và được chia thành các hình thức khác
nhau. Nhưng tựu trung lại, có bốn mức độ tích hợp: Tích hợp trong nội bộ môn
học; Tích hợp liên môn;Tích hợp xuyên môn;Tích hợp đa môn và theo hai hình
thức, đó là: Tích hợp không tạo môn học mới và tích hợp tạo nên môn học mới.
Tích hợp không tạo môn học mới:Vẫn giữ các môn học truyền thống, tuy
nhiên trong quá trình thực hiện các môn học đó có lồng ghép một số nội dung của
các môn học khác có liên quan.
- Tích hợp trong nội bộ môn học: Tích hợp những nội dung của các phân
môn, các lĩnh vực nội dung thuộc cùng một môn học theo những chủ đề, chương,
nội dung có liên quan của các môn Hoá học, Vật lí, Sinh học, Địa lí,...trong khi các
môn học này vẫn được học một cách độc lập; với chủ đề Phương pháp toạ độ trong
mặt phẳng và không gian, ta có thể tích hợp kiến thức của các môn Toán, Vật lí, Địa
lý, Hoá học, Sinh học, Công nghệ; với chủ đề Diện tích và Thể tích ta có thể tích
hợp kiến thức của các môn Toán, Sinh học, Công nghệ.
14
1.1.3. Khái niệm sư phạm tích hợp
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật và công nghệ,
tri thức của loài người đang tăng lên một cách nhanh chóng. Không những thông tin
ngày càng nhiều mà với sự phát triển của các phương tiện công nghệ thông tin, ngày
càng có nhiều cơ hội để mỗi người dễ dàng tiếp cận các thông tin mới nhất. Trước
tình hình trên đòi hỏi GV phải biết dạy tích hợp các khoa học, dạy cho HS cách thu
thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, biết vận dụng các kiến thức học được vào các
tình huống của đời sống thực tế
Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hóa sâu, song song
với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng.Việc giảng dạy các môn khoa học
trong nhà trường phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, bởi vậy không
thể cứ tiếp tục giảng dạy các khoa học như là những lĩnh vực tri thức riêng rẽ. Mặt
khác, khối lượng tri thức khoa học đang tăng nhanh chóng và thời gian học tập
trong nhà trường lại có hạn, do đó phải chuyển từ dạy các môn học riêng rẽ sang
dạy các môn học tích hợp.
Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về sư phạm tích hợp.
Theo UNESCO, sư phạm tích hợp các khoa học được định nghĩa là “một
cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất
cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hay quá sớm sự sai khác giữa
các lĩnh vực khoa học khác nhau” (Hội nghị phối hợp trong chương trình của
UNESCO
- Tích hợp các bộ môn trong dạy học không những làm cho người học có tri
thức bao quát, tổng hợp hơn về thế giới khách quan, thấy rõ hơn mối quan hệ và sự
thống nhất của nhiều đối tượng nghiên cứu khoa học trong những chỉnh thể khác
nhau, đồng thời còn bồi dưỡng cho người học các phương pháp học tập, nghiên cứu
có tính logic biện chứng làm cơ sở đáng tin cậy để đi đến những hiểu biết, những
phát hiện có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn hơn.
- Tích hợp các bộ môn còn có tác dụng tiết kiệm thời gian công sức vì loại bỏ
được nhiều điều trùng lặp trong nội dung và phương pháp dạy học của những bộ
môn gần nhau.
1.1.5. Mục tiêu của quan điểm sư phạm tích hợp
Dạy học tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập
với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà học sinh sẽ
gặp sau này, hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống.
16
Giúp học sinh phân biệt được các cốt yếu với cái ít quan trọng hơn. Cái cốt
yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử línhững tình huống
có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cở sở không thể thiếucho quá trình học tập tiếp
theo. Trong thực tế nhà trường, có nhiều điều chúng ta dạy cho học sinh nhưng
không thực sự có ích, ngược lại có những năng lực cơ bản không được dành đủ thời
gian. Chẳng hạn ở tiểu học, học sinh được biết nhiều quy tắc ngữ pháp nhưng không
biết đọc diễn cảm một bài văn, học sinh biết có bao nhiêu centimet trong bao nhiêu
Kilomet nhưng lại không chỉ ra được 1mét chừng dài bằng mấy gang tay.
Dạy học tích hợp giúp học sinh sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể.
Thay vì tham nhồi nhét cho học sinh nhiều kiến thức lý thuyết, dạy học tích hợp chú
trọng tập dượt cho học sinh vận dụng các kiến thức, kĩ năng học được vào các tình
huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau này để làm công dân, làm người lao động,
làm cha mẹ có năng lực sống tự lập.
lại cần đến sự tích hợp. Tích hợp và phân hóa có sự thống nhất biện chứng, thể hiện
sự phù hợp với qui luật nhận thức của loài người và qui luật phát triển của KHCN.
Năng lực có các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân phải
có, đó là các năng lực chung cơ bản và năng lực chuyên biệt đều cần được chú ý
phát triển. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn học tập cần chú trọng vào những loại
năng lực khác nhau. Ở Tiểu học và Trung học cơ sở (THCS) cần tập trung phát triển
các năng lực chung - cơ bản, điều này dẫn tới một yêu cầu trong việc xây dựng
chương trình giáo dục là cần quan tâm đến việc thiết kế các nội dung, môn học
mang tính tích hợp. Đồng thời quan điểm này phù hợp với trình độ nhận thức của
HS tiểu học và THCS. Ở Trung học Phổ thông, cùng với phát triển các năng lực
chung cơ bản, còn chú ý phát triển các năng lực chuyên biệt. Việc phát triển năng
lực chuyên biệt được thực hiện trên cơ sở phân hóangày càng mạnh và hướng
nghiệp cao.
Có thể hình dung mối quan hệ giữa tích hợp và phân hóa theo hình dưới đây:
Chú thích: vùng nội dung phân
hóa được đánh dấu x
Tiểu học
THCS
THPT
18
1.2. Năng lực
1.2.1. Khái niệm năng lực
Năng lực (tiếng Anh: competence, tiếng Đức: Kompetenz) là một khái niệm
mang tính tích hợp ở chỗ nó bao hàm cả nội dung, những hoạt động cần thực hiện
năng lực chìa khóa cần đặc biệt chú ý:
- Năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở hiểu biết và nắm vững các
phương pháp học tập (lao động khoa học) và các hoạt động cá nhân xã hội khác,
dám nghĩ, dám làm, năng động trong cuộc sống, có khả năng ứng dụng kiến thức, kĩ
năng vào thực tiễn.
- Năng lực sáng tạo có khả năng ứng phó với những thay đổi trong cuộc
sống, biểu hiện ở tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong học tập, lao động, biết đặt
và giải quyết vấn đề trong học tập và cuộc sống.
- Năng lực hợp tác, phối hợp hành động trong học tập và đời sống. Cụ thể là
quan hệ trong gia đình, nhà trường và xã hội với lòng nhân ái, tinh thần trách
nhiệm, trân trọng lẫn nhau, biết làm việc tập thể có tổ chức, phân công, hợp tác.
- Năng lực tự khẳng định bản thân. Cụ thể là có khả năng tự lực trong học tập
và cuộc sống, tự chịu trách nhiệm về việc học tập và lao động của bản thân trong
hiện tại và tương lai, có thói quen và năng lực tự học suốt đời, tự tin và ý thức được
năng lực của bản thân để định hướng việc làm cho mình trong tương lai.
Các năng lực này được gọi là năng lực trội, năng lực chìa khóa, năng lực then
chốt, đang trở thành định hướng xác định mục tiêu cho việc học tập của học sinh.
Nếu đặc trưng của quan niệm cổ truyền về chương trình là ưu tiên truyền thụ
kiến thức cho học sinh, theo quan niệm hiện đại về chương trình là ưu tiên việc hình
thành năng lực cho học sinh. Theo đó, điều mà lý luận dạy học quan tâm hàng đầu
là làm thế nào để phát triển các năng lực của học sinh. Cách tiếp cận tích hợp trong
dạy học, việc tổ chức các môn học tích hợp ...cũng nhằm vào mục đích đó.
1.2.2. Các loại năng lực
Năng lực chung
- Năng lực chung là năng lực được áp dụng cho mọi môn học, là năng lực
thiết yêu để mọi người có thể sống và phát triển
- Dấu hiệu của năng lực chung :
+ Có ý nghĩa cộng đồng, góp phần tạo nên giá trị cho xã hội
+ Giúp cho cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi rộng rãi, phức tạp
+ Không quan trọng đối với các chuyên gia những quan trọng với tất cả
c) Thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề và nhận ra sự phù
hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện.
3. Năng lực
sáng a) Đặt câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện tượng; xác
tạo
định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới; phân tích, tóm tắt
những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau.
b) Hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã
cho; đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp
không còn phù hợp; so sánh và bình luận được về các
giải pháp đề xuất.
c) Suy nghĩ và khái quát hoá thành tiến trình khi thực hiện
một công việc nào đó; tôn trọng các quan điểm trái chiều;
áp dụng điều đã biết vào tình huống tương tự với những
21
điều chỉnh hợp lý.
d) Hứng thú, tự do trong suy nghĩ; chủ động nêu ý kiến;
không quá lo lắng về tính đúng sai của ý kiến đề xuất; phát
hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến khác.
4. Năng lực tự quản a) Nhận ra được các yếu tố tác động đến hành động của bản
lý
thân trong học tập và trong giao tiếp hàng ngày; kiềm chế được
cảm xúc của bản thân trong các tình huống ngoài ý muốn.
b) Ý thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình; xây dựng và
thực hiện được kế hoạch nhằm đạt được mục đích; nhận ra và
có ứng xử phù hợp với những tình huống không an toàn.
c) Tự đánh giá, tự điều chỉnh những hành động chưa hợp lý
khiêm tốn học hỏi các thành viên trong nhóm;
e) Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạt động
chung của nhóm; nêu mặt được, mặt thiếu sót của cá nhân
22
và của cả nhóm.
7. Năng lực sử dụng a) Sử dụng đúng cách các thiết bị ICT để thực hiện các
công nghệ thông tin nhiệm vụ cụ thể; nhận biết các thành phần của hệ thống
và truyền thông
ICT cơ bản; sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập
thuộc các lĩnh vực khác nhau; tổ chức và lưu trữ dữ liệu
vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị và trên mạng.
b) Xác định được thông tin cần thiết để thực hiện nhiệm vụ
học tập; tìm kiếm được thông tin với các chức năng tìm
kiếm đơn giản và tổ chức thông tin phù hợp; đánh giá sự
phù hợp của thông tin, dữ liệu đã tìm thấy với nhiệm vụ đặt
ra; xác lập mối liên hệ giữa kiến thức đã biết với thông tin
mới thu thập được và dùng thông tin đó để giải quyết các
nhiệm vụ học tập và trong cuộc sống;
8. Năng lực sử dụng a) Nghe hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các bài
ngôn ngữ
đối thoại, chuyện kể, lời giải thích, cuộc thảo luận; nói
chính xác, đúng ngữ điệu và nhịp điệu, trình bày được nội
dung chủ đề thuộc chương tŕnh học tập; đọc hiểu nội dung
chính hay nội dung chi tiết các văn bản, tài liệu ngắn; viết
bước đầu vận dụng được các bài toán tối ưu trong học tập
và trong cuộc sống; biết sử dụng một số yếu tố của lôgic
hình thức để lập luận và diễn đạt ý tưởng.
d) Sử dụng được các dụng cụ đo, vẽ, tính; sử dụng được
máy tính cầm tay trong học tập cũng như trong cuộc sống
hàng ngày; bước đầu sử dụng máy vi tính để tính toán
trong học tập.
Năng lực chuyên biệt
- Năng lực chuyên biệt là những năng lực đặc thù do một môn học nào đó
xác định phát triển
- Hệ thống năng lực chuyên biệt của môn Vật Lý
Stt
Năng lực chung
Biểu hiện năng lực trong môn Vật lí
Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân:
1
Năng lực tự học
- Lập được kế hoạch tự học và điều chỉnh, thực hiện kế
hoạch có hiệu quả
- Tìm kiếm thông tin về nguyên tắc cấu tạo, hoạt động
của các ứng dụng kĩ thuật
- Đánh giá được mức độ chính xác nguồn thông tin
- Đặt được câu hỏi về hiện tượng sự vật quanh ta
- Tóm tắt được nội dung vật lí trọng tâm của văn bản.
- Tóm tắt thông tin bằng sơ đồ tư duy, bản đồ khái
Năng lực sáng - Thiết kế được phương án thí nghiệm để kiểm tra giả
tạo
thuyết (hoặc dự đoán)
- Lựa chọn được phương án thí nghiệm tối ưu
- Giải được bài tập sáng tạo
- Lựa chọn được cách thức giải quyết vấn đề một cách
tối ưu
4
Năng lực tự Không có tính đặc thù
quản lí
Nhóm năng lực về quan hệ xã hội:
5
Năng lực giao - Sử dụng được ngôn ngữ vật lí để mô tả hiện tượng
tiếp
- Lập được bảng và mô tả bảng số liệu thực nghiệm
- Vẽ được đồ thị từ bảng số liệu cho trước
- Vẽ được sơ đồ thí nghiệm
- Mô tả được sơ đồ thí nghiệm
- Đưa ra các lập luận lô gic, biện chứng
6
Năng lực hợp - Tiến hành thí nghiệm theo nhóm
tác
- Tiến hành thí nghiệm theo các khu vực khác nhau
Nhóm năng lực công cụ (Các năng lực này sẽ được hình thành trong quá trình
hình thành các năng lực ở trên)
7
Năng lực sử dụng - Sử dụng một số phần mềm chuyên dụng (maple,
công nghệ thông tin coachs…) để mô hình hóa quá trình vật lí
và truyền thông (ICT) - Sử dụng phần mềm mô phỏng để mô tả đối tượng