ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG tội cố ý gây THƯƠNG TÍCH HOẶC gây tổn hại CHO sức KHỎE của NGƯỜI KHÁC TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ VIỆT HỒNG

ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC
GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Tội phạm học và điều tra tội phạm
Mã số: 60 38 70

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa

HÀ NỘI - 2005


MC LC

Trang
Mở đầu

1

Chương 1: Tình hình tội phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố Hà Nội


36

2.3. Nguyên nhân và điều kiện thuộc về quản lý nhà nước trong lĩnh vực
trật tự, an toàn xã hội

39

2.4. Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến các cơ quan pháp luật

42

2.5. Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến các quy định của pháp luật

44

2.6. Nguyên nhân và điều kiện thuộc về phía nạn nhân

45

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
trên địa bàn thành phố Hà Nội

48

3.1. Dự báo tình hình tội phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố thời gian tới
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội cố ý gây



67

Tài liệu tham khảo

69


NHNG CH CI VIT TT TRONG LUN VN

BLHS

Bộ luật hình sự

CAHN

Công an Hà Nội

CYGTT...

Cố ý gây thương tích...

CSĐT

Cảnh sát điều tra

PP

Phạm pháp


nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ và văn minh. Cùng với cả nước, Hà Nội cũng đã đạt được những kết quả quan
trọng trong công cuộc đổi mới. Bộ mặt của thành phố có nhiều thay đổi trên mọi
phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế thị trường
cũng đã gây nên những ảnh hưởng tiêu cực cho đời sống xã hội Thủ đô. Đó là sự
cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh, sự phân hoá giàu nghèo, tình trạng
thất nghiệp, sự tha hoá trong lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... Vì vậy trong những
năm qua, mặc dù thành phố Hà Nội đã có nhiều cố gắng trong công tác đấu tranh
phòng chống tội phạm, nhưng diễn biến của tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội vẫn
còn nhiều phức tạp. Trong đó, tình hình tội phạm tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác diễn biến rất phức tạp và có chiều hướng
ngày càng nghiêm trọng hơn. Bọn tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác hoạt động với những phương thức, thủ đoạn ngày
càng đa dạng, vừa liều lĩnh, táo bạo, vừa công khai, trắng trợn và thường sử dụng
hung khí nguy hiểm để gây án. Đặc biệt là số vụ phạm tội với số đông người hoặc
dưới hình thức đồng phạm, số vụ gây thương tích thuê, số vụ dùng axít để gây
thương tích có chiều hướng gia tăng đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về sức


2

khoẻ của người bị hại, hao tổn về tiền bạc để chữa trị và tác động xấu tới tình hình
an ninh trật tự ở Thủ đô.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống những vấn
đề lý luận và thực tiễn về tình hình tội phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ của người khác và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu
tranh phòng chống loại tội phạm này là một yêu cầu bức thiết và mang tính thời sự
cao.
2. Tình hình nghiên cứu

3. Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học. Đó là:
- Nghiên cứu tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn
thành phố Hà Nội từ năm 2000 2004;
- Nghiên cứu thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố Hà Nội
từ năm 2000 - 2004.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, luận văn sử dụng tổng
hợp các phương pháp như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phương pháp
thống kê hình sự, phương pháp điều tra xã hội, phương pháp dự báo khoa học để
rút ra các kết luận khoa học của mình.
5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

- Mục đích nghiên cứu đề tài: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả đấu tranh phòng chống tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác trên địa bàn thành phố Hà Nội.

- Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:
+ Nghiên cứu thực trạng, diễn biến của tình hình tội phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố
Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2000 - 2004;
+ Nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố
Hà Nội (2000 - 2004);


4


5

2.3. Nguyên nhân và điều kiện thuộc về quản lý nhà nước trong lĩnh vực trật
tự, an toàn xã hội
2.4. Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến các cơ quan pháp luật
2.5. Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến các quy định của pháp luật
2.6. Nguyên nhân và điều kiện thuộc về phía nạn nhân

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành
phố Hà Nội
3.1. Dự báo tình hình tội phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố thời gian tới
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố
trong những năm tới


6

CHNG I
TèNH HèNH TI PHM TI C í GY THNG TCH HOC GY
TN HI CHO SC KHE CA NGI KHC TRấN A BN
THNH PH H NI
Tình hình tội phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác được tác giả nghiên cứu chủ yếu thông qua số liệu thống kê tội
phạm đã được xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội trong 5 năm gần đây,
từ năm 2000 đến năm 2004. Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng,
diễn biến, cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm tội cố ý gây thương tích hoặc


245

303

2002

191

271

2003

196

272

2004

170

225

Tổng cộng

1.031

1.338

Nguồn: TAND thành phố HN [40]

sức khoẻ của người khác và số vụ phạm tội khác trong 5 năm
4,2%

95,8%

CYGTT
TP khác

Nguồn: TAND thành phố HN [40]
Cụ thể hoá số liệu của từng năm về số vụ cũng như số bị cáo phạm tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác cũng như các vụ
phạm tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tội phạm
nói chung trên địa bàn thành phố Hà Nội trong 5 năm qua, chúng ta có các bảng sau:


9

Bảng số 2: Số vụ cũng như số bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của người khác so sánh với nhóm các tội cố ý xâm phạm tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm trên địa bàn TP HN từ 2000 đến 2004
Năm

Tội cố ý gây
thương tích(1)
Số vụ/ Số bị cáo

Nhóm tội cố ý xâm phạm
TM, SK, DD, NP (2)
Số vụ/ Số bị cáo



260 / 444

75,4% / 61,3%

2004

170 / 225

253 / 387

67,2% / 58,1%

Tổng cộng

1.031 / 1.338

1.375 / 2.070

75% / 64,6%

Nguồn: TAND thành phố HN [40]
Bảng số 3: Số vụ cũng như số bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác so sánh với tội phạm nói chung trên địa
bàn TP HN từ 2000 đến 2004

Năm

Tội cố ý gây thương
tích (1)


4,1% / 4,2%

2003

196 / 272

5.839 / 8.453

3,4% / 3,2%

2004

170 / 225

4.823 / 7.380

3,5% / 3,1%


10

Tổng cộng

1.031 / 1.338

24.400 / 34.310

4,2% / 3,9%


hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác với các tội xâm phạm tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và với tội phạm nói chung trên địa bàn TP HN từ
năm 2000 đến 2004


11

10000
8000
CYGTT

6000

XPTM,SK,DD,NP

4000

TP chung

2000
0
2000 2001 2002 2003 2004

Nguồn: TAND thành phố HN [40]
Những con số trên đây đã phản ánh tình hình đáng báo động về tội phạm tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác 5 năm qua trên
địa bàn thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, đây mới chỉ là con số thống kê qua công tác
xét xử, có nghĩa là vụ việc đã bị phát hiện và người phạm tội đã bị truy cứu trách
nhiệm hình sự. Theo chúng tôi, để đánh giá đúng tình hình tội phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố

xử lý về hình sự. Như vậy, trên thực tế còn có một số lượng khá lớn các vụ cũng
như đối tượng phạm pháp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác trên địa bàn thành phố Hà Nội được xử lý bằng các biện pháp khác
(xem Bảng số 4).
Bảng số 4: So sánh số vụ cũng như số bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác đã xử sơ thẩm với số vụ được khám
phá và số đối tượng phạm pháp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác bị bắt trên địa bàn TP HN từ 2000 đến 2004

Năm

Tội cố ý gây

Vụ PP cố ý gây thương tích

Tỷ lệ %

thương tích (1)

được khám phá (2)

(1) so với (2)


13

2000
2001
2002
2003

Tóm lại, thông qua xem xét số liệu thống kê tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn
từ năm 2000 đến 2004, cho thấy tình hình tội phạm này diễn biến phức tạp, chiếm
tỷ lệ rất lớn trong nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm đã xảy ra.
1.2. Diễn biến của tình hình tội phạm
Qua bảng thống kê (xem Bảng số 1) chúng ta thấy, trong khoảng thời gian
từ năm 2000 đến năm 2004, số vụ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác được xử sơ thẩm hàng năm tăng, giảm không đều,
nhưng đang có xu hướng giảm dần so với năm đầu. Cụ thể: năm 2001 có 245 vụ
phạm tội, tăng 7% so với năm 2000; nhưng đến ba năm tiếp theo (2002 - 2004) thì
số vụ phạm tội lại có chiều hướng giảm xuống so với năm 2000: năm 2002 giảm
16,6%; năm 2003 giảm 14,4%; năm 2004 giảm 25,8%.
Bảng thống kê cũng thể hiện số bị cáo phạm tội trong các năm tăng, giảm
không đều. Tuy nhiên, có điểm đáng lưu ý là số bị cáo trung bình của một vụ lại
đang có chiều hướng gia tăng. Điều này chứng tỏ có sự liên kết của các đối tượng


14

phạm tội trong một vụ án. Cụ thể: năm 2000, trung bình một vụ phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác có khoảng 1,17 bị cáo;
tỷ lệ này ở các năm 2001, 2002, 2003, 2004 là 1,24; 1,42; 1,39 và 1,32.
Nếu lấy mức độ tăng, giảm hàng năm về số vụ và số bị cáo phạm tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác của năm 2000 là
0% thì mức độ tăng, giảm hàng năm của các năm tiếp theo như sau: (xem Bảng số
5).
Bảng số 5: Mức độ tăng, giảm hàng năm của số vụ và số bị cáo phạm tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
Năm

+ 1,5
+ 1,9
- 15,7

Nguồn: TAND thành phố HN [40]
Ghi chú: MĐT,GHN: Mức độ tăng, giảm hàng năm.
Chúng ta cũng có thể thể hiện diễn biến tình hình tội phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (theo số vụ và số bị cáo
trong 5 năm: 2000 - 2004) qua đồ thị sau:
Đồ thị số 1: Diễn biến tình hình tội phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của người khác (theo số vụ và số bị cáo) từ 2000 2004


15

350
300
250
200

Số vụ
Số bị cáo

150
100
50
0
2000

2001

Năm

2000
2001
2002
2003
2004
Tổng cộng

Tổng số bị cáo
sơ thẩm

267
303
271
272
225
1.338

xử

Theo khung 1 và
khung 2

Theo khung 3 và
khung 4

241
239
204

17

(trong đó có các trường hợp được cho hưởng án treo) - (xem Biểu đồ số 3a) và
(xem Biểu đồ số 3b).
Biểu đồ số 3a: Những hình phạt chủ yếu áp dụng đối với số bị cáo phạm tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố
Hà Nội từ năm 2002 đến 2004
1%
CT KGG

99%

T ù có thời hạ n

Biểu đồ số 3b: Về hình phạt tù có thời hạn - số bị cáo phải chấp hành hình
phạt tù và số bị cáo được Toà cho hưởng án treo từ năm 2002 đến 2004

64%

36%

án tr eo
T ù có thời hạ n

Nguồn: TAND thành phố HN [40]
Cụ thể hoá số liệu của từng năm (từ 2002 - 2004) về hình phạt áp dụng đối
với các bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác trên địa bàn thành phố Hà Nội, chúng ta có bảng sau:



Cho
hưởng án
treo

Dưới 7
năm

Từ 7 năm
đến 20
năm

1

95

163

11

1

0

82

178

10

225

sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố Hà Nội còn chưa nghiêm khắc, tính
chất răn đe và phòng ngừa chưa cao.

- Về tính chất của tình hình tội phạm
Số lượng vụ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác dưới hình thức đồng phạm và phạm tội đơn lẻ: Qua nghiên cứu số
vụ và số bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác xử sơ thẩm hàng năm thì thấy xu hướng phạm tội với số đông người


19

hoặc phạm tội có tổ chức tăng lên rõ rệt (xem Bảng số 1). Cụ thể: năm 2000, trung
bình một vụ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác có khoảng 1,17 bị cáo; tỷ lệ này ở các năm 2001, 2002, 2003, 2004 là
1,24; 1,42; 1,39 và 1,32. Như vậy, nếu ta lấy năm 2000 là gốc, thì trung bình mỗi
năm tăng 0,15 bị cáo trên một vụ.

Về công cụ thực hiện tội phạm: Qua thống kê ngẫu nhiên 100 bản án hình
sự sơ thẩm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác,
chúng tôi thấy rằng xu hướng người phạm tội sử dụng hung khí nguy hiểm (bao
gồm vũ khí và các công cụ, phương tiện khác) để gây án là phổ biến (trong số 100
vụ án có tới 85 vụ người phạm tội sử dụng hung khí nguy hiểm để thực hiện hành
vi). Ngoài ra, người phạm tội còn trực tiếp dùng chân, tay để gây án (trong số 100
vụ án có 11 vụ người phạm tội dùng chân, tay để thực hiện hành vi). Những vụ án
còn lại, người phạm tội sử dụng axít để gây án (trong số 100 vụ án có 4 vụ người
phạm tội sử dụng axít để gây án) (xem Biểu đồ số 4).
Biểu đồ số 4: Công cụ thực hiện tội phạm
4%


Hợi liền chạy ra giơ tay không cho xe vào. Lúc này, Sinh cùng Sớm và Tuấn đi từ
nhà Sinh ra. Sinh hỏi ông Hợi lý do không cho xe đi vào đường bê tông, rồi 2 bên
tranh cãi về văn bản họp của xóm về việc cho phép xe công nông được đi vào
đường của xóm khi xây nhà. Không cần biết ai đúng ai sai, ông Hợi liền đấm ngay
một quả vào mặt Sớm. Sớm tự vệ bằng cách vung tay làm ông Hợi bị loạng
choạng. Ngay lúc đó, Hoàng Hữu Tuấn đang đứng phía sau Sớm trả đũa bằng một
quả đấm mạnh không kém vào mặt ông Hợi khiến ông đổ vật xuống đường. Thấy
ông Hợi bất tỉnh, Tuấn và Sinh khiêng ông Hợi vào nhà rồi đi gọi nhân viên y tế
của xã đến. Tình trạng sức khoẻ của ông Hợi ngày càng xấu, anh Chiến (con trai
ông Hợi) đã đưa ông đến Bệnh viện đa khoa huyện Đông Anh cấp cứu với chẩn
đoán ban đầu: ông Hợi bị chấn thương sọ não, nghi vỡ hộp sọ và bệnh nhân được
chuyển đến Bệnh viện Xanh Pôn vào hồi 19h ngày 25 tháng 9 năm 2001. Do


21

thương tích qúa nặng, ba ngày sau, ông Hợi chết (Theo Bản án hình sự sơ thẩm số
49/HSST ngày 22 tháng 1 năm 2003 của Toà Hình sự TAND thành phố HN).
Trường hợp người phạm tội sử dụng axít gây thương tích thường diễn ra
trong các vụ án mà nguyên nhân là do ghen tuông, mâu thuẫn vợ chồng gay gắt.

Ví dụ vụ: Do có quan hệ tình cảm với anh Lê Hữu Hoài từ năm 1993 nhưng bị anh
Hoài phụ tình nên Nguyễn Thị Vân quê ở Lạng Sơn đã mua 0,65 lít axít với mục
đích tạt vào người Hoài, phần còn lại để tự tử. Khoảng 14h30 ngày 26 tháng 2
năm 2003, Hoài đi xe máy đến gặp Vân ở nhà trọ số 147 đường Lương Thế Vinh,
trong phòng trọ, 2 người nói chuyện với nhau. Đến 16h30, Vân hỏi Hoài: Anh có
khát nước không?, Hoài trả lời: cho anh xin một cốc. Chỉ chờ có vậy, Vân cầm
ca axít bỏ nắp đậy ra và bất ngờ hắt vào mặt Hoài gây thương tích 71% (Theo Bản
án hình sự sơ thẩm số 868/HSST ngày 9 tháng 10 năm 2003 của Toà Hình sự
TAND thành phố HN).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status