ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM NHƢ HOÀNG HẢI
PHIÊN HỌP KIỂM TRA VIỆC GIAO NỘP, TIẾP CẬN,
CÔNG KHAI CHỨNG CỨ VÀ HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN
CẤP SƠ THẨM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ
TỤNG DÂN SỰ 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM NHƢ HOÀNG HẢI
PHIÊN HỌP KIỂM TRA VIỆC GIAO NỘP, TIẾP CẬN,
CÔNG KHAI CHỨNG CỨ VÀ HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN
CẤP SƠ THẨM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ
TỤNG DÂN SỰ 2015
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1.1.1.Khái niệm Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải tại cấp sơ thẩm ................................................................................... 1
1.1.2.Đặc điểm và bản chất của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm. ............................................... 14
1.2.Nội dung phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải tại cấp sơ thẩm: ............................................................................................ 19
1.2.1.Nội dung việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải: ..................................................................................................................... 19
1.2.2.Quá trình vận hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm. ................................................................ 23
1.3.Vai trò của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải tại cấp sơ thẩm. ................................................................................. 27
1.3.1.Đối với tiến trình tố tụng: .......................................................................... 27
1.3.2.Đối với quan hệ pháp luật dân sự có tranh chấp: ..................................... 30
1.3.3.Đảm bảo quyền con người dưới khía cạnh pháp luật tố tụng dân sự ....... 32
1.4. Quan điểm về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm trước đây. ........................................................... 34
iv
Chƣơng 2: Pháp luật về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ Luật Tố
Tụng dân sự 2015 và thực tiễn áp dụng .......................................................... 40
2.1.Quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm. ......................... 40
2.1.1.Những quy định chung ............................................................................... 40
2.1.2.Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ .............. 44
2.1.3.Phiên hòa giải tại cấp sơ thẩm .................................................................. 47
2.2.Những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về Phiên họp Kiểm tra
tộc Việt nam, giải quyết các tranh chấp bằng phương thức hòa giải đã trở thành
một trong những bước đi hiệu quả cho việc giải quyết tranh chấp , mâu thuẫn
giữa các bên trong quan hệ có xung đột quyền và lợi ích đồng thời góp phần gìn
giữ sự hòa thuận cho từng gia đình, bình yên cho từng xóm làng và kỷ cương,
trật tự cho quốc gia và toàn xã hội trong mỗi giai đoạn. Phương thức này đã tồn
tại và không ngừng phát triển, phát huy vai trò to lớn cho toàn xã hội đến ngày
nay.
Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thừa kế và phát huy
một cách hiệu quả truyền thống đẩy mạnh giải quyết tranh chấp bằng phương
thức hòa giải. Giống như lời chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Xét xử đúng là
tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn”.Cho đến nay, hòa giải đã trở
thành nguyên tắc, thủ tục trong tố tụng dân sự nhằm bảo đảm quyền tự định
đoạt của đương sự trong việc giải quyết các tranh chấp và thể hiện trách nhiệm
1
của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ
chức.
Bên cạnh đó, vấn đề hòa giải thông qua những tài liệu, chứng cứ được
đem ra sử dụng trong cơ chế tố tụng cũng là một điểm riêng của phương thức
giải quyết tranh chấp này. Tài liệu và chứng cứ phục vụ cho việc chứng minh,
bảo vệ cho quyền và lợi ích của đương sự là yếu tố tiên quyết khi giải quyết
tranh chấp tại tòa. Đặc biệt với nguyên tắc xét xử dựa trên hồ sơ vụ án. Những
chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án sẽ quyết định phần lớn kết quả của việc
giải quyết tranh chấp. Trong giai đoạn hòa giải, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ là bước đệm để các bên có thể thống nhất ý kiến nhằm giải
quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, dễ dàng nhất.
Về mặt lý luận cho thấy vẫn còn nhiều bất cập về kỹ thuật pháp lý, cũng
như tư tưởng pháp lý liên quan tới việc hòa giải và công khai chứng cứ, tài liệu
trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, nhất là trong Bộ luật tố tụng
chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam; Thực tiễn việc xây dựng, sửa đổi về phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt
Nam theo quy định của pháp luật hiện nay, những ưu điểm và mặt hạn chế khi
áp dụng vào thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ
bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải trong hoạt động xét xử tại tòa án cấp sơ thẩm theo quy định pháp luật.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận văn sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như phương pháp tổng hợp và
phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp
nghiên cứu lý luận và thực tiễn … Các phương pháp nghiên cứu trong Luận văn
được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện
chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã
hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
6. Tình hình nghiên cứu.
Hoạt động xét xử tại tòa án cấp sơ thẩm là một nội dung quan trọng trong
hệ thống pháp luật cũng như thực tế tại Việt Nam. Hàng ngày, rất nhiều các
5
tranh chấp trong quan hệ dân sự các bên không thể tự mình giải quyết mà phải
có một bên thứ ba đứng ra giải quyết tranh chấp đó là Tòa án nhưng trên thực tế
việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải chưa được
cụ thể hóa vả về bản chất và thủ tục. Vì vậy nội dung về “kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam” là vấn đế rất mới
mẻ, cần được nghiên cứu để hạn chế các vướng mắc trong việc kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam.
Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên
quan đến vấn đề hòa giải một cách trực tiếp và gián tiếp:
Về Luận án, Luận văn và các công trình nghiên cứu khoa học:
"Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự, Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn", Luận án tiến sĩ Luật học -Trần Văn Quảng, Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2004.Một số vấn đề về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Luận văn thạc sĩ luật học - Nguyễn Thị
Ngọc Mai, Khoa luật ĐHQG HN, 2014; Thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ
án dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học - Nguyễn Thị Việt Nga, Khoa luật ĐHQG
HN, 2012; Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, Luận văn thạc sĩ, Nguyễn
Thị Thúy Hòa, Đại học Luật Hà Nội, 2010; Các cấp xét xử trong tố tụng dân sự
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ - Lê Thị Hà, Đại học Luật hà Nội, 1997; Một số
nhận xét đối với công tác xét xử sơ thẩm của tòa án địa phương thông qua công
tác xét xử phúc thẩm - Toàn án nhân dân tối cao TP Hồ Chí Minh, Tòa án nhân
dân tối cao, Số 1/2015, tr.41-44; Hoàn thiện chế định hòa giải trong tố tụng dân
sự, Đào Thị Mai Hường, Tạp chí TAND, số 1, 1998; Hòa giải và tự thỏa thuận
trong tố tụng dân sự, kinh tế và lao động", Phan Hữu Thư, Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, số 2, 1999; Vai trò và thủ tục hòa giải trong xét xử các tranh chấp
lao động, Lê Văn Luật, Tạp chí TAND, số 16, 2004; Việc áp dụng các quy định
về hòa giải trong tố tụng dân sự, Nguyễn Thị Thanh Hương, Tạp chí Kiểm sát,
số 5, 2006; Tòa án ra quyết định phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các đương
sự, Nguyễn Quốc Phong, Báo Công lý, số 72, ngày 06/9/2008; Hòa giải trong
tố tụng dân sự của Việt Nam và Nhật Bản nhìn từ góc độ so sánh, Dương
Quỳnh Hoa, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 02, 2008; Các giai đoạn tố tụng
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam 2015, Khóa luận cử nhân –
Phạm Văn Anh, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017 …
Tuy nhiên vấn đề về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải là quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015,
hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào về phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
của pháp luật tố tụng tại hầu hết các nước trên thế giới, tuy nhiên, hiện nay vẫn
chưa có một mô hình thống nhất và cụ thể về phiên họp này. Cách thức vận
hành, quy định chung về phiên họp được xem xét và xây dựng tùy thuộc vào
tinh thần pháp luật tố tụng dân sự của mỗi quốc gia. Phiên họp này dù được tổ
chức như thế nào cũng đều mang hơi hướng và bản chất của một giai đoạn
trong tiến trình tố tụng dân sự. Do đó, vai trò và vị trí của phiên họp trong quá
trình tiến hành tố tụng là không thể không nhắc đến.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, tố tụng dân sự (Civil Procedure) [46, 59]
được hiểu đơn giản là một quá trình được thực hiện theo trình tự, thủ tục giải
quyết các vụ việc dân sự, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự nhằm tìm được tỉ
lệ quyền lợi cân bằng hợp lý nhất giữa các bên chủ thể xảy ra tranh chấp. Như
một lẽ thông thường, trong quá trình giao lưu dân sự, các chủ thể trong xã hội
dân sự luôn có sự tương tác với nhau thông qua vật hoặc các quyền và nghĩa
vụ. Những sự tương tác này tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới quyền và lợi ích
của các bên, điều này dẫn đến những bất đồng và mâu thuẫn về quyền và lợi
ích chính đáng của mỗi bên. Để có thể giải quyết bất đồng, buộc người ta phải
tìm ra một công cụ và phương thức nào đó để chấm dứt sự bất đồng cũng như
1
giải quyết được việc phân chia quyền lợi trong quan hệ tranh chấp như thế nào
cho hợp lý. Tố tụng dân sự ra đời nhằm thực hiện vai trò này [30]. Bởi hoạt
động này có sự tham gia của một chủ thể thứ ba nằm ngoài quan hệ dân sự
tranh chấp, với mục đích giải quyết các tranh chấp nên một chuẩn mực về các
hành vi phải được ban hành nhằm định hướng cho các chủ thể tham gia các
bước thực hiện để đi tới được công lý và bình đẳng. Các chuẩn mực hành vi
này được thực hiện trong một thời gian dài từ khi các bên nêu ra sự việc tranh
chấp với bên thứ ba giải quyết cho đến khi kết quả của việc phân xử, giải quyết
được thể hiện ra thực tế (tiêu biểu là thể hiện qua bản án), đây được xem như
một khung xương cho hoạt động xét xử, giải quyết các tranh chấp dân sự.
sử dụng chứng cứ thu được qua hoạt động thụ lý hồ sơ vụ án, thông qua hòa
giải, xét xử tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm để giải quyết vụ
án cũng như hoạt động thu giữ chứng cứ do đương sự cung cấp các chứng cứ
cũng được bổ sung [54]. Đối với chứng cứ, hoạt động đầu tiên của Tòa án là
hoạt động tiếp nhận tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi
kiện (chưa thụ lý vụ án). Đó là việc "Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn
khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có
căn cứ và hợp pháp”. Sau đó, các chứng cứ này sẽ được đưa vào quá trình tố
tụng làm căn cứ bảo vệ quyền và lợi ích cho các bên đương sự.
Trước khi bước tới giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét xử, với nguyên tắc
“việc dân sự cốt ở đôi bên”, quy trình tố tụng luôn dành ra một khoảng thời
gian pháp lý nhằm trước hết là giúp các đương sự xác định lại tình trạng tranh
chấp của quan hệ pháp luật, bên cạnh đó, các đương sự cũng cần được biết vị
thế của mình trong quan hệ tranh chấp hiện tại như thế nào thông qua những tài
liệu, chứng cứ mà các bên cung cấp trong hồ sơ khởi kiện [33]. Điều này đảm
bảo cho việc các bên nắm chắc hơn về tình trạng xung đột lợi ích, thúc đẩy
việc giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn dựa trên
3
những căn cứ đã được xác định. Hoạt động này được gọi với tên là kiểm tra
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và là một hoạt động tố tụng đặc thù
được thực hiện dưới hình thức một phiên họp.
Sau khi giúp các đương sự nắm bắt được tình trạng xung đột trong quan
hệ tranh chấp, tòa án sẽ là chủ thể thứ ba đúng ra tổ chức cho các bên đương sự
có sự trao đổi, trình bày ý kiến và đưa ra phương thức giải quyết tranh chấp
này một cách nhanh chóng. Dựa trên những căn cứ pháp lý trong hồ sơ, chứng
cứ, các bên có thể trình bày quan điểm, ý kiến của mình về quyền và lợi ích
trong quan hệ xung đột lợi ích trên, đồng thời đưa ra các phương án giải quyết
có thể thống nhất được. Hoạt động này được gọi là hoạt động hòa giải.
chứng cứ [40]. Đương sự phải giao nộp, nếu đương sự không giao nộp hoặc
giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do
chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp
và Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ việc dân sự
Theo quy định tại Điều 93 BLTTDS 2015, "Chứng cứ trong vụ việc dân
sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao
nộp, xuất trình cho Toà án trong quá trình tố tụng hoặc do Toà án thu thập
được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Toà án sử dụng
dùng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác
định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”. [49]
Từ khái niệm trên có thể khẳng định, chứng cứ trong phiên họp phải bảo
đảm 03 thuộc tính là tính khách quan (là những gì có thật); tính liên quan (được
dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ
và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải
quyết đúng đắn vụ việc dân sự) và tính hợp pháp (được giao nộp hoặc thu thập
5
theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định). Như vậy, những gì được xác định
là chứng cứ thì chúng phải đảm bảo 03 thuộc tính của chứng cứ được nêu trên.
Cũng vì đó, vai trò của chứng cứ trở nên vô cùng quan trọng cho quá trình giải
quyết vụ án.
Khi người khởi kiện nộp đơn trong đó có nộp tài liệu, chứng cứ thì điều
này đã tạo nên căn cứ để Tòa án phải tiến hành thu thập và lập biên bản giao
nhận chứng cứ. Ngoài ra không chỉ trước giai đoạn thụ lý vụ án, trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử chứng cứ cũng sẽ dần được bổ sung và hoàn thiện. Và
bên cạnh đó, ý kiến của đương sự và thỏa thuận, không thỏa thuận không chỉ
giới hạn trong các ý kiến đã trình bày ở bản tự khai, biên bản ghi lời khai.
Chứng cứ còn được lấy từ một nguồn khác đó là thông qua các hoạt động tố
tụng tại cấp sơ thẩm, Toà án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án
tài liệu mình có, bằng cách cho biết tài liệu đó tồn tại hoặc đã từng tồn tại.
Điều 31.2 CPR Việc công bố tài liệu phải được thực hiện theo trình tự luật
định. Tòa án sẽ ra lệnh yêu cầu các bên phải công bố chứng cứ, trong đó đưa ra
tiêu chuẩn về việc công bố. Tiêu chuẩn này có thể được tòa án điều chỉnh, hoặc
các bên có thể thỏa thuận về giới hạn và phân chia tiêu chuẩn đó. Mỗi bên phải
gửi cho bên kia danh sách các tài liệu được công bố. Điều 31.10 CPR Thông
thường, các bên không những phải công bố các chứng cứ có lợi cho mình, mà
cả các chứng cứ có lợi cho đối phương và các tài liệu khác mà các quy tắc tố
tụng bắt buộc phải công bố. Điều 31.6 CPR Đây là một điểm khác biệt đáng
chú ý so với quá trình tố tụng tại tòa án Việt Nam khi mà các đương sự không
có nghĩa vụ phải công bố chứng cứ, nhất là chứng cứ bất lợi cho mình thì ở tòa
án Anh, đương sự không thể giấu giếm chứng cứ mà phải công bố tất cả theo
hướng dẫn của luật và của tòa án.
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, Các bên đương sự
phải tự mình tìm kiếm, thu thập mọi chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi
7
của mình như thu thập các chứng cứ viết, các vật chứng, đề xuất toà án triệu
tập những người làm chứng cần thiết… Theo pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ,
các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ trao đổi chứng cứ với nhau và quyền
được biết toàn bộ các chứng cứ của bên kia [37]. Nếu một bên từ chối không
cung cấp chứng cứ hoặc không trả lời về vấn đề nào đó thì thẩm phán sẽ ban
hành lệnh buộc người từ chối phải cung cấp chứng cứ hoặc áp dụng các biện
pháp chế tài cần thiết. Nếu người không cung cấp chứng cứ là bị đơn thì thẩm
phán sẽ quyết định giải quyết vụ kiện hoàn toàn trên chứng cứ do nguyên đơn
xuất trình trước toà án. Trong trường hợp thẩm phán thấy rằng chứng cứ mà
các đương sự xuất trình chưa đầy đủ để giải quyết vụ việc thì thẩm phán yêu
cầu các bên đương sự cung cấp thêm chứng cứ chứ thẩm phán không bao giờ
tự mình thu thập chứng cứ. Sau khi các bên thu thập được đầy đủ thông tin,
được biết các tài liệu chứng cứ của vụ án để thực hiện quyền tranh tụng, quyền
bảo vệ hoặc tự bảo vệ các lợi ích chính đáng của mình, cho nên ngoài nghĩa vụ
giao nộp tài liệu chứng cứ cho Tòa án thì nguyên đơn cũng phải gửi bản sao
cho đương sự khác. Do vậy, phải có phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên để
hạn chế việc phát sinh thêm thủ tục không cần thiết, nên đã ghép phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ với phiên hòa giải.
Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải
được thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.
1.1.1.2.Hòa giải tại cấp sơ thẩm.
Hòa giải là việc Tòa án nhân dân hướng dẫn các đương sự tự thoả thuận,
thương lượng để giải quyết vụ án theo đúng đường lối, chính sách và pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hòa giải là một thủ tục cần thiết và bắt
buộc ( trừ một số vụ án như khiếu nại danh sách cử tri, tuyên bố mất tích,
chết). Hòa giải là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc
9
xích mích một cách ổn thỏa. Hòa giải cũng là giải quyết các tranh chấp, bất
đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương
lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp).
Hòa giải còn được hiểu ở góc độ rộng hơn là một quá trình, trong đó bên thứ
ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đề của
họ.[2] Hòa giải cũng được coi là sự tiếp nối của quá trình thương lượng, trong
đó các bên cố gắng làm điều hoà những ý kiến bất đồng [25, 18].
Theo Từ điển tiếng Việt thì hòa giải là “thuyết phục các bên đồng ý
chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa”. Khái niệm này đề cập
đến hành động và mục đích của hòa giải nhưng chưa nêu được các yếu tố như
bản chất, nội dung và chủ thể của hòa giải. [23]
dân sự.
Cơ sở của hòa giải VADS là quyền tự định đoạt của các đương sự. Để
giải quyết VADS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tòa án không
chỉ xét xử mà còn hòa giải VADS. Điều 10 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS)
quy định, tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để
các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy
định của Bộ luật này.
Tại khoản 1 Điều 180 BLTTDS quy định trách nhiệm hòa giải của tòa
án: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải
để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án
không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều
181 và Điều 182 của Bộ luật này”. Do vậy, hòa giải tiến hành với việc giải
quyết hầu hết VADS, trừ những trường hợp không hòa giải được hoặc pháp
luật quy định không được hòa giải [49].
11
Trước khi tiến hành phiên hòa giải, tòa án phải thông báo cho các đương
sự, người đại diện hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành
phiên hòa giải, nội dung các vấn đề cần hòa giải. Khi tiến hành hòa giải, Thẩm
phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan
đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình,
phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả thuận
với nhau về việc giải quyết vụ án.
Khi đã có đầy đủ điều kiện để tiến hành hòa giải thì thẩm phán được
phân công giải quyết vụ án có cán bộ thư ký tòa án giúp việc ghi biên bản sẽ
tiến hành giải phiên hòa giải. Thẩm phán công bố nội dung vụ án tranh chấp,
phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến
việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình. Thẩm
phán phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành hoặc không thành để