I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG TH BCH HI PHIấN TềA PHC THM DN S THEO QUY
NH
CA B LUT T TNG DN S VIT NAM
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2009
Hµ néi - 2009 MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA Lời cam đoan MỤC LỤC Danh mục các chữ viết tắt MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHIÊN TÒA PHÚC
1.2.2.
Các chủ thể trong phiên tòa phúc thẩm dân sự
20
1.2.3.
Phạm vi xét xử phúc thẩm dân sự
22
1.2.4.
Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự
23 1.2.5.
Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm
25
Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG
DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN
SỰ
28
2.1.
Các quy định chung về phiên tòa phúc thẩm dân sự
28
2.1.1.
Một số nguyên tắc tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự
28
2.1.1.1.
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
28
2.1.1.2.
Nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
34
2.1.3.
Các quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm
36
2.2.
Các quy định về thủ tục phiên tòa phúc thẩm dân sự
38
2.2.1.
Các quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm dân sự
38
2.2.2.
Các quy định về thủ tục hỏi tại phiên tòa phúc thẩm dân sự
46
2.2.3.
Các quy định về tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm dân sự
52
2.2.4.
Các quy định về nghị án phúc thẩm
54 2.2.5.
Các quy định về tuyên án phúc thẩm
55
2.3.
Các quy định về quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm
57
2.3.1.
Quyền giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm
57
76
3.2.
Các yêu cầu hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự Việt Nam năm 2004 về phiên tòa phúc thẩm dân sự
78
3.2.1.
Yêu cầu nâng cao hiệu quả xét xử phúc thẩm
79
3.2.2.
Yêu cầu mở rộng tranh tụng trong tố tụng dân sự
79
3.2.3.
Yêu cầu về hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
80
3.2.4.
Yêu cầu về đổi mới hệ thống Tòa án
81
3.2.5.
Yêu cầu nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán
82
3.3.
Các giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng dân
82 sự Việt Nam năm 2004 về phiên tòa phúc thẩm dân sự
KẾT LUẬN
89
: Viện kiểm sát
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới. Ngoài những thành tựu về
văn hóa - xã hội thì các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh thương mại và lao động cũng nảy sinh hết sức đa dạng và phức tạp,
trong đó các tranh chấp có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều. Việc giải
quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại,
lao động góp phần bảo vệ trật tự và an ninh xã hội là nhiệm vụ quan trọng của
các cơ quan nhà nước, trong đó Tòa án nhân dân (TAND) giữ vai trò trung
tâm.
Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã đề ra
nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp, trong đó nhấn mạnh đến việc phát
huy dân chủ, phát triển tranh tụng, đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền và lợi
ích hợp pháp của con người là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công
tác tư pháp trong thời gian tới. Nghị quyết đã xác định yêu cầu:
Nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án, của Viện kiểm sát
tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào
chữa và người tham gia tố tụng khác… Khi xét xử Tòa án phải đảm
bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thật sự dân
chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật; việc xét xử của Tòa án phải căn cứ chủ yếu và
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn
xử của Tòa án cấp dưới. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định của BLTTDS
về xét xử phúc thẩm trong những năm qua cho thấy các quy định này còn
nhiều bất cập. Ngoài ra, do có nhiều nguyên nhân khác nhau, hiện tượng vi
phạm các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm vẫn còn xảy ra ở
nhiều nơi làm ảnh hưởng đến hiệu quả xét xử phúc thẩm, gây thiệt hại đến 3
quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của
Nhà nước.
Những lý do trên cho thấy việc nghiên cứu về phiên tòa phúc thẩm
dân sự là hết sức cần thiết, nhất là trong điều kiện hiện nay khi chúng ta đang
đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài "Phiên tòa
phúc thẩm dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam" làm
luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước tới nay, nhất là từ sau khi BLTTDS năm 2004 được ban hành
đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý, trong đó có đề cập đến
phiên tòa phúc thẩm như đề tài "Thực trạng hoạt động xét xử phúc thẩm và
giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao" của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), 2006; bài "Chế định
phúc thẩm vụ án dân sự" của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đăng trên đặc san
Tạp chí Luật học, 2005; bài "Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án như thế
nào khi Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập sai tư cách người tham gia tố tụng" của
tác giả Nguyễn Đình Huề đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 5/2005; bài
"Nâng cao trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thực hiện quyền kháng nghị
phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự" của tác giả Đào Hữu
Đăng đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 1/2005…; luận văn thạc sĩ: "Thủ tục giải
quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm theo pháp luật Việt Nam" của
tác giả Đào Duy Vương; luận văn thạc sĩ: "Các cấp xét xử trong tố tụng dân
Phiên tòa phúc thẩm dân sự là một đề tài rất rộng, bao gồm nhiều vấn
đề về lý luận cũng như thực tiễn. Tuy nhiên, trong khuôn khổ phạm vi luận
văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: Khái 5
niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung của phiên tòa phúc thẩm dân sự; nội
dung các quy định của BLTTDS Việt Nam về nguyên tắc tiến hành phiên tòa
phúc thẩm dân sự, các chủ thể tại phiên tòa phúc thẩm dân sự, thủ tục tiến
hành phiên tòa phúc thẩm, quyền hạn của Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc
thẩm; thực tiễn áp dụng và các giải pháp hoàn thiện chúng.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
Quá trình nghiên cứu đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khoa học như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương
pháp so sánh, phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên có tính hệ
thống và toàn diện về phiên tòa phúc thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS
Việt Nam với những đóng góp mới cho khoa học pháp lý như sau:
- Luận văn đã làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về phiên tòa
phúc thẩm dân sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung của phiên tòa
phúc thẩm dân sự.
- Phân tích làm rõ các quy định của BLTTDS Việt Nam về phiên tòa
phúc thẩm dân sự và thực tiễn thực hiện.
- Chỉ ra những điểm còn bất cập của BLTTDS Việt Nam hiện hành về
phiên tòa phúc thẩm và đề xuất được một số giải pháp hoàn thiện chúng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
buộc. Việc xét xử của Tòa án tương ứng với tính chất của thủ tục xét xử vụ án
mà có các thủ tục diễn ra theo cấp xét xử như xét xử sơ thẩm được diễn ra tại
Tòa án cấp sơ thẩm, xét xử phúc thẩm được diễn ra tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Mỗi thủ tục xét xử có một đặc thù riêng mang tính chất pháp lý khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt thì "phúc thẩm" là việc "Tòa án cấp trên xét
xử lại một vụ án do cấp dưới đã xử sơ thẩm mà có chống án" [46, tr. 1148].
Theo Từ điển Thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì "phúc
thẩm là xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định dân sự sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật bị kháng cáo, bị kháng nghị" [38, tr. 221]. 8
Cả hai cách giải thích trên, theo tác giả là chưa thỏa đáng. Khái niệm
phúc thẩm có thể được hiểu ở các góc độ khác nhau, cả ở nghĩa hẹp và nghĩa
rộng. Theo nghĩa hẹp, khái niệm phúc thẩm có thể được hiểu với một trong
các nghĩa sau: phúc thẩm là một giai đoạn trong tố tụng dân sự (giai đoạn
phúc thẩm); phúc thẩm là một chế định (chế định phúc thẩm) của tố tụng dân
sự; phúc thẩm là một thủ tục tố tụng (thủ tục xét xử phúc thẩm). Theo nghĩa
rộng, khái niệm phúc thẩm được hiểu ở cả ba nghĩa nêu trên: phúc thẩm là
một giai đoạn, một chế định của tố tụng dân sự, đồng thời là một thủ tục xét
xử. Như vậy, xét về nội hàm thì khái niệm "phúc thẩm" là một khái niệm rộng
nhất, bao hàm các khái niệm hẹp hơn: "giai đoạn phúc thẩm", "chế định phúc
thẩm" và "thủ tục xét xử phúc thẩm".
Dưới góc độ là giai đoạn phúc thẩm, phúc thẩm được hiểu là một giai
đoạn của tố tụng dân sự, có tính độc lập và liên quan chặt chẽ với các giai
đoạn tố tụng khác. So với các giai đoạn tố tụng khác, phúc thẩm có một số
đặc trưng sau đây:
- Tính chất của phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại
vụ án;
- Nhiệm vụ trực tiếp của phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và có
kể từ ngày tuyên án. Còn những vụ án xét xử trong trường hợp có đương sự
vắng mặt thì giai đoạn phúc thẩm sẽ kết thúc, nếu hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị mà không có ai kháng cáo, VKS không kháng nghị. Tuy nhiên,
thời gian không phải là 30 ngày kể từ ngày tuyên án mà có thể dài hơn vì nó
phụ thuộc vào thời điểm người có quyền kháng cáo được tống đạt hợp lệ bản
án, quyết định. Đối với trường hợp vụ án tuy có kháng cáo hoặc kháng nghị,
nhưng sau đó người đã kháng cáo hoặc VKS kháng nghị rút toàn bộ kháng
cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa, thì giai đoạn phúc thẩm sẽ kết thúc ở
thời điểm Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm
vụ án. Còn đối với các vụ án khác thì giai đoạn phúc thẩm kết thúc sau khi
tuyên án phúc thẩm. 10
Dưới góc độ là chế định phúc thẩm, phúc thẩm được hiểu là một hệ
thống những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ
phát sinh trong quá trình giải quyết lại vụ án trong trường hợp bản án, quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng
nghị. Chế định phúc thẩm bao gồm các quy phạm pháp luật quy định về thủ
tục kháng cáo, kháng nghị; thời hạn kháng cáo, kháng nghị; HĐXX phúc
thẩm; những người tham gia phiên tòa phúc thẩm; phạm vi xét xử phúc thẩm;
thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm v.v Các quy phạm pháp luật này
không chỉ bao gồm các quy định trong BLTTDS mà còn bao gồm cả các quy
định trong các văn bản pháp luật khác như: Luật tổ chức Tòa án nhân dân
(LTCTAND), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (LTCVKSND).
Dưới góc độ là thủ tục xét xử phúc thẩm, phúc thẩm được hiểu là một
trong những hình thức giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa
án cấp dưới. Thủ tục xét xử phúc thẩm đối với một vụ án chỉ phát sinh khi
bản án, quyết định sơ thẩm về vụ án đó bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo
quy định của pháp luật. Vì vậy, không phải tất cả các vụ án dân sự sau khi xét
bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm xác định tính hợp pháp và tính có căn cứ
của bản án, quyết định đó.
1.1.2. Đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm dân sự
Trong tố tụng dân sự có phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, phiên
tòa giám đốc thẩm và phiên tòa tái thẩm. Mỗi phiên tòa có những đặc điểm,
nhiệm vụ và ý nghĩa riêng. Việc nghiên cứu làm rõ các đặc điểm của phiên
tòa phúc thẩm dân sự là rất cần thiết. Từ đó thấy được vị trí, vai trò của chúng
trong tố tụng dân sự. Qua việc nghiên cứu đề tài cho thấy phiên tòa phúc thẩm
dân sự có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, phiên tòa phúc thẩm dân sự là phiên của Tòa án xét xử lại
vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,
kháng nghị. Đặc điểm này thể hiện tính chất đặc thù của phúc thẩm dân sự là
một cấp xét xử. Tuy vậy, vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đền này. 12
Ý kiến thứ nhất cho rằng, phúc thẩm không phải là một cấp xét xử mà
chỉ là một thủ tục tố tụng mà theo đó, Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại các bản
án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Do
vậy phiên tòa phúc thẩm cũng chỉ là một thủ tục tố tụng, chỉ là việc "xét lại"
chứ không phải là "xét xử lại".
Ý kiến thứ hai cho rằng, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ có nhiệm vụ
kiểm tra hoạt động xét xử sơ thẩm mà còn xét xử cả về nội dung vụ án. Vì
vậy, đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm không phải là "xét lại" mà là "xét xử
lại" các vụ án mà quyết định, bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,
kháng nghị.
Thực chất sự khác nhau giữa hai quan điểm nêu trên chủ yếu ở chỗ
xác định phúc thẩm có phải là một cấp xét xử hay không? Từ đó xác định
phiên tòa phúc thẩm có phải là một thủ tục của một cấp xét xử hay không? Để
lý giải hai quan điểm nêu trên, cần thiết đi từ "nguyên tắc hai cấp xét xử".
Bộ Tư pháp ngày 19/8/1955 nhấn mạnh: "Nguyên tắc hai cấp xét xử là một
trong những nguyên tắc tố tụng của nhân dân cần phải được bảo đảm". Điều 9
LTCTAND năm 1960 quy định "Tòa án nhân dân thực hành chế độ hai cấp
xét xử". Tại Mục III công văn số 614/DS ngày 24/4/1963 của TANDTC về
việc vi phạm thủ tục tố tụng có hướng dẫn "Một trong những nguyên tắc cơ
bản của Tòa án là hai cấp xét xử, đương sự có quyền chống bản án của TAND
xử sơ thẩm lên TAND trên một cấp, VKS nhân dân cùng cấp và trên một cấp
có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm của TAND". Thông tư số 19/TATC
ngày 02/10/1974 của TANDTC quy định rõ về chức năng của Tòa án cấp
phúc thẩm là "xét xử lại những vụ án đã được xét xử theo trình tự sơ thẩm khi
bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị".
Trong LTCTAND năm 1981 và LTCTAND năm 1992, mặc dù
nguyên tắc hai cấp xét xử không chính thức được ghi nhận lại, nhưng trên
thực tế nguyên tắc này vẫn được thừa nhận và Tòa án cấp phúc thẩm vẫn xét
xử lại vụ án về mặt nội dung. Đến khi LTCTAND năm 2002 được ban hành 14
nguyên tắc "Tòa án nhân dân thực hiện chế độ hai cấp xét xử" lại được tiếp tục
ghi nhận tại Điều 11. Hiện tại Điều 17 BLTTDS năm 2004 cũng đã ghi nhận
nguyên tắc này.
Thứ hai, phiên tòa phúc thẩm trong tố tụng dân sự là việc Tòa án xét
xử lần thứ hai vụ án dân sự khi bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo,
kháng nghị. Nếu như phiên tòa sơ thẩm là việc Tòa án xét xử lần đầu vụ án
dân sự thì phiên tòa phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên xét xử lần thứ hai đối
với vụ án. Không giống như trong phiên tòa sơ thẩm, việc xét xử xuất phát từ
yêu cầu khởi kiện vụ án dân sự của nguyên đơn, phiên tòa phúc thẩm trong tố
tụng dân sự được tiến hành trên cơ sở đơn kháng cáo của các đương sự hoặc
quyết định kháng nghị của VKS trong thời hạn pháp luật quy định.
Thứ ba, phiên tòa phúc thẩm trong tố tụng dân sự do Tòa án cấp trên
hiện chức năng xét xử, có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp dân sự. Hành
vi khởi kiện tại Tòa án của cá nhân, cơ quan, tổ chức là sự kiện pháp lý tiền
đề làm phát sinh vụ án dân sự. Khi một chủ thể khởi kiện vụ án dân sự và việc
quy định Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, giải quyết các tranh
chấp dân sự, mục đích đều hướng tới sự công bằng, cả chủ thể có quyền, lợi
ích cần được bảo vệ và Nhà nước đều mong muốn rằng Tòa án - cơ quan công
quyền có quyền nhân danh nhà nước thực hiện chức năng xét xử ra các phán
quyết công bằng, trả lại cho các chủ thể tham gia quyền và lợi ích hợp pháp
của họ.
Thực chất của tố tụng dân sự là quá trình Tòa án giải quyết các mâu
thuẫn về quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung.
Mục đích của tố tụng dân sự là nhằm lập lại trật tự của quan hệ pháp luật có
tranh chấp trên cơ sở các nguyên tắc tố tụng dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của các chủ thể và lợi ích của Nhà nước.
Quá trình Tòa án thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự
thông qua các giai đoạn khác nhau, như nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án,
chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. 16
Mỗi giai đoạn đều có tính độc lập tương đối, có mục đích, đặc điểm và ý
nghĩa riêng. Ví dụ, ở giai đoạn sơ thẩm, phiên tòa dân sự sơ thẩm có ý nghĩa
quan trọng, là phiên xử đầu, là nơi quyền và nghĩa vụ của các đương sự được
Tòa án ghi nhận chính thức trong các bản án, quyết định của Tòa án [13, tr.
42]. Thông qua phiên tòa sơ thẩm, việc giáo dục ý thức chấp hành pháp luật,
phổ biến pháp luật được thực hiện đến những người tham dự phiên tòa. Tuy
nhiên, ý nghĩa giáo dục, phổ biến pháp luật được thể hiện rất rõ nét (hơn cả)
tại phiên tòa phúc thẩm. Với quy định bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật
kể từ ngày tuyên án [2, tr. 81], thì việc áp dụng các quy định của tố tụng dân
sự trong xét xử tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa đặc biệt cả về
bản án, quyết định phúc thẩm, các sai lầm, vi phạm pháp luật trong quá trình
giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm được khắc phục. Từ đó không những
giúp bản thân đương sự tự ý thức được những xử sự mà họ đã thực hiện là
phù hợp với quy định của pháp luật hay không mà còn bảo đảm được sự quan
tâm của Nhà nước đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, thực hiện Nhà
nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Do đó, góp
phần nâng cao được địa vị chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
1.1.3.2. Ý nghĩa về mặt xã hội
Đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự, nguyên tắc xét xử công khai vẫn
được áp dụng triệt để như phiên tòa sơ thẩm dân sự. Trong trường hợp xét xử
kín, bản án vẫn phải tuyên công khai. Do vậy, tính minh bạch của các phán
quyết được thể hiện triệt để. Với thành phần HĐXX gồm 3 Thẩm phán là những
người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ xét xử, sự am hiểu pháp luật mang
tính chuyên sâu nên các phán quyết của HĐXX phúc thẩm về logíc sẽ bảo
đảm tính chính xác, đúng pháp luật và có độ tin cậy cao. Qua đó sẽ nâng cao
được sự tín nhiệm của người dân đối với Tòa án - cơ quan nhân danh Nhà
nước thực hiện chức năng xét xử. 18
Sự công bằng, bình đẳng trong tố tụng dân sự là một nguyên tắc cơ
bản trong tố tụng dân sự Việt Nam. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
luật, trước Tòa án, không phân biệt nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng,
tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp. Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng,
không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề
khác. Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự,
Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ
của mình [2, tr. 11-12]. Sự công bằng, bình đẳng tại phiên tòa dân sự phúc
thẩm không chỉ là nguyên tắc cơ bản mà còn là mục tiêu xuyên suốt quá trình