MỤC LỤC
Danh mục
Tra
MỞ ĐẦU ………………………………………………………………..
ng
NỘI DUNG……………………………………………………………...
1
I.Khái niệm người bị hại………………………………………………...
1
1.Khái niệm người bị hại theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện
1
hành……………………………………………………………………..
2. Khái niệm bị hại quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015……….
1
3.So sánh khái niệm bị hại giữa Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Bộ luật tố
2
tụng hình sự 2015……………………………………………………..
II. Quyền và nghĩa vụ của bị hại thông qua quy định của bộ luật tố tụng hình
2
sự hiện hành và Bộ luật tố tụng hình sự 2015……………………...
1.Quyền của bị hại được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành và Bộ 3
luật tố tụng hình sự 2015…………………………………………
1.1.Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;……………………………………..
3
1.2.Được thông báo về kết quả điều tra………………………………….
3
1.3.Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên 5
dịch theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự…………………
1.4.Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp đảm bảo bồi thường ……
5
2.2.Nghĩa vụ của bị hại được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015
KẾT LUẬN………………………………………………………………
DANH MỤC TÀO LIỆU THAM KHẢO
14
15
15
1.Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam – Nhà xuất bản Công an nhân
dân
2.Bộ luật tố tụng hình sự 2003 – Nhà xuất bản Lao động
3.Bộ luật tố tụng hình sự 2015 – Nhà xuất bản Lao động
4. Trang: Tòa án nhân dân tối cao
Link: http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?
p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&item_id=149092562&article_detai
ls=1
5. Trang : 123doc
Link: http://123doc.org/document/263022-quyen-va-nghia-vu-cua-nguoi-bihai-trong-to-tung-hinh-su-va-viec-hoan-thien-phap-luat.htm?page=4
6. Trang : hỏi đáp pháp luật – Tổng đài tư vấn pháp luật
Link : http://m.boluathinhsu.com/bo-luat-to-tung-hinh-su/phan-3-xet-xu-sotham/chuong-xx-thu-tuc-xet-hoi-tai-phien-toa_t12-c004003-a101-m9.html
7. Nghị quyết số 03/2004/NQ-H ĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án Nhân dân Tối cao
8. Bộ luật hình sự - Nhà xuất bản
MỞ ĐẦU
Bộ luật tố tụng hình sự là căn cứ pháp lý quan trọng nhất quy định trình tự, thủ tục
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, quyền hạn và
mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền
hạn, trách nhiệm của những nhiệm của những người có thẩm quyền tiến hành tố
3
xử lí hoặc trường hợp không xác định được người bị thiệt hại mặc dù trên thực tế
có người bị thiệt hại về vật chất, tinh thần , tài sản do hành vi phạm tội gây ra thì
người đó cũng không trở thành người bị hại trong vụ án hình sự.
2. Khái niệm bị hại quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Khoản 1 Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định: “ Bị hại là cá nhân trực
tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về
tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.”
Như vậy, bị hại có thể là cá nhân và có thể là pháp nhân (cơ quan, tổ chức). Tuy
nhiên, cơ quan, tổ chức đó phải bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra
hoặc đe dọa gây ra. Đe dọa gây ra tức là chưa có hậu quả thiệt hại về tài sản xảy ra,
nhưng có thể có thiệt hại về uy tín.
3.So sánh khái niệm bị hại giữa Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Bộ luật tố
tụng hình sự 2015.
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã dùng “bị hại” thay cho “người bị hại” và thêm
từ “trực tiếp” vào khái niệm ( người bị hại theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự
2003 cũng bị trực tiếp xâm phạm).Sử dụng cụm từ “người bị hại” nên quy định của
BLTTHS hiện hành đã bị hạn chế về đối tượng bị thiệt hại, do “người bị hại” chỉ
một con người cụ thể trong xã hội.BLTTHS 2015 đã tháo gỡ được hạn chế ấy khi
sử dụng khái niệm “bị hại” thay cho “người bị hại” và thêm pháp nhân (cơ quan, tổ
chức ) là đối tượng của bị hại nếu “bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra
hoặc đe dọa gây ra.” Điều này đã nới rộng hơn phạm vi đối tượng của bị hại, bảo
về lợi ích của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại, hoàn thiện hơn pháp luật nước ta.Tuy
nhiên, việc quy định cơ quan, tổ chức bị thiệt hại uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe
dọa gây ra có tính trừu tượng, khó phân định chính xác uy tín bị thiệt hại đến mức
4
trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm
sát phải trả lời và nêu rõ lý do.” Ý nghĩa của điều luật này là nhằm đảm bảo
nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 10 BLTTHS 2003) và nguyên
tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án ( Điều 19 BLTTHS 2003). Qua
đó, góp phần giải quyết nhanh chóng vụ án, bảo vệ quyền lợi và lợi ích của
người bị hại, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
•
khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015 quy định: “ Bị hại hoặc người đại diện của
họ có quyền:
b)Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;”
So với BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 quy định thêm quyền đưa ra chứng cứ
của bị hại. Xét về bản chất, chứng cứ là những thông tin, tài liệu hay những
gì có thật được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra và đánh giá theo
quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án
hình sự.Do đó, chứng cứ có thể không phải là đồ vật hay tài liệu nhưng lại
phục vụ cho việc giải quyết vụ án ( ví dụ chứng cứ có thể là những thông tin
liên quan đến vụ án,...).VÌ vậy, việc thêm quyền đưa ra chứng cứ cho bị hại
là cần thiết.
1.2.Được thông báo về kết quả điều tra
•
khoản 2 Điều 51 BLTTHS 2003 quy định: “Người bị hại hoặc người đại diện
hợp pháp của họ có quyền:
b)Được thông báo về kết quả điều tra;”
Người bị hại được thông báo về kết quả điều tra để họ biết được những vấn
đề thuộc nội dung vụ án, trên cơ sở đó họ chuẩn bị chứng cứ, lí lẽ hoặc yêu
6
quan.Mặt khác, quyền này chính là cụ thể hóa nguyên tắc đảm bảo sự vô tư
7
khách quan của người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng được
•
quy định tại Điều 14 của Bộ luật này.
khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015 quy định: “ Bị hại hoặc người đại diện của
họ có quyền:
e)Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định,
người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;”
So với BLTTHS hiện hành, BLTTHS 2015 quy định thêm hai chủ thể là
người định giá tài sản, người dịch thuật có thể bị bị hại hoặc người đại diện
của họ đề nghị thay đổi.
1.4.Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp đảm bảo bồi thường
•
khoản 2 Điều 51 BLTTHS 2003 quy định: “Người bị hại hoặc người đại diện
hợp pháp của họ có quyền:
d) Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường;”
Người bị hại rất quan tâm đến việc quyền lợi của họ được giải quyết như thế
nào, họ không những có quyền đề nghị mức bồi thường cho thỏa đáng mà
còn có quyền đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp
cần thiết để đảm bảo bồi thường như kê biên tài sản hoặc các biện pháp
khác.Tuy nhiên, việc đưa ra mức bồi thường như thế nào cho thỏa đáng và
•
tòa.Đây cũng là sự đảm bảo hóa quyền bình đẳng trước Tòa án được quy
•
định tại Điều 19 BLTTHS 2003.
khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015 quy định: “ Bị hại hoặc người đại diện của
họ có quyền:
h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo
và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa.
So với BLTTHS 2015 quy định thêm cho bị hại quyền đề nghị chủ phiên tòa
hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa, quyền xem biên bản phiên
tòa.Việc quy định cho bị hại quyền đề nghị chủ phiên tòa hỏi bị cáo và người
khác tham gia phiên tòa nhằm làm sáng tỏ một số tình tiết của vụ án.Quyền
xem biên bản phiên tòa là để đảm bảo yếu tố khách quan.
1.6. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi
thường cũng như về hình phạt với bị cáo.
9
•
khoản 2 Điều 51 BLTTHS 2003 quy định: “Người bị hại hoặc người đại diện
hợp pháp của họ có quyền:
e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi
thường cũng như về hình phạt với bị cáo.”
Người bị hại là người có quyền lợi liên quan trong vụ án, nếu các quyết
nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” Điều 20 BLTTHS 2003
khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015 quy định: “ Bị hại hoặc người đại diện của
họ có quyền:
m) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng;”
Về cơ bản, BLTTHS 2015 đã tách quyền kháng cáo và quyền khiếu nại của
bị hại thành hai điểm riêng biệt trong điều khoản và đưa quyền kháng cáo
lên trước quyền khiếu nại,ngoài ra không có gì khác biệt.
1.7.Trình bày lời buộc tội tại phiên tòa
•
Khoản 3 Điều 51 BLTTHS 2003 quy định: “ Trong trường hợp khởi tố vụ án
theo yêu câu của người bị hại quy định tại Điều 105 của Bộ luật này thì
người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại
phiên tòa.”
Mục 1.7 Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của HĐTP
TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những
quy định chung” của BLTTHS 2003 quy định: “Việc người bị hại hoặc
người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa phải thực
hiện đúng theo quy định chung của BLTTHS về phiên tòa sơ thẩm, do dó
việc người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội
tại phiên tòa được thực hiện theo trình tự phát biểu sau khi tranh luận tại
phiên tòa theo quy định Điều 271 BLTTHS 2003.
Người bị hại là người phải chịu hậu quả do hành vi phạm tội gây ra nên pháp
luật để cho người bị hại phán xét hành vi phạm tội.Việc quy định cho người
11
trực tiếp thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án mới phải lập biên bản.
1.9.Nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ quyền lợi
cho mình
•
Khoản 1 Điều 59 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “Người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án hình sự có quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người
12
khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận bảo vệ quyền
lợi cho mình”
Pháp luật quy định cho người bị hại quyền tự bào vệ quyền và lợi ích hoặc
có thể nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác nhưng phải
được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận. Việc quy định quyền này là sự
đảm bảo nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân được
•
quy định trong Hiến pháp cũng như BLTTHS.
Khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015 quy định: “ Bị hại hoặc người đại diện của
họ có quyền:
i)Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;”
Thay vì quy định chung quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc
người khác bảo vệ quyền lợi cho bị hại với những người tham gia tố tụng
khác thì BLTTHS 2015 tách riêng quyền của bị hại thành một điểm trong
khoản 2 Điều 62 của Bộ luật này và quy định ngắn gọn hơn, không chỉ đích
danh luật sư, bào chữa viên nhân dân nhưng vẫn bao quát được hết toàn bộ.
hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm
thì vụ án phải được đình chỉ.”
Quyền này cũng có giới hạn đó là chỉ khi người bị hại rút yêu cầu trước
•
ngày mở phiên tòa sơ thẩm vụ án mới bị đình chỉ.
Khoản 2 và khoản 3 Điều 155 BLTTHS 2015 quy định:
“Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình
chỉ, ....”
BLTTHS 2015 đã bỏ đi điều kiện phải rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở
phiên tòa sơ thẩm đã xóa tan hạn chế của BLTTHS 2003.
1.12.Một số quyền của bị hại được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015
•
•
Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có
•
•
•
thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của
mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
Khoản 4 Điều 62 BLTTHS 2015 quy định: “Bị hại có nghĩa vụ:
a)Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở
ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;”
BLTTHS 2015 đã thay Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,Tòa án bằng cụm từ
“người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”.Thay vì phải chịu TNHS theo Điều
15
308 BLHS do từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng như ở
BLTTHS 2003 thì BLTTHS 2015 quy định “trường hợp cố ý vắng mặt
không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể
bị dẫn giải;” Có thể thấy quy định ở BLTTHS 2015 đã nghiêng về quyền lợi
của bị hại.Ngoài ra, trong điều luật này của BLTTHS 2015 không đề cập đến
nghĩa vụ khai báo của bị hại.
2.2.Nghĩa vụ của bị hại được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015
•
Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng.
Điều này đảm bảo cho việc tiến hành tố tụng diễn ra dễ dàng, nghiêm túc và
đảm bảo quy định của pháp luật.
KẾT LUẬN
Nhìn chung,Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã quy định khá đầy đủ , chi tiết về
quyền và nghĩa vụ của người bị hại.Tuy nhiên, pháp luật do con người tạo ra, mà
các nhà làm luật cũng không thể nào quy định chi tiết và đầy đủ hết trong luật do
xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ mới hình thành trong xã hội ngày
càng nhiều.Việc xác định và điều chỉnh chúng cũng gặp nhiều khó khăn, chưa kể
đến những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác. Bộ luật tố tụng hình sự