Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo - Pdf 35

A.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, với nguyên tắc coi bị can, bị cáo là những người chưa có tội nên
pháp luật tố tụng hình sự đã dành cho họ nhiều quyền trong suốt các giai đoạn tố
tụng. Mục đích của những quy định này không phải thiên về lợi ích của những
người bị nghi là có tội hay làm suy yếu đi cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
của các cơ quan chức năng, mà chính là đòi hỏi các cơ quan đó và những người
tiến hành tố tụng trong mọi hoạt động tố tụng phải thận trọng, vô tư và đề cao tinh
thần trách nhiệm làm rõ các chứng cứ buộc tội cũng như gỡ tội, làm sáng tỏ sự thật
khách quan của vụ án, tránh làm oan người vô tội và bỏ lọt người phạm tội. Để làm
sáng tỏ vấn đề nêu trên, em xin chọn đề “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo.”
NỘI DUNG
Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.
Khái niệm bị can, bị cáo.
B.

I.
1.

Khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “bị can là người đã bị
khởi tố về hình sự”. Khi một người bị khởi tố về hình sự thì họ sẽ trở thành đối
tượng bị buộc tội trong vụ án, tuy nhiên điều đó không có nghĩa xác định họ là
người có tội. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc vì theo Điều 9 BLTTHS 2003:
Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật. Theo đó, bị can là người bị khởi tố về hình sự và tham
gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can. Bị can sẽ tham gia vào các giai đoạn
điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm. Tư cách tố tụng của bị can
sẽ chấm dứt khi cơ quan điều tra đình chỉ điều tra, viện kiểm sát đình chỉ vụ án,

2.1.2.

Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
Theo quy định tại BLTTHS năm 1988 thì bị can, bị cáo có quyền đưa ra

“chứng cứ và những yêu cầu”. còn theo quy định mới của BLTTHS 2003 thì bị
can, bị cáo có quyền đưa ra “ tài liệu, đồ vật, yêu cầu”. Như vậy đã có sự thay đổi
trong quy định của pháp luật từ việc bị can, bị cáo có quyền đưa ra chứng cứ thì
nay chuyển thành những tài liệu, đồ vật. Sự thay đổi này trong quy định của pháp
2


luật là hoàn toàn hợp lý, góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật nước ta. Bởi
vì khi bị can, bị cáo cung cấp cho Cơ quan điều tra những tài liệu, đồ vật thì không
phải mọi tài liệu đồ vật đó đều là chứng cứ trong vụ án. Khi Cơ quan điều tra nhận
được các tài liệu, đồ vật đó thì họ phải tiến hành kiểm tra, đánh giá khách quan để
xác định các tài liệu đồ vật đó có phải là chứng cứ trong vụ án hay không. Và chỉ
khi các tài liệu đồ vật đó đáp ứng được các yêu cầu theo quy định của pháp luật thì
chúng mới trở thành chứng cứ trong vụ án.
2.1.3.

Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người
phiên dịch theo yêu cầu của Bộ luật này (BLTTHS)
Bị can, bị cáo có quyền đề nghị thay đổi những người tiến hành tố tụng,

người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ không thể
vô tư trong khi làm nhiệm vụ và việc họ tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng có
thể làm cho vụ án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can, bị cáo. Khi
các Cơ quan tiến hành tố tụng nhận được yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng,
người giám định, người phiên dịch của bị can thì cần phải xem xét, giải quyết yêu


Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng

Không phải trong mọi trường hợp mọi quyết định và hành vi tố tụng của cơ
quan, người tiến hành tố tụng đều đúng theo quy định của pháp luật. Do vậy, để
đảm bảo thực hiện tốt các quy định của pháp luật cũng như đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của bị can, bị cáo thì pháp luật đã cho phép bị can, bị cáo có quyền
khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng lên các chủ thể có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp
luật. Các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét và giải quyết
khiếu nại theo đúng quy định và thời hạn pháp luật quy định. Kết quả xem xét, giải
quyết khiếu nại phải được thông báo bằng văn bản cho bị can, bị cáo biết. Nghĩa vụ
có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát: đây là nghĩa vụ cơ
bản của bị can, bị cáo. Khi có giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà
4


bị can, bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải, còn nếu bỏ
trốn thì bị truy nã. Đây là một trong các biện pháp ngăn chặn được pháp luật áp
dụng nhằm đảm bảo tiến trình tố tụng và ngăn chặn tội phạm.
2.2.
Các quyền, nghĩa vụ riêng của bị can.
2.2.1. Các quyền của bị can
a. Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì

Bị can cần phải biết tội danh họ bị khởi tố để họ có thể tự bào chữa để gỡ tội
cho mình. Nếu không biết mình bị khởi tố về tội gì thì họ khó có thể đưa ra các
chứng cứ gỡ tội cho mình cùng những lời bào chữa, vì mục đích của việc tiến hành
các trình tự tố tụng là nhằm xác định một người có phạm tội hay không và nếu

này.

Bị can có quyền được nhận các quyết định tố tụng có liên quan đến quyền lợi và
nghĩa vụ của mình. Quyết định này tạo điều kiện cho bi can có thể thực hiện tốt
quyền bào chữa cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của mình.
2.2.2.

Các nghĩa vụ tố tụng của bị can

Bên cạnh có các quyền tố tụng thì bị can cũng phải thực hiện các nghĩa vụ
nhất định. Khoản 3 Điều 49 BLTTHS 2003 quy định: “bị can phải có một đơn giấy
triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; trong trường hợp vắng mặt không có
lí do chính đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã”. Như vậy, trong
trường hợp bị can được tại ngoại, khi cần sự có mặt của bị can để tiến hành các
hoạt động điều tra hoặc các hoạt động điều tra, các hoạt động tố tụng khác thì các
cơ quan tiến hành tố tụng phải triệu tập bị can. Bị can có nghĩa vụ phải có mặt theo
giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Việc triệu tập bị can phải tuân
thủ theo đúng quy định tại điều 129 BLTTHS 2003. Giaays triệu tập bị can phải
ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can, thời gian, địa điểm bị can phải có mặt, gặp ai và
trách nhiệm về việc vắng mặt không có lí do chính đáng. Giấy triệu tập bị can này
sẽ được gửi cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can cư trú hoặc cho cơ
quan, tổ chức nơi bị can làm việc. Cơ quan, tổ chức nhận được giấy triệu tập phải
có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho bị can. Khi nhận giấy triệu tập, bị
6


can phải kí nhận và ghi rõ ngày giờ được nhận. Người chuyển giấy triệu tập cho bị
can còn có nghĩa vụ chuyển phần giấy triệu tập đã có kí nhận của bị can cho cơ
quan đã triệu tập bị can. Nếu trong trường hợp bị can đã nhận được giấy triệu tập
nhưng không kí nhận thì người chuyển giấy phải lập biên bản về việc đó và gửi

thực hiện các quyền và nghãi vụ liên quan đến quyết định đó.
b.

Quyền được tham gia phiên tòa.
Tại phiên tòa, quyền bình đẳng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và những

người tham gia tố tụng được thể hiện rõ nhất. Quyền tham gia phiên tòa của bị cáo
và quyền bình đẳng trước phiên tòa trong việc đưa ra các chứng cứ, yêu cầu tranh
luận giữa kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng, trong đó có bị cáo là hai
mặt của một vấn đề. Nếu không thực hiện đúng quy định bình đẳng này thì việc
thực hiện quyền tham gia phiên tòa của bị cáo cũng chỉ mang tính hình thức.
c.

Quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa.
Đây là quyền mang tính dân chủ, công bằng của pháp luật TTHS.Theo đó bị

cáo có quyền thể hiện quan điểm của mình trước phiên tòa, đưa ra các ý kiến,
những lập luận của mình và đối đáp với những ý kiến không thống nhất của các
chủ thể khác nhằm làm sáng tỏ vấn đề, từ đó việc xét xử trở nên khách quan,
thuyết phục và đạt được mục đích xét xử.
d.

Quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án.
Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc tranh hỏi và tranh luận, bị cáo được quyền

nói lời sau cùng trước khi nghị án. Pháp luật quy định quyền này là để tạo điều
kiện cho bị cáo có cơ hội bày tỏ thái độ và nguyện vọng của mình trước khi Hội
đồng xét xử đưa ra những quyết định đối với vụ án. Để đảm bảo cho bị cáo thực
hiện quyền này, BLTTHS có quy định tại điều 220, theo đó Hội đồng xét xử
(HĐXX) không được đặt câu hỏi với họ, nếu họ trình bày thêm tình tiết mới có ý

Đầu tiên là trong việc thực hiện quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu của bị

can, bị cáo. Do chưa thấy hết tầm quan trọng của việc bảo đảm thực hiện đúng
quyền này dẫn đến việc vi phạm một cách nghiêm trọng một số lỗi như không
kiểm tra, xem xét thật khách quan những chứng cứ hay yêu cầu mà bị can, bị cáo
đưa ra, vội vàng bác bỏ khi thấy không phù hợp với hướng điều tra của mình.
Những sai phạm đó có thể thấy ngay trong cách đặt câu hỏi với bị can. Những câu
hỏi chỉ có dạng trả lời “có” hay “không” đã không gợi mở và tạo cho bị can cơ hội
được đưa ra những chứng cứ và yêu cầu của mình. Thậm chí, sự không tôn trọng
quyền của bị can có thể dẫn đến việc mớm cung, bức cung và dùng nhục hình.
Không ít cán bộ điều tra đã muốn rằng những lời khai của bị can phải phù hợp với
9


chứng cứ mà họ thu thập được mà không phải là những lời khai phản ánh đúng sự
thật vụ án. Nếu chứng cứ mà bị can đưa ra mâu thuẫn với những chứng cứ mà cơ
quan điều tra thu thập được sẽ khiến cho cơ quan điều tra có thể quy kết bị can
quanh co, chối tội gây khó khăn kéo dài vụ án.
Thứ hai, về cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bào chữa. Mặc dù pháp luật
TTHS đã quy định về quyền bào chữa và cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng thực tiễn áp dụng đã gặp nhiều khó khăn,
vướng mắc. Với phạm vi đối tượng người bào chữa khác nhau như đã đề cập trên,
dẫn đến hệ quả là chưa chắc đã đảm bảo chất lượng, tính chuyên nghiệp và khả
năng thực tế để họ thực hiện việc bào chữa. Xu hướng người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo và người đại diện hợp pháp của họ đến với các Văn phòng luật sư ngày một
nhiều, nhưng số lượng luật sư của Việt Nam còn hạn chế. Cả nước ta hiện nay có
hơn 4.000 luật sư nhưng tập trung chủ yếu tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
với gần 3.000 luật sư. Số còn lại ở 62 tỉnh, thành phố chỉ có khoảng hơn 1.000 luật
sư.
Về người bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng: trường hợp bị

TTHS thì cần thừa nhận nguyên tắc tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của BLTTHS
với những nội dung cơ bản: Quy định cụ thể các bên tham gia tranh tụng như Công
tố viên, người bào chữa, bị cáo, người bị hại...; Khẳng định quyền bình đẳng của
các bên tham gia tranh tụng trong việc đưa ra các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra
các yêu cầu, xét hỏi và tranh luận dân chủ trước Toà án, đồng thời xác định trách
nhiệm của Toà án trong việc bảo đảm các bên thực hiện các quyền đó; Bản án và
quyết định của Toà án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Từ phương
diện bảo vệ quyền của bị can, bị cáo trong TTHS, sự ghi nhận nguyên tắc này phải
là cơ chế bảo đảm cho việc thực hiện các quyền đó trên thực tế. Chẳng hạn, với
một mô hình như quy định hiện hành đặt toàn bộ gánh nặng trách nhiệm chứng
minh vụ án lên Hội đồng xét xử, đòi hỏi ở Tòa án một vai trò quá tích cực không
11


cần thiết trong tranh tụng, dẫn đến tình trạng Tòa án “lấn sân” của các chủ thể khác
trong việc thực hiện chức năng buộc tội, bào chữa, hạn chế tính chủ động của các
chủ thể đó. Điều đó cũng hạn chế Tòa án trong việc thực hiện chức năng xét xử.
Do vậy, BLTTHS phải được sửa đổi nhiều nội dung cho phù hợp với yêu cầu của
nguyên tắc này.
Về trình tự và thủ tục xét hỏi tại phiên toà: giải pháp trước mắt là tăng cường
tính tranh tụng của phiên toà sơ thẩm và coi đây là bước đột phá theo tinh thần
Nghị quyết 49/NQ-TW, cụ thể sửa đổi thủ tục xét hỏi tại phiên toà theo hướng
tham gia vào thủ tục xét hỏi chỉ có các bên tranh tụng. Bên buộc tội là VKS và
người bị hại, nguyên đơn dân sự; Bên bào chữa là người bào chữa, bị cáo, bị đơn
dân sự. Toà án là người điều khiển các bên, điều khiển quá trình xét hỏi. Khi Toà
án đã trở về vai trò là trọng tài, điều khiển tranh tụng của các bên thì cần thay đổi
quy định Thẩm phán phải nghiên cứu hồ sơ trước khi xét xử. Thẩm phán chỉ
nghiên cứu ở khía cạnh hồ sơ có tuân thủ các thủ tục tố tụng, hồ sơ có đủ điều kiện
về thủ tục để đưa ra xét xử hay không? Còn vấn đề chứng cứ thu thập trong hồ sơ
thế nào, có đủ để chứng minh lỗi của bị cáo hay không, tội danh mà VKS truy tố bị

xem, sao chụp không hạn chế hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra (khi họ tự bào chữa
cho mình)... Như vậy mới có thể có được sự tranh tụng bình đẳng giữa các các chủ
thể, hạn chế thấp nhất tình trạng oan sai, bảo đảm quyền con người, quyền công
dân của bị can, bị cáo. Hơn nữa, pháp luật TTHS cũng cần bổ sung quy định và cơ
chế ngăn ngừa, chống tiết lộ bí mật điều tra, chống thông cung... trong hoạt động
TTHS, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Đối với người bào chữa bổ
sung trách nhiệm giữ bí mật điều tra (không chỉ là bí mật nhà nước), không được
xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chối tội, phản cung, không được từ chối
bào chữa nếu không có lý do chính đáng.
13


Trong TTHS, bảo đảm các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không
chỉ đơn thuần bằng các biện pháp pháp lý. Khi đã có những quy định pháp luật,
việc thực hiện các quy định đó lại phụ thuộc vào từng con người cụ thể. Vì vậy,
còn phải chú trọng đến các biện pháp tổ chức, biện pháp giáo dục đối với các cán
bộ trong các cơ quan tiến hành tố tụng để họ thấy rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của
mình khi tiến hành các hành vi tố tụng khác nhau. Và cuối cùng, phải động viên
tích cực quần chúng nhân dân tham gia vào nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm và
các vi phạm pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó, có các hình thức
như làm người bào chữa trong tố tụng hình sự, kiểm tra giám sát các hành vi của
các cơ quan và những người tiến hành tố tụng để đảm bảo quyền như quyền bào
chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
C.

KẾT LUẬN

Nhằm phát huy hơn nữa vai trò quan trọng của hoạt động tố tụng thì một
trong số những việc quan trọng là bảo đảm việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ
của bị can, bị cáo. Điều đó đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải nâng cao

ItemID=474
http://luanvan.co/luan-van/quyen-va-nghia-vu-cua-bi-can-bi-cao-trong-to-tunghinh-su-va-viec-hoan-thien-phap-luat-nham-dam-bao-thuc-hien-quyen-va10265/

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status