Luận văn kiểm định tính hiệu quả của thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 51

Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài :
Thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn tối ưu có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển của thị trường tài chính nói riêng và đối với nền kinh tế nói
chung. Qua hơn 10 năm đi vào hoạt động thì tính đến thời điểm hiện nay, tháng 4
năm 2011, thị trường chứng khoán Việt Nam bước đầu đã đạt được những thành
tựu đáng kể, không thể phủ nhận; Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều bất
cập chẳng hạn như : hiện tượng làm giá, thao túng giá, vi phạm vấn đề công bố
thông tin.... Trên thị trường, hiện có rất nhiều những công ty công bố kết quả kinh
doanh thua lỗ, nhưng ngay sau đó giá cổ phiếu vẫn tăng trần nhiều phiên liên tục
như cổ phiếu FBT, SHC.... Hay có rất nhiều mã cố phiếu tăng trần, giảm sàn hàng
chục phiên liên tiếp, trong khi đó lại không có một thông tin nào hỗ trợ, các tổ
chức phát hành cũng chỉ giải thích được là do “cung cầu” trên thị trường. Vậy có
một câu hỏi thực tế đặt ra là mức độ nhạy trong phản ứng của giá chứng khoán với
thông tin trên thị chứng khoán Việt Nam như thế nào, nói cách khác thị trường
chứng khoán Việt Nam có hiệu quả hay không và hiệu quả ở dạng nào? Để trả lời
câu hỏi này cũng như giải thích phần nào các hiện tượng đang diễn ra trên thị
trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn hiện nay, nhóm nghiên cứu tiến hành
nghiên cứu đề tài “kiểm định tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam
giai đoạn 2000 – 2010”
2. Mục tiêu nghiên cứu :
Xuất phát từ việc nắm bắt được ý nghĩa của thị trường hiệu quả đối với việc
phân bổ nguồn lực khan hiếm ở đây là phân bổ vốn một cách hữu hiệu nhất, nhóm
tác giả tiến hành thực hiện các kiểm định với mục tiêu xác định mức độ hiệu quả
của thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010, thông qua đó đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả của thị trường, thiết lập một môi


trường đầu tư an toàn, giảm thiểu rủi ro; tăng cường mức độ công khai hóa, mức
độ minh bạch về thông tin, tạo sự cạnh tranh bình đẳng; hướng thị trường chứng
khoán trở thành một kênh dẫn vốn hiệu quả nhất cho nền kinh tế nước ta.

việc xác định tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000 2011.
6. Hướng phát triển của đề tài :
Nghiên cứu này được giới hạn là trong khuôn khổ trình bày các cách kiểm
định đánh giá tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua
phương pháp định lượng. Việc xây dựng và áp dụng các mô hình để kiểm định tính
hiệu quả của thị trường là tùy thuộc vào quan điểm của mỗi nhà phân tích tài chính
khác nhau. Chính vì thế, có một chủ đề mới cho hướng phát triển của đề tài là xây
dựng một mô hình tối ưu hơn phản ánh sự phụ thuộc của giá chứng khoán vào sự
thay đổi của các thông tin bao gồm thông tin kinh tế vĩ mô cũng như thông tin
liên quan đến hoạt động của từng doanh nghiệp cả thông tin công khai và thông tin
nội bộ. Qua đó ứng dụng kiểm định môt hình kinh tế lượng để đưa ra các nhận
định mới về tính hiệu quả của thị trường chứng khoán nhìn từ giác độ nhà phân
tích khác.

Chương 1 : Giả thuyết thị trường hiệu quả
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay nhất là đối với những nước đang phát
triển như Việt Nam, để đảm bảo đáp ứng hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh
nghiệp cần huy động các nguồn lực khác nhau trong đó quan trọng nhất phải kể
đến nguồn lực tài chính. Các nguồn lực là hữu hạn nói cách khác là luôn tồn tại sự
khan hiếm trong các nguồn lực. Do đó, việc sử dụng nguồn lực khan hiếm sao cho


có hiệu quả nhất với chi phí thấp nhất luôn là vẫn đề bức thiết đối với toàn bộ nền
kinh tế. Vấn đề này được giải quyết thông qua sự vận hành của các thị trường. Để
phân phối và sử dụng các nguồn lực một cách tốt nhất thì thị trường phải hiệu quả.
Giả thuyết thị trường hiệu quả là một lý thuyết chính thống nền tảng của ngành tài
chính. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán thì lý thuyết này ngày
càng bộc lộ những ưu điểm nổi bật của nó trong quá trình ứng dụng để đưa ra
những quyết định để đầu tư một cách đúng đắn nhất. Tuy nhiên, để nắm bắt và vận
dụng có hiệu quả những thành tựu của giả thuyết thị trường hiệu quả thì trước tiên

trường chứng khoán ở khía cạnh sao cho nó có thể phân phối các nguồn vốn đầu tư
một cách có hiệu quả nhất.
Thị trường hiệu quả về mặt hoạt động là thị trường mà ở đó cung cầu là yếu
tố quyết định chi phí chuyển giao và sử dụng các nguồn lực.
Thị trường hiệu quả về mặt thông tin khi giá cả phản ánh tức thời và đầy đủ các
thông tin liên quan đến việc phân phối và sử dụng các nguồn lực đó. Thông tin ở
đây bao gồm nhiều khía cạnh thông tin khác nhau : thông tin kinh tế vĩ mô, thông
tin nội bộ của đơn vị sử dụng nguồn lực, thông tin hiệu quả sử dụng nguồn lực….
Tuy nhiên trong góc độ nghiên cứu của bài viết cũng như giới hạn giả định
của giả thuyết thị trường hiệu quả thì chúng ta chỉ ngầm định khi nói đến thị
trường hiệu quả tức là nói đến thị trường hiệu quả về mặt thông tin vì hiệu quả về
mặt thông tin là một điều kiện quan trọng nhất , có ý nghĩa quyết định đối với sự
thành công của toàn thị trường.
Do đó, có thể hiểu khái niệm thị trường hiệu quả như sau : thị trường hiệu
quả là thị trường mà trong đó giá cả của chứng khoán phản ánh đầy đủ và tức thời
các thông tin hiện có trên thị trường. Việc tăng hay giảm giá chứng khoán là do
phản ứng của giá cả đối với các thông tin mới.
1.1.3 Đặc điểm của thị trường hiệu quả :
Thị trường hiệu quả có một số đặc điểm chủ yếu sau:
 Mọi thông tin trên thị trường đều nhanh và chính xác, mọi nhà đầu tư đều
thu nhận ngay lập tức các thông tin này.


 Khi thị trường hiệu quả, giá cả chứng khoán trên thị trường luôn phản ánh
đúng, chính xác các thông tin trên thị trường có liên quan đến loại chứng
khoán đó.
 Mọi có gắng để có thu nhập tăng thêm do khai thác các thông tin trên thị
trường hiệu quả đều đem lại mức thu nhập thấp hơn chi phí bỏ ra. Trên thị
trường hiệu quả thì các chứng khoán sẽ được mua bán, trao đổi ngang giá
trên các sàn giao dịch chứng khoán, do đó sẽ không có cơ hội một cách hệ

các đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, họ
tiến hành phân tích và định giá chứng khoán một cách hoàn toàn độc lập với nhau.
Thứ hai, những thông tin mới về chứng khoán được công bố tren thị trường
một cách ngẫu nhiên và tự động và việc quyết định thời điểm công bố thông tin
cũng là hoàn toàn độc lập với nhau.
Thứ ba, các nhà đầu tư cạnh tranh đều cố gắng điều chỉnh giá cổ phiếu ngay
tức khắc với tất cả các thông tin sẵn có nhằm phản hồi được ảnh hưởng của thông
tin. Mặc dù sự điều chỉnh của giá có thể là không hoàn hảo nhưng nó không ưu tiên
cho một mặt nào . Có sự điều chỉnh là quá mức nhưng cũng có sự điều chỉnh là
dưới mức cần thiết, tuy vậy chúng ta đều không dự đoán được điều gì sẽ xảy ra ở
mỗi thời điểm xác định. Giá chứng khoán được điều chỉnh một cách nhanh chóng
là bởi một số lượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận độc lập
cạnh tranh với nhau, trên thị trường khồn tồn tại sự thao túng giá, cạnh tranh hoàn
toàn là hoàn hảo.
Như vậy đối với một thị trường hiệu quả thì mọi nỗ lực nhằm thắng được thị
trường thì đều không đem lại cho nhà đầu tư một tỷ suất lợi tức như mong muốn.
Nói cách khác thị trường hiệu quả có khả năng ngăn chặn tình trạng lợi nhuận quá
cao trong một thời gian quá dài. Các nhà đầu tư tham gia thị trường khi mua và


bán chứng khoán ở mức giá thông tin hiệu quả sẽ nhận được một tỷ suất sinh lời
phù hợp với rủi ro phải gánh chịu của chứng khoán đó.

1.2.3. Cơ chế đảm bảo cho thị trường hoạt động có hiệu quả :
Có hai cơ chế đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách có hiệu quả :
Thứ nhất , cơ chế định giá chứng khoán. Theo cơ chế này thì các nhà đầu tư
định giá cho chứng khoán trên cơ sở dự tính được thu nhập cho mỗi chứng khoán
và mức độ rủi ro tương ứng của nó. Đánh giá thu nhập và rủi ro của mỗi chứng
khoán dựa trên việc đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức phát hành, theo đó,
nếu tổ chức phát hành hoạt động một cách có hiệu quả, hoạt động sản xuất kinh

Giá cả chứng khoán hiện tại là sự phản ánh mọi thông tin chứa đựng trong
hồ sơ giá quá khứ, như tỷ suất sinh lợi chứng khoán, khối lượng giao dịch, các
chuyển dịch, xu hướng, quy luật hiện tại của giá. Hoặc các thông tin chung như
mua bán lô lẻ, các thương vụ của các chuyên gia, các nhóm độc quyền. Vì nó giả
định rằng mức giá thị trường hiện tại này đã phản ánh tất cả các thu nhập trong quá
khứ và mọi thông tin trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là tỷ suất thu nhập
trong quá khứ cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với tỷ suất thu
nhập trong tương lai (các tỷ suất thu nhập độc lập với nhau). Bởi vậy, chúng ta có
thể thu được thêm chút thu nhập khi ra quyết định mua hoặc bán chứng khoán dựa
trên các thông tin về tỷ suất thu nhập hay các thông tin khác của thị trường trong
quá khứ. Nhưng khó có thể duy trì một siêu tỷ suất sinh lợi liên tục. Giá cả chuyển
động một cách ngẩu nhiên (Random Walk).
 Hình thái thứ hai: Thị trường hiệu quả dạng trung bình (semi- strong).


Giá cả phản ánh không những giá cả quá khứ mà còn phản ánh một cách
nhanh chóng bất kỳ một thông tin nào được công bố. Thông tin được công khai bao
gồm tất cả những thông tin như các thông báo về thu nhập, cổ tức, tỷ lệ P/E, chia
cổ tức, đề nghị sáp nhập công ty… Các nhà đầu tư khi đưa ra quyết định dựa trên
những thông tin sau khi được công bố sẽ không thu được tỷ suất sinh lợi cao hơn
mức trung bình, bởi giá cả chứng khoán đã phản ánh mọi thông tin công khai đó.
 Hình thái thứ ba: Thị trường hiệu quả dạng mạnh (strong - form).
Giá cả phản ánh tất cả thông tin có thể được công bố bằng cách phân tích tỷ
mĩ về công ty và nền kinh tế, cả những thông tin về sự kiện đã xảy ra, và cả những
thông tin mà thị trường sẽ kỳ vọng xảy ra trong tương lai. Giá cả thực tế của một
loại chứng khoán luôn là một dấu hiệu hoàn hảo về giá trị thực sự của nó. Trong thị
trường như vậy, chúng ta sẽ quan sát thấy các nhà đầu tư may mắn và không may
mắn, nhưng chúng ta không tìm thấy bất kỳ một siêu giám đốc đầu tư nào có thể
liên tục đánh bại thị trường. Việc mua bán cổ phiếu trong nổ lực “vượt mặt” thị
trường có thể giống như trò chơi may rủi hơn là một cuộc đấu đòi hỏi kỹ năng.

nhiều các phương pháp phân tích và đánh giá cổ phiếu khác nhau đã đặt ra hàng
loạt vấn đề về tính đúng đắn trong giả định của thị trường hiệu quả. Nếu một nhà
đầu tư tìm kiếm các cơ hội đầu tư đang bị định giá thấp hơn thực chất trong khi
một nhà đầu tư khác đánh giá một cổ phiếu dựa trên tiềm năng tăng trưởng của nó,
thì chắc chắn rằng hai nhà đầu tư này sẽ đi đến hai kết luận hoàn toàn khác nhau về
giá trị thị trường công bằng của một cổ phiếu. Vì thế nên, một lập luận phản bác
các quan điểm của thị trường hiệu quả chỉ ra rằng, các nhà đầu tư đánh giá cổ


phiếu rất khác nhau nên việc chắc chắn xem một cổ phiếu sẽ đáng giá như thế nào
trong một thị trường hiệu quả là điều không thể.
Hai là, theo Giả thuyết EMH, không một nhà đầu tư đơn lẻ nào có thể giành
được lợi nhuận cao hơn một người khác với cùng số tiền đầu tư: sự sở hữu cân
bằng nhau về thông tin của họ đồng nghĩa với việc họ chỉ có thể thu về những
khoản lời y hệt nhau. Nhưng hãy xem xét lại một chuỗi những khoản lợi nhuận rất
khác biệt mà các nhà đầu tư, các quỹ đầu tư…đã dành được. Nếu không một nhà
đầu tư nào có lợi thế hơn so với người khác, thì tại sao lại có chuyện cùng là các
quỹ tương hỗ, nhưng bản thống kê cho thấy có quỹ thì thua lỗ trầm trọng còn có
quỹ lại đạt lợi nhuận rất cao.Theo giả thiết EMH nếu một nhà đầu tư có lợi nhuận,
điều đó có nghĩa là toàn bộ giới đầu tư đều có lợi. Đơn giản, trên thực tế, điều này
không thể đúng! Không một nhà đầu tư nào có thể đánh bại được thị trường hay
vượt qua được mức lợi nhuận trung bình năm mà tất cả các nhà đầu tư và các quỹ
đầu tư đạt được với sự nỗ lực hết mình. Một chiến lược đầu tư hoàn hảo tuyệt đối
đơn giản là hãy đặt toàn bộ ngân quỹ vào một quỹ đầu tư về chỉ số (index fund quỹ đầu tư có danh mục gắn liền với các chỉ số có tầm rộng như S&P 500…). Một
quỹ đầu tư như thế này sẽ lên xuống theo đúng mức độ lợi nhuận hay thua lỗ chung
của các doanh nghiệp. Thế nhưng trên thực tế, luôn có hàng loạt những ví dụ về
các nhà đầu tư đã đánh bại thị trường. Chẳng hạn Warren Buffett là ví dụ điển hình
nhất về một nhà đầu tư thành công trong việc đi trước thị trường hết năm này đến
năm khác.
Ba là: giả thuyết thị trường hiệu quả tỏ ra đúng với một vài loại chứng khoán

tức. Nói cách khác, giá cả phải phản ứng gần như tức thời với việc công bố một
thông tin có thể làm ảnh hưởng đến các đặc trưng đầu tư của một cổ phiếu. Thế


nên, nếu EMH chấp nhận có sự thiếu hiệu quả, nó có thể cũng sẽ phải thừa nhận
rằng sự hiệu quả tuyệt đối của thị trường là điều không thế.
CHƯƠNG II: KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ DẠNG YẾU VÀ DẠNG
2.1Thực trạng TTCK VN sau 10 năm hình thành và phát triển:
Nhìn lại trong suốt 10 năm ra đời, hoạt động và phát triển của TTCK Việt
Nam có thể chia làm ba giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: từ tháng 7/2000 đến hết năm 2004. TTCK Việt Nam được coi
là chính thức hình thành với sự ra đời của TTGDCK HCM vào ngày 20/7/2000.
Trong thời gian đầu mới hình thành, số lượng cổ phiếu còn quá ít, số lượng người
tham gia vào đầu tư và quan tâm, theo dõi TTCK không nhiều, do đó huy động vốn
qua kênh này chưa thực sự hiệu quả và chưa có nhiều cty tham gia niêm yết. Tuy
nhiên, giá cổ phiếu biến động khá, một số người thu được lợi nhuận đáng kể trên
thị trường .
Trong 4 năm đầu phát triển, TTCK Việt Nam đạt được những thành tựu nhất
định. Thị trường giao dịch chứng khoán hoạt động khá suôn sẻ với trên 800 phiên
giao dịch liên tục, an toàn đạt trị giá giao dịch trên 13.000 tỷ đồng, do đó có được
những kinh nghiệm hết sức quý báu trong việc vận hành và tổ chức thị trường. Đã
xây dựng được một hệ thống các tổ chức trung gian hoạt động trên TTCK (13 công
ty chứng khoán, 1 công ty quản lý quỹ, 5 ngân hàng lưu ký (trong đó có 3 ngân
hàng lưu ký nước ngoài; 1 ngân hàng chỉ định thanh toán cho các giao dịch chứng
khoán và 8 tổ chức kiểm toán được chấp thuận kiểm toán cho các tổ chức phát
hành, niêm yết và công ty chứng khoán).
Năm
Số lượng công ty niêm yết/ĐKGD
Mức vốn hóa TTCP (%GDP)
Số tài khoản NĐT



Nguồn: tự tổng hợp

14
12
10
8
tăng trong năm
số đầu năm

6
4
2
0

2000

2001

2002

2003

2004

Số lượng các CTCK
Hoạt động quản lý vận hành thị trường của cơ quan quản lý Nhà nước và
các thành viên đã có nhiều cải tiến và từng bước hoàn thiện. Chính phủ đã ban
hành Nghị định 144/2003/NĐ-CP thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng

ích đáng kể từ giá cả cạnh tranh đến chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, nó cũng mang
lại cả sự cạnh tranh khốc liệt, có thể dẫn đến mất thị phần, phá sản của các CTCK
trong nước và làn sóng sáp nhập, thâu tóm của các nhà nhà cung cấp dịch vụ nước
ngoài.
Giai đoạn 3: Từ cuối năm 2007 đến nay, khó khăn trong kinh tế cộng với sự
khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến sự điều chỉnh mạnh và hoạt động không ổn
định của TTCK. Chỉ số VN-Index đầu năm 2008 ở mức 921,07 điểm và đóng cửa
ở mức 315,62 điểm trong phiên giao dịch cuối cùng tức ngày 31/12/2008. Do đó
trong năm 2008 chỉ số này đã mất đi 605,45 điểm (giảm 65,33%), trong khi đó, các
chỉ số chứng khoán lớn trên thế giới chỉ giảm từ 35%-45%.

Chỉ số VN-Index năm 2008


(Nguồn:cophieu68.com)
Sang năm 2009, TTCK Việt Nam có sự phục hồi. Sau sáu tháng đầu năm chỉ
số VN-Index đã tăng 132,67 điểm (42,03%) so với thời điểm kết thúc năm 2008 và
vươn tới đỉnh điểm là mức 624,10 điểm vào ngày 22/10/2008.

Chỉ số VN-Index năm 2009
(Nguồn:cophieu68.com)
Tính cả năm 2009, giá trị giao dịch toàn thị trường trên HOSE là 423.299 tỷ
đồng với 10.432 triệu cổ phiếu được chuyển giao. Trên sàn Hà Nội, tổng giá trị
giao dịch là 197.524 tỷ với 5.765 triệu đơn vị được chuyển giao.

HOSE
HNX

Khối lượng CP(triệu)
Giá trị (tỷ VND)

Toàn
thị
trường

Khối lượng CP(triệu)
Giá trị (tỷ VND)
Giá TB 1 CP(VND)

2.426
281.258
115.935

4.509
181.698
40.296

16.197
620.823
38.329

Chính phủ Việt Nam trong năm 2009 đã thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ
nhằm đối phó với khủng hoảng kinh tế nên lượng tiền được bơm vào nền kinh tế
khá nhiều. Dư nợ tín dụng của ngân hàng tăng trưởng mạnh, tổng dư nợ của hệ
thống ngân hàng trong năm 2009 tăng gần 37,73%. Các CTCK tăng cường công cụ
đòn bẩy tài chính hỗ trợ NĐT. Một số CTCK cho khách hàng VIP bán chứng
khoán khi chưa đủ ngày T+4 giúp cho việc quay vòng vốn của NĐT tăng lên đáng
kể (hoạt động này đã bị Ủy ban Chứng khoán cấm từ ngày 1/12/2009). Trên đây có
thể coi là những nguyên nhân dẫn đến sự phục hồi của TTCK Việt Nam trong 10
tháng đầu năm 2009, sau đó thị trường lại rơi vào chu kỳ giảm điểm từ tháng 11
đến cuối năm.

chứng khoán đã ban hành vào ngày 2/8/2010 với mức phạt cao hơn từ 4-6 lần quy
định cũ, đồng thời cho phép tịch thu toàn bộ các khoản thu trái pháp luật. Ngày
15/1/2010, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 09/2010/TT-BTC hướng dẫn về
công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, thay thế cho Thông tư số
38/2007/TT-BTC. Điểm nổi bật trong thông tư mới là yêu cầu các tổ chức niêm yết
phải thực hiện soát xét báo cáo tài chính bán niên. Đây là những nỗ lực nhằm minh
bạch hóa thông tin tài chính của doanh nghiệp, “làm sạch” thị trường, tăng thêm
niềm tin của NĐT vào TTCK.
2.2Kiểm định dạng yếu
2.2.1 Dữ liệu nghiên cứu
Để có cái nhìn khái quát và toàn diện, bài nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu
của cả hai chỉ số VN-Index của SGDCK TPHCM và HNX-Index của SGDCK
HN. Cần lưu ý đặc biệt tới sự đi vào hoạt động của SGDCK HN và sự trưởng
thành về cả lượng và chất của TTCK Việt Nam, do đó, cần phải chia số liệu thành
các chuỗi dữ liệu để tiện cho việc so sánh và đánh giá tính hiệu quả của thị trường
trong từng giai đoạn phát triển.
- Chuỗi VN-Index 1 được xác định từ 28/7/2000 đến 31/12/2010
- Chuỗi VN-Index 2 được xác định trong giai từ 28/7/2000 đến
30/6/2005
- Chuỗi VN-Index 3 được xác định trong giai đoạn từ 30/6/2005 đến
31/12/2010


- Chuỗi HNX-Index được xác định từ khi TTGDCKHN đi vào hoạt
động tức là từ tháng 7/2005 đến 31/12/2010
2.2.2 Phương pháp luận
2.2.2.1

Kiểm định tham số


DELTA_P(-2)
-0.112243
0.021222 -5.288868
DELTA_P(-3)
0.014851
0.021343
0.695857
DELTA_P(-4)
0.091763
0.021226
4.323211
DELTA_P(-5)
0.050429
0.020263
2.488725
R-squared
0.114096 Mean dependent var
Adjusted R-squared
0.112274 S.D. dependent var
S.E. of regression
8.652776 Akaike info criterion
Sum squared resid
181935.4 Schwarz criterion
Log likelihood
-8710.127 F-statistic
Durbin-Watson stat
2.001753 Prob(F-statistic)

Prob.
0.5777

0.480166
DELTA_P(-1)
0.512817
0.030495
16.81658
DELTA_P(-2)
-0.129343
0.034335 -3.767099
DELTA_P(-3)
-0.036718
0.034548 -1.062824
DELTA_P(-4)
0.002610
0.034336
0.076003
DELTA_P(-5)
0.130536
0.030494
4.280661
R-squared
0.241749 Mean dependent var
Adjusted R-squared
0.238163 S.D. dependent var
S.E. of regression
4.490895 Akaike info criterion
Sum squared resid
21317.72 Schwarz criterion
Log likelihood
-3102.004 F-statistic
Durbin-Watson stat

C
DELTA_P(-1)
DELTA_P(-2)
DELTA_P(-3)
DELTA_P(-4)
DELTA_P(-5)
R-squared
Adjusted R-squared
S.E. of regression
Sum squared resid
Log likelihood
Durbin-Watson stat

Coefficient
0.113229
0.296538
-0.111660
0.022447
0.105226
0.044465
0.102620
0.099328
10.80270
159059.9
-5197.461
1.999881

Std. Error
t-Statistic
0.292074


Hệ số α3 và α5 bằng 0 vì có P-value > 0.05, các hệ số α1 α2 α4 khác 0, vì vậy
bác bỏ giả thuyết H0 chấp nhận H1. Như vậy, trong giai đoạn từ 30/6/2005 đến
31/12/2010 thị trường không đạt hiệu quả dạng yếu.
Chuỗi HNX index : do số liệu thu thập bị hạn chế nên chuỗi HNX index bắt
đầu từ 26/5/2006 đến 31/12/2010. Thực hiện hồi quy chuỗi HNX index theo mô
hình (*) ta được:
Dependent Variable: DELTA_P
Method: Least Squares
Date: 05/12/11 Time: 13:16
Sample(adjusted): 6 1149
Included observations: 1144 after adjusting endpoints
Variable
Coefficient
Std. Error
t-Statistic
C
-0.063235
0.159957 -0.395325
DELTA_P(-1)
0.211144
0.029398
7.182234
DELTA_P(-2)
-0.094166
0.030003 -3.138564
DELTA_P(-3)
0.022188
0.030079
0.737671

6.218841
6.245286
17.34862
0.000000


Các hệ số α1 α2 α5 đều khác 0 vì có P-value < 0.05 , như vậy ta bác bỏ giả
thuyết H0 chấp nhận H1. Vì vậy, trong giai đoạn 26/5/2006 đến 31/12/2010 thị
trường chứng khoán Hà Nội cũng không đạt hiệu quả dạng yếu
2.2.2.2Kiểm định phi tham số
2.2.2.2.1 Kiểm định tính chuẩn
Để kiểm định tính phân bố chuẩn của các chuỗi tỷ suất sinh lời theo ngày, ta
sử dụng kiểm định Jacque- Bera
Chuỗi tỷ suất sinh lời Vnidex 1
500

Series: RVNINDEX
Sample 1 2441
Observations 2441

400
300
200
100
0
-6

-4

-2


Với tiêu chuẩn Jarque- Bera do P-value= 0.0000 < 0.05, chuỗi tỷ suất sinh
lời Vnindex 1 không phân bố chuẩn.
Chuỗi tỷ suất sinh lời Vnindex 2



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status