BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-------------------
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2010” TÊN CÔNG TRÌNH:
MỐI QUAN HỆ GIỮA LÍ THUYẾT BẤT
CÂN XỨNG THÔNG TIN VÀ LÍ THUYẾT
THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM THUỘC NHÓM NGÀNH:
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
3
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ........................................................................................ 6
1. Vấn đề nghiên cứu ................................................................................................. 6
2. Mục tiêu - câu hỏi nghiên cứu ................................................................................ 8
3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................. 10
CHƢƠNG 2 : SƠ LƢỢC CÁC LÍ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH TRONG
QUÁ KHỨ ............................................................................................................... 11
1. Thị trƣờng hiệu quả .............................................................................................. 11
1.1.Khái niệm thị trƣờng hiệu quả ......................................................................... 11
1.2. Phân loại thị trƣờng hiệu quả .......................................................................... 11
2. Bất cân xứng thông tin (Asymetric information) ................................................... 12
2.1. Khái niệm về thông tin bất cân xứng ............................................................. 12
2.2. Hệ quả bất cân xứng thông tin ........................................................................ 13
2.2.1. Chi phí lựa chọn bất lợi ............................................................................ 13
2.2.2. Tâm lí ỷ lại .............................................................................................. 14
3. Các mô hình kiểm định ........................................................................................ 14
3.1 Thị trƣờng hiệu quả ......................................................................................... 14
3.1.1. Các giả định của giáo sƣ Fama trong nghiên cứu thị trƣờng hiệu quả ....... 14
3.1.2. Mô hình hóa lí thuyết thị trƣờng hiệu quả ................................................ 15
3.1.3. Phƣơng pháp kiểm định thị trƣờng hiệu quả dạng yếu.............................. 16
3.1.4. Kiểm định thị trƣờng hiệu quả dạng vừa .................................................. 18
3.1.5. Kiểm định thị trƣờng hiệu quả dạng mạnh ............................................... 19
4.2. Các nghiên cứu đo lƣờng thông tin bất cân xứng ........................................... 20
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN ........................................................................................ 39
PHỤ LỤC
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU PHẦN PHỤ LỤC
Bảng 1: Kết quả chạy hồi qui bằng eview của 147 chứng khoán ............................... 43
Bảng 2: Giá mua bán của chứng khoán khi chƣa loại ASC, tỷ lệ mục tiêu 5% .......... 86
Bảng 3: Giá mua bán của chứng khoán khi chƣa loại ASC, tỷ lệ mục tiêu 10% ........ 88
Bảng 4: Giá mua bán của chứng khoán đã loại ASC, tỷ lệ mục tiêu 5% .................... 89
Bảng 5: Giá mua bán của chứng khoán đã loại ASC, tỷ lệ mục tiêu 10% .................. 90
Bảng 6: Giá chứng khoán sau khi loại bỏ chi phí bất lợi ........................................... 91
Bảng 7: Giá đóng cửa mới (P*t) của các chứng khoán .............................................. 99
quả khi giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin tồn tại trên thị trƣờng. Tuy có
những chứng cứ ủng hộ cho giả thiết thị trƣờng hiệu quả nhƣng trong giới kinh tế học
cũng có không ít ý kiến chống lại.Và cũng phải thừa nhận rằng lí thuyết thị trƣờng hiệu
quả còn tồn tại một số hạn chế. Ra đời sau nhất lí thuyết tài chứng hành vi.Lí thuyết tài
chứng hành vi ra đời và nó đã góp phần bù đắp cho những hạn chế của lí thuyết thị
trƣờng hiệu quả.
7
Hai lí thuyết này tồn tại song song và xu hƣớng hiện nay có vẻ ƣa chuộng lí thuyết
tài chính hành vi hơn. Nhƣng khi đứng ở một gốc độ khác mà xét thì về mặt bản chất cả
hai lí thuyết có điểm chung là đều tập trung nghiên cứu về mức độ thông tin đƣợc phản
ánh trên thị trƣờng chứng khoán. Thị trƣờng hiệu quả ở dạng nào là tùy vào mức độ phản
ánh thông tin trong giá chứng khoán. Còn trong tài chính hành vi, các nhà đầu tƣ hành
động theo “ tâm lí bầy đàn” hay có những “phản ứng thái quá” cũng là do thiếu thông
tin khiến nhà đầu tƣ không đánh giá đúng đƣợc giá trị nội tại của chứng khoán mà hành
động theo cảm tính. Vấn đề trên có thể khái quát trong cụm từ ngắn gọn là “bất cân xứng
thông tin”. Bất cân xứng thông tin, một vấn đề cũ nhƣng không cũ. Lí thuyết bất cân
xứng thông tin lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định đƣợc vị trí
của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, George Akerlof,
Michael Spence và Joseph Stiglitz nhận giải Nobel kinh tế với nghiên cứu của mình về
bất cân xứng thông tin. Tính từ lúc ra đời cho đến nay và có lẽ trong cả tƣơng lai lí thuyết
này vẫn giữ nguyên giá trị của nó.
Bây giờ chúng ta thử hƣớng một cái nhìn bao quát các lí thuyết này. Chúng ta thử
liên kết lí thuyết bất cân xứng thông tin và thị trƣờng hiệu quả, chẳng hạn chúng ta xem
xét mối quan hệ giữa hai lí thuyết này trong giả thiết thị trƣờng hiệu quả dạng mạnh.
Theo định nghĩa của giáo sƣ Fama thị trƣờng hiệu quả dạng mạnh là thị trƣờng mà tại đó
giá cả phản ánh tất cả thông tin, do đó nhà đầu tƣ không thể có tỉ suất sinh lợi vƣợt trội
nhờ nắm đƣợc thông tin nội bộ. Bây giờ giả định có sự bất cân xứng thông tin giữa ngƣời
mua và ngƣời bán, cụ thể ngƣời bán nắm đƣợc nhiều thông tin hơn và biết đƣợc là có một
tin tức bất lợi cho cổ phiếu, và rất có thể giá cổ phiếu sẽ giảm khi thông tin đƣợc công bố.
hơn 1000 điểm.
9 Biểu đồ chỉ số VN-index từ 4-2006 đến 9-2007
Nguồn: www.cophieu68.com
Xuất phát từ thực trạng trên, nhóm quyết định tìm hiểu ảnh hƣởng của “bất cân
xứng thông tin” đến sự biến động giá chứng khoán và tính hiệu quả của thị trƣờng.
Bất cân xứng thông tin có thể xảy ra ở rất nhiều vấn đề, rất nhiều lĩnh vực nhƣng
nhóm chỉ chọn bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán.Về mặt lí thuyết nhƣ
đã phân tích mà nói thì khi không có bất cân xứng thông tin thị trƣờng sẽ trở nên hiệu quả.
Nhƣng về thực tế thì có đúng nhƣ vậy không? Và làm sao để kiểm chứng điều này?
Vì thế, mục tiêu của bài nghiên cứu là nhóm sẽ sử dụng các mô hình để đo lƣờng
chi phí do bất cân xứng thông tin cụ thể là đo lƣờng chi phí lựa chon bất lợi trong khoảng
biến thiên giá chứng khoán.Thông qua kết quả tính toán đƣợc từ mô hình có thể rút ra
nhận xét về mức độ bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng hiện nay. Sau đó loại bỏ chi
phí lựa chọn bất lợi thì sự biến động giá cả chứng khoán sẽ nhƣ thế nào. Và từ đó thị
trƣờng có hiệu quả không khi loại bỏ ảnh hƣởng của bất cân xứng thông tin.
Bài nghiên cứu sẽ tập trung đi tìm lời giải đáp cho hai câu hỏi chính:
10
1. Ảnh hƣởng của bất cân xứng thông tin đến thị trƣờng chứng khoán mà cụ thể là
khoảng biến thiên giá chứng khoán nhƣ thế nào?
2. Sau khi loại bỏ ảnh hƣởng của bất cân xứng thông tin thì thị trƣờng có hiệu quả
không?
3. Phạm vi nghiên cứu:
Vào năm 1969, Giáo Sƣ Fama lần đầu tiên định nghĩa thị trƣờng hiệu quả nhƣ là thị
trƣờng mà trong đó, giá cả điều chỉnh rất nhanh trong phản ứng với những thông tin mới
xuất hiện trên thị trƣờng. Tuy vậy, về sau, bản thân Giáo Sƣ Fama và những Giáo Sƣ
tài chính khác đã nhận ra rằng, mặc dù tính chất điều chỉnh nhanh khi xuất hiện những
thông tin mới là một thành tố quan trọng tạo nên thị trƣờng hiệu quả nhƣng đây không
phải là thành tố duy nhất.
Một năm sau đó, trong công trình nghiên cứu mang ý nghĩa bƣớc ngoặc của mình,
Fama đã định nghĩa: “ thị trƣờng hiệu quả là thị trƣờng mà trong đó giá cả phản ánh toàn
bộ những thông tin tồn tại trên thị trƣờng”. Định nghĩa này sau đó đã trở thành kinh
điển và là chuẩn mực trong nghiên cứu thị trƣờng hiệu quả. Qua định nghĩa vừa nêu, hàm
ý rằng: thị trƣờng xử lý thông tin một cách triệt để; do đó, không tồn tại bất cứ một thông
tin có liên quan nào đến chứng khoán vốn bị thị trƣờng bỏ qua. Và do đó, giá cả chứng
khoán vốn trên thị trƣờng luôn ở mức phù hợp với mức giá trị nội tại của nó.
1.2. Phân loại thị trường hiệu quả:
Giáo Sƣ Fama đã phân loại thông tin đƣợc phản ánh thành 3 tập hợp, và tƣơng
ứng với nó là 3 mẫu hình khác nhau của thị trƣờng hiệu quả:
12
+ Tập hợp thông tin chỉ bao gồm giá cả các loại chứng khoán vốn trong quá khứ.
Thị trƣờng mà giá cả phản ánh hoàn toàn lƣợng thông tin vừa nêu đƣợc gọi là thị trường
hiệu quả dạng yếu.
+ Tập hợp thông tin bao gồm các tin tức đƣợc phổ biến trong cộng đồng giới đầu tƣ
trong hiện tại (nhƣ các báo cáo thu nhập hằng năm, việc tiến hành chia nhỏ cổ phần…).
Thị trƣờng mà giá cả phản ánh hoàn toàn lƣợng thông tin trên gọi là thị trƣờng hiệu quả
dạng vừa phải.
+ Cuối cùng, nhƣ định nghĩa về thị trƣờng hiệu quả, thị trƣờng mà giá cả phản ánh
hoàn toàn mọi thông tin tồn tại trên thị trƣờng gọi là thị trƣờng hiệu quả dạng mạnh.
2. Bất cân xứng thông tin (Asymetric information):
2.1. Khái niệm về thông tin bất cân xứng :
- Bất đối xứng thông tin là một khái niệm trong chuyên ngành kinh tế học thông tin
2.2.1. Chi phí lựa chọn bất lợi:
Lựa chọn bất lợi là một thuật ngữ đƣợc sử dụng chủ yếu trong bảo hiểm. Nó đề cập
đến một tình huống trong đó ngƣời mua hay ngƣời bán một sản phẩm biết một số điều gì
đó về chất lƣợng hoặc tình trạng của sản phẩm mà bên kia không biết, cho phép họ có
một ƣớc lƣợng tốt hơn những chi phí thực của sản phẩm ( Định nghĩa từ website
www.beginnersinvest.about.com).
Lựa chọn trái ý (có tài liệu gọi là lựa chọn ngƣợc, lựa chọn đối nghịch, lựa chọn bất
lợi) là một tình trạng kinh tế có thể nảy sinh do tồn tại tình trạng thông tin phi đối xứng,
ngƣời lựa chọn thứ tốt lại chọn phải thứ không tốt. Đây là một loại thất bại thị
trƣờng.(Định nghĩa từ trang Wikipedia).
Một ví dụ thực tế trên thị trƣờng mua bán xe gắn máy cũ, ngƣời bán sẽ biết rõ chiếc
xe của mình đáng giá bao nhiêu, máy móc trong xe hoạt động nhƣ thế nào, nhƣng ngƣời
mua thì lại không nắm rõ về chi tiết chiếc xe này và có thể mua với giá đắt hơn giá trị thật
còn lại của nó. Trên thị trƣờng chứng khoán cũng vậy, các công ty niêm yết luôn biết rõ
hơn về tình hình kinh doanh, lợi nhuận đạt đƣợc và giá cả hợp lí cho cổ phiếu của mình.
14
Vì thế, nếu các nhà đầu tƣ không biết rõ những thông tin trên có thể định giá cao hơn giá
trị thật của nó thì mọi chi phí bất lợi nhà đầu tƣ phải gánh chịu hoàn toàn.
2.2.2. Tâm lí ỷ lại:
Thuật ngữ tâm lý ỷ lại (moral hazard) bắt nguồn từ ngành bảo hiểm với ý nghĩa là
những ngƣời mua bảo hiểm có xu hƣớng thay đổi hành vi từ đó làm tăng giá trị bồi
thƣờng mà công ty bảo hiểm phải trả. Ví dụ, sau khi đƣợc bảo hiểm mọi ngƣời có thể trở
nên không còn cẩn thận trong việc tránh né hay tối thiểu hóa mất mát nhƣ trƣớc đây nữa.
Nếu các biện pháp phòng ngừa cần thiết đƣợc biết trƣớc và có thể đo lƣờng hay ghi chép
một cách chính xách thì hợp đồng bảo hiểm có thể quy định rõ hình thức phòng ngừa
phải đƣợc thực hiện. Tuy nhiên, thƣờng thì không thể quan sát hay kiểm chứng đƣợc
hành vi thích thích hợp và do vậy không thể viết các hợp đồng trong đó cụ thể hóa hành
vi phải tuân thủ mà lại có thể giám sát thực hiện đƣợc. (theo trang web diễn đàn doanh
nghiệp)
–
E
(
1,
~
tj
r
t
)
Theo lí thuyết :
E
(
1,
~
tj
z
t
) = 0
Trong đó :
1, tj
z
: là tỉ suất sinh lợi vựơt mức bình thƣờng giai đoạn t đến, t+1.
1, tj
r
: là tỉ suất sinh lợi quan sát trong giai đoạn t đến, t+1.
E
(
) = 0
Trong đó
1, tj
x
: là mức giá vựơt mức bình thƣờng giai đoạn t đến, t+1.
1, tj
p
: là mức giá quan sát trong giai đoạn t đến, t+1.
E
(
1, tj
p
t
) là mức giá chứng khoán j kì vọng của thị trƣờng tại thời điểm t trên cơ
sở tận dụng tập hợp thông tin
t
giai đoạn t đến, t+1.
16
Các chuỗi
1, tj
z
,
1, tj
x
thỏa mãn hai phƣơng trình trên gọi là trò chơi công bằng.
nhằm mục đích làm rõ thêm sự thay đổi trong môi trƣờng kinh tế. Mô hình trò chơi công
bằng cho rằng, trạng thái cân bằng của thị trƣờng tài sản có thể đƣợc biểu diễn qua mức
tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Trong khi mô hình buớc ngẫu nhiên đƣa thêm giả định liên quan
đến phân phối xác suất của chuỗi các tỷ suất sinh lợi kỳ vọng theo thời gian.
3.1.3. Phƣơng pháp kiểm định thị trƣờng hiệu quả dạng yếu:
3.1.3.1 Phƣơng pháp bƣớc ngẫu nhiên và những hạn chế:
Trong các bài nghiên cứu đầu tiên về thị trƣờng hiệu quả, các tác giả thƣờng cho
rằng: để giá cả hoàn toàn phản ánh mọi thông tin tồn tại trên thị trƣờng, hay sự thay
đổi trong mức giá cả (hoặc tỷ suất sinh lợi) liên tiếp nhau phải hoàn toàn độc lập. Bên
cạnh đó, các tác giả này cũng giả định rằng các sự thay đổi liên tiếp nhau trong mức giá
17
cả (hoặc tỷ suất sinh lợi) phải có cùng một quy luật phân phối. Kết hợp hai giả định trên,
các tác giả đi đến kết luận: giá cả trên thị trƣờng chứng khoán vốn biến động hoàn toàn
ngẫu nhiên theo mẫu hình của bƣớc ngẫu nhiên. Điều đó có nghĩa các nhà nghiên cứu
thực nghiệm chỉ cần chứng minh hiệp phƣơng sai của giá qua các giai đoạn là bằng 0. Tuy
nhiên cách kiểm định này có các nhựơc điểm.
- Nhƣợc điểm thứ nhất: hệ số tƣơng quan giữa các mức biến động giá cả không
chắc chắn bằng 0. Nhƣ vậy ở mức tƣơng quan nhƣ thế nào thì có thể đƣa ra kết luận thị
trƣờng là hiệu quả.
- Nhƣợc điểm thứ hai : là sự nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ : tính biến động ngẫu
nhiên và bƣớc ngẫu nhiên. Tính biến động ngẫu nhiên, theo Giáo S
ƣ Fama
,
là tính độc
lập cả về mặt tuyến tính lẫn phi tuyến của các sự thay đổi trong giá cả chứng khoán
(hay các mức tỷ suất sinh lợi), vốn chỉ đƣợc thể hiện trong mô hình trò chơi công bằng.
Trong khi đó, bƣớc ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu sử dụng chỉ cho thấy tính độc
lập về mặt tuyến tính của các sự thay đổi trong giá cả chứng khoán (hay các mức tỷ
suất sinh lợi
Thực chất của mô hình ALF là so sánh tỉ suất sinh lợi đầu tƣ theo phƣơng pháp
ALF với tỉ suất sinh lợi thị trƣờng, nếu tỉ suất sinh lợi đầu tƣ theo phƣơng pháp ALF
thấp hơn, điều đó đồng nghĩa với không có một phƣơng pháp đầu tƣ nào cho tỉ suất sinh
lợi cao hơn tỉ suất sinh lợi thị trƣờng_thị trƣờng là hiệu quả. Tuy nhiên, tỉ suất sinh lợi
đƣợc lấy để so sánh là tỷ suất sinh lợi có đƣợc từ phuơng pháp mua và giữ chứng
khoán. Bởi các nhà nghiên cứu theo hƣớng này lý luận rằng tỉ suất sinh lợi có đuợc từ
phƣơng pháp mua và giữ chứng khoán chính là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của thị
truờng. Do đó, để chứng minh thị truờng là hiệu quả, ta chỉ cần chứng minh rằng:
không một phƣơng pháp đầu tƣ nào có thể mang lại một tỷ suất sinh lợi lớn hơn tỷ suất
sinh lợi của phƣơng pháp mua và giữ chứng khoán.
Phƣơng pháp mua và giữ chứng khoán: là phƣơng thức mua và nắm giữ chứng
khoán trong một thời gian dài, các nhà đầu tƣ sử dụng chiến lƣợc mua-và-giữ lựa chọn
công ty trên cơ sở triển vọng dài hạn của họ. Các nhà đầu tƣ này không chịu ảnh hƣởng
của phong trào ngắn hoặc trung hạn trong giá .
3.1.4. Kiểm định thị trƣờng hiệu quả dạng vừa:
Thực chất kiểm định thị trƣờng hiệu quả dạng vừa là xem xét giá chứng khoán biến động
nhƣ thế nào trong việc công bố một thông tin rộng rãi. Theo đó các nhà nghiên cứu thực
nghiệm sẽ chọn một móc thời gian có sự kiện xảy ra (giả sử là ngày t) và quan sát sự
thay đổi giá trƣớc trong và sau khi thông tin đƣợc công bố rộng rãi. Ý tƣỏng cơ bản của
19
phƣơng pháp này là nếu giá chứng khoán thay đổi ( tăng hoặc giảm so với những ngày
quan sát trƣớc khi thông tin công bố) ngay khi thông tin công bố và không có sự biến
động những ngày sau đó, điều này chứng tỏ thông tin vừa công bố đã đƣợc phản ánh hết
vào giá, từ đó có thể đƣa ra kết luận thị trƣờng hiệu quả dạng vừa. Ngƣợc lại giá chứng
khoán những ngày sau đó vẫn tiếp tục thay đổi do thông tin đó thì giá chứng khoán ngày
t đã không phản ánh đƣợc hết thông tin, thị trƣờng không hiệu quả dạng vừa.
Các sự kiện đƣợc chọn thƣờng là công bố chia cổ tức, tách cổ phần....Mỗi bài kiểm định
theo phƣơng pháp này chỉ khảo sát đƣợc giá chứng khoán thay đổi nhƣ thế nào trƣớc
một thông tin, do đó nó chỉ cung cấp một mảng của chứng cứ của thị trƣờng hiệu quả
P
-
1t
P
=
0
c
(
t
Q
-
1t
Q
) +
1
c
(
tt
VQ
-
11 tt
VQ
) +
t
Qz
0
+
tt
VQz
1
10
), phần còn lại: chi phí xử lý đặt
lệnh và chi phí lƣu trữ là C0 = 2(
t
Vcc
10
).
Để ƣớc đoán thành phần chi phí lựa chọn bất lợi cho mỗi cổ phiếu i nào đó,
Glosten và Harris đã dùng lƣợng giao dịch trung bình của cổ phiếu i để
tính thành phần lựa chọn bất lợi trong thành phần biến thiên của giá theo công thức
sau:
ASC = 2(
10
zz
tV
)/(
10
zz
tV
+
10
cc
tV
)
21
4.2.2 Mô hình George Kaul và Nimalendran (1991)
George Kaul và Nimalendran đã phát triển phƣơng pháp phân tích khoảng biến thiên
bằng +1 nếu là ngƣời
mua và bằng -1 nếu là ngƣời bán.
jt
: là sai số của phƣơng trình.
4.2.3 Mô hình Roger D.Huang và Hans R.Stoll (1997)
Trong mô hình này tác giả đã xem xét cả yếu tố xảy ra trƣờng hợp giao dịch hai
chiều giữa ngƣời bán và ngƣời mua ban đầu. Mô hình phân tích chia làm hai cấp
Mô hình hồi qui cơ bản nhƣ sau:
Pt
=
2
S
(
t
Q
–
1t
Q
) +
2
S
1t
Q
+
t
e
Trong đó:
1t
Q
) -
2
)21(
2
t
S
2t
Q
+
t
e
E(
1t
Q
|
2t
Q
) = (1-2π)
2t
Q
Trong đó:
t
M
là giá đấu bình quân
hình của Glosten và Harris (1988), George Kaul và Nimalendran (1991), Lin và cộng sự
(1995), Roger D.Huang và Hans R.Stoll (1997), và Madhavan và cộng sự (1997),
Brennan và Subrahmanyam (1995) để đƣa ra cách tính toán chi phí lựa chon bất lợi dựa
trên hàm hồi qui với 15 biến.
Hàm hồi qui cơ bản nhƣ sau :
LTC =
0
a
+
1
a
LANLYST +
2
a
LVOL +
3
a
LPRI +
4
a
LVAR +
5
a
LSIGR +
6
a
LSIGVOL
+
7
a
b
LTC +
2
b
LVAR +
3
b
LNMVE +
4
b
LPRI +
5
b
IND +
6
b
IND2 +
7
b
IND3 +
8
b
IND4 +
9
b
LPINST +
10
b
LINST +
LANLYST
- LVOL là log của số lƣợng cổ phiếu giao dịch trung bình trong ngày (kỳ vọng -).
- LPRI là log của giá cổ phiếu trung bình một ngày (kỳ vọng -/+).
- LVAR là log của sai số của suất sinh lợi hàng ngày của cổ phiếu (kỳ vọng +).
- LSIGR là log của độ lệch chuẩn của suất sinh lợi hàng ngày của cổ phiếu
(kỳ vọng +).
- LSIGVOL là log của độ lệch chuẩn của lƣợng giao dịch hàng ngày (kỳ vọng -).
- ERRE là sai số lợi nhuận dự báo (kỳ vọng +).
- DISP là bằng độ lệch chuẩn của lợi nhuận dự báo chia cho lợi nhuận dự báo bình
quân (kỳ vọng +).
24
- LEVG là log của nợ dài hạn từ một năm trở lên chia tổng tài sản (kỳ vọng +).
- RDSALES là bằng chi phí nghiên cứu phát triển chia cho tổng doanh số bán (kỳ
vọng +).
- LINTGTA là log của tài sản vô hình chia cho tổng tài sản (kỳ vọng +).
- LNMB là log của giá trị thị trƣờng và sổ sách:
MB =
A
CEACSxP
Trong đó: CS là số lƣợng cổ phiếu phát hành, P là giá mỗi cổ phiếu, A là tổng tài
sản của công ty, CE vốn của chủ sở hữu (kỳ vọng +).
- LNMVE là log của giá trị thị trƣờng của vốn cổ phần (kỳ vọng -).
- LPINST là log của tỷ lệ phần trăm nắm giữ của các cổ đông là tổ chức (kỳ vọng -)
- LINST là log của số cổ đông là tổ chức (kỳ vọng -).
Tóm lại, lí thuyết bất cân xứng thông tin và thị trƣờng hiệu quả có một bề dày lịch
sử. Từ khi lí thuyết ra đời với những định nghĩa ban đầu, sau đó là những mô hình lƣợng
hóa nhằm đƣa lí thuyết vào kiểm định thực tế. Ban đầu tuy có những sai lầm và hạn chế
nhƣng càng về sau các mô hình đã khắc phục đƣợc những hạn chế và các phƣơng pháp
quy định tại Thông tƣ này. Các đối tƣợng khi thực hiện công bố thông tin phải đồng thời
báo cáo Ủy ban chứng khoán Nhà nƣớc, sở giao dịch chứng khoán.
Đối với việc công bố báo cáo tài chính, tổ chức niêm yết phải công bố báo cáo tài chính
năm đã đƣợc kiểm toán, báo cáo tài chính bán niên (6 tháng đầu năm) đã đƣợc soát xét
bởi tổ chức kiểm toán và báo cáo tài chính quý. Các tổ chức niêm yết phải báo cáo giải
trình khi cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 10 phiên liên tiếp; hoặc tăng trần hoặc giảm