Nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng hàng ngày của các chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam : Luận văn thạc sĩ - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------

NGUYỄN NGỌC THIÊN BẢO

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO VÀ TỶ SUẤT
SINH LỢI KỲ VỌNG HÀNG NGÀY CỦA CÁC CHỨNG
KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------

NGUYỄN NGỌC THIÊN BẢO

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO VÀ TỶ SUẤT
SINH LỢI KỲ VỌNG HÀNG NGÀY CỦA CÁC CHỨNG
KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN

Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
TÓM TẮT ........................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI .................................................................................. 3
1.1 Lý do chọn đề tài ......................................................................................................... 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu .................................................................. 5
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 6
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu ........................................................................ 6
1.6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu ....................................................................................... 6
CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA RỦI RO VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI.......................................................................... 8
2.1 Các bằng chứng thực nghiệm về kiểm định mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi
của chứng khoán trên cơ sở mô hình CAPM ...................................................................... 9
2.2 Các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi của chứng
khoán trên cơ sở nghiên cứu tính thanh khoản hoặc sự biến động của chứng khoán trong
mối quan hệ với tỷ suất sinh lợi chứng khoán .................................................................. 11
2.3 Bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của
chứng khoán ...................................................................................................................... 13


CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................... 17
3.1 Mẫu nghiên cứu ........................................................................................................... 17
3.2 Mô hình nghiên cứu .................................................................................................... 18
3.3 Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 23
CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI
KỲ VỌNG CỦA CÁC CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM ....................................................................................................................... 24


HNX

Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HR

Phương pháp đo lường giá trị rủi ro đuôi phải phi truyền thống

M/B

Tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường của chứng khoán

Semi-dev

Phương pháp đo lường rủi ro đuôi trái truyền thống

Size

Quy mô giá trị vốn hóa của công ty

Spread

Chênh lệch giữa giá cao nhất và thấp nhất của chứng khoán mỗi ngày

Stdev

Phương pháp đo lường rủi ro truyền thống bằng độ lệch chuẩn năm

VaR

1

TÓM TẮT
Bài nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng hàng ngày của
các chứng khoán giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở giao
dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) dựa trên các phương pháp đo lường rủi ro khác nhau.
Bài nghiên cứu sử dụng mẫu nghiên cứu là 55 công ty phi tài chính niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn tháng 01/2008 đến tháng 06/2013. Bằng
phương pháp hồi quy Random Effect (RE) trên dữ liệu bảng (panel data) thông qua mô
hình hồi quy chéo (cross section regression), bài nghiên cứu thu được các kết quả nghiên
cứu sau đây:
Thứ nhất, dựa trên các phương pháp đo lường rủi ro khác nhau tác giả tìm thấy mối quan
hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng hàng ngày của chứng khoán là cùng chiều. Tuy
nhiên, việc sử dụng các phương pháp đo lường rủi ro truyền thống: độ lệch chuẩn
(standard deviation) và bán lệch (semi –deviation) để xác định mối tương quan cùng
chiều giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng hàng ngày của chứng khoán là kém hiệu quả
bởi mối quan hệ này không có ý nghĩa thống kê. Trong khi, việc sử dụng các phương
pháp đo lường rủi ro phi truyền thống: VaR (Value at Risk) và HR (Home run Risk) tham
số và phi tham số với độ tin cậy khác nhau để xác định mối tương quan cùng chiều giữa
rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng hàng ngày của chứng khoán là hiệu quả hơn bởi mối
quan hệ này có ý nghĩa thống kê.
Thứ hai, kết quả vẫn không thay đổi sau khi đưa các biến kiểm soát quy mô giá trị vốn
hóa công ty, tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (B/M), tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài
sản và 2 biến giả về tỷ suất sinh lợi của chứng khoán ngày trước đó vào trong các mô hình
kiểm định của các phương pháp đo lường rủi ro phi truyền thống mà có ý nghĩa thống kê.
Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng hàng ngày của chứng
khoán là cùng chiều và có ý nghĩa thống kê.


2

và 38 trái phiếu (theo báo cáo quy mô niêm yết năm 2013 của HOSE,
Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội có 92 công ty chứng khoán thành viên và 388 cổ phiếu niêm yết (theo báo cáo quy
mô thị trường năm 2013 của HNX, . Tuy nhiên, so
với thị trường chứng khoán của các nước trong khu vực và thế giới thì thị trường chứng
khoán Việt Nam vẫn còn non trẻ, quy mô hoạt động nhỏ và có nhiều biến động.
Đặc biệt, từ khi đi vào hoạt động đến nay, giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt
Nam luôn có những biến động bất thường khó lường trước được qua từng giai đoạn khác
nhau. Cụ thể, chỉ số Vn Index đại diện cho sự biến động của thị trường chứng khoán Việt
Nam từ điểm xuất phát ban đầu 100 điểm đã thay đổi tăng giảm không ngừng với biên độ
dao động rất lớn, từ năm 2001 đến năm 2005 chỉ số Vn Index liên tục biến động trong
khoảng từ 134.14 điểm đến 571.04 điểm. Bước sang năm 2006, thị trường chứng khoán
bắt đầu bùng nổ với sự tăng nóng, hầu hết các chứng khoán trên thị trường đều tăng giá
liên tục bất chấp chứng khoán tốt hay xấu, chỉ số Vn Index đạt đỉnh cao nhất 1,170.67
điểm vào ngày 12/03/2007, sau giai đoạn này thị tường chứng khoán chịu ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, giá các chứng khoán sụt giảm không
ngừng, chỉ số Vn Index rơi xuống mức đáy thấp nhất là 235.50 điểm vào ngày
24/02/2009. Kể từ đó đến nay, thị trường vẫn tiếp tục biến động không ngừng, tuy có
những giai đoạn thị trường có sự phục hồi tăng điểm khá cao nhưng dường như niềm tin


4

của nhà đầu tư ít nhiều đã suy giảm, các nhà đầu tư hầu như thận trọng và cân nhắc hơn
trong các quyết định giao dịch của mình, đỉnh cao nhất mà Vn Index phục hồi tăng trở
lại là 615.20 điểm vào ngày 23/10/2009, còn lại xu hướng chính trong dài hạn của thị
trường cho đến thời điểm hiện nay vẫn là xu hướng giảm. Trước những biến động thay
đổi thất thường trong giá chứng khoán, vấn đề cấp thiết được các nhà đầu tư đặt ra là
“dựa trên cơ sở nào để có thể dự đoán tốt tỷ suất sinh lợi kỳ vọng trong tương lai của các
chứng khoán”.

sinh lợi kỳ vọng hàng ngày khi đưa vào các biến kiểm soát giá trị vốn hóa thị trường, tỷ lệ
nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường, tính thanh khoản.
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
Để phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài nghiên cứu, tác giả chọn mẫu là các công ty
phi tài chính niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở giao dịch
chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ ngày 02/01/2008 đến ngày 31/06/2013.
Sau khi chọn mẫu, tác giả tiến hành nghiên cứu mẫu trong phạm vi tỷ suất sinh lợi hàng
ngày của chứng khoán, giá trị vốn hóa thị trường, tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị
trường (M/B), tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, thanh khoản, các biện pháp đo lường rủi ro hàng
ngày truyền thống và phi truyền thống tác động đến tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Dữ liệu
nghiên cứu được lấy từ website , của các
công ty thực hiện niêm yết trên sàn Hose và Hnx giai đoạn 01/2008 - 06/2013.


6

1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy Random Effect (RE) trên dữ liệu bảng
(panel data) thông qua mô hình hồi quy chéo (cross section regression) để kiểm định mối
quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng hàng ngày của các chứng khoán trên sàn
HOSE và HNX.
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng hàng ngày
của các chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao
dịch chứng khoán Hà Nội (HNX). Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng cho biết thêm mối quan
hệ giữa tỷ suất sinh lợi ngày trước đó và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng ngày tiếp theo thông qua
việc đưa các biến giả vào trong mô hình kiểm định. Nói chung, bài nghiên cứu sẽ cho biết
thực tế các thông tin tỷ suất sinh lợi quá khứ của các chứng khoán trên sản HOSE và
HNX có là hữu ích để giúp các nhà đầu tư dự đoán tỷ suất sinh lợi kỳ vọng trong tương
lai hay không.

nghiên cứu và hướng nghiên cứu mở rộng từ bài nghiên cứu này.


8

CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA CHỨNG
KHOÁN.
Bất kỳ quyết định đầu tư tài chính nào cũng đều được xem xét và cân nhắc dưới góc độ
rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cũng như kết quả thực tế đạt được. Vì vậy, rủi ro và tỷ
suất sinh lợi luôn là mối quan tâm lớn trong nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tài chính
và các nhà đầu tư. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tiếp cận vấn đề mối quan hệ giữa
rủi ro và tỷ suất sinh lợi theo nhiều hướng các nhau.
Một số tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi chứng khoán bằng
cách thực hiện kiểm định mối quan hệ này trên cơ sở các mô hình định giá tài sản truyền
thống, điển hình là mô hình CAPM. Mô hình này hàm ý rằng các nhà đầu tư có xu hướng
không thích rủi ro sẽ đòi hỏi mức tỷ suất sinh lợi cao hơn để đổi lấy việc họ sẵn lòng đầu
tư vào những tài sản rủi ro cao hơn. Ý nghĩa thông qua mô hình này là cho biết mối quan
hệ cùng chiều giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi. Tuy nhiên kết quả tìm thấy trong các nghiên
cứu của các tác giả là trái ngược nhau. Điều này cho thấy hạn chế của mô hình CAPM khi
ứng dụng vào môi trường thực tế. Có lẽ sự hạn chế của mô hình CAPM thể hiện trong
một số giả định về tỷ suất sinh lợi tuân theo phân phối chuẩn hay mối quan hệ cùng chiều
giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi được cho là không hoàn toàn phù hợp với thực tế biến động
của giá chứng khoán trên thị trường, đặc biệt sự biến động đáng kể của giá chứng khoán
sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.
Một số các tác giả khác tìm hiểu mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi thông qua
những nghiên cứu về đặc điểm rủi ro của chứng khoán như sự biến động của giá chứng
khoán hoặc tính thanh khoản của chứng khoán,.. trong mối quan hệ với tỷ suất sinh lợi
chứng khoán. Kết quả tìm thấy trong các nghiên cứu này cũng là các bằng chứng hỗn hợp
về mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi chứng khoán.

không đi liền với tỷ suất sinh lợi cao.


10

Năm 2010, Choudhary, Kapil & Sakshi Choudhary thực hiện nghiên cứu “ Testing
Capital Asset Pricing Model: Empirical evidences from Indian Equity Market”. Trong
nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng dữ liệu nghiên cứu là tỷ suất sinh lợi hàng tháng của
278 chứng khoán trên thị trường chứng khoán Bombay trong giai đoạn từ 01/1996 –
12/2009. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro của chứng khoán càng cao không có nghĩa là
tỷ suất sinh lợi cũng cao.
Năm 2010, Zorbaer Hasan & Adli Mustafa thực hiện nghiên cứu “An Analysis of the
CAPM for Dhaka Stock Exchange: Evidence from Non-Financial Sector” với mẫu nghiên
cứu là tỷ suất sinh lợi hàng tháng của các chứng khoán từ 60 công ty phi tài chính trên Sở
giao dịch chứng khoán Dhaka, Bangladesh giai đoạn tháng 1 năm 2005 đến tháng 12 năm
2009. Thông qua phương pháp hồi quy OLS, nhóm tác giả đã tìm thấy bằng chứng là các
chứng khoán có rủi ro (beta) cao không đi đôi với tỷ suất sinh lợi cao, và ngược lại. Từ
kết quả này, nhóm tác giả đã đi đến kết luận là mô hình CAPM không thích hợp cho việc
định giá chứng khoán ở Bangladesh.
Từ các bằng chứng thực nghiệm hỗn hợp trong kiểm định mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ
suất sinh lợi của các chứng khoán trên thế giới dựa trên mô hình CAPM cho thấy hàm ý
sự đánh đổi rủi ro và tỷ suất sinh lợi trong mô hình CAPM đôi khi là không phù hợp với
thực tế, đặc biệt là sự diễn biến phức tạp khôn lường của thị trường chứng khoán trong
thời gian qua. Một số tác giả khác nhận thấy được sự hạn chế khi ứng dụng mô hình
CAPM để kiểm định mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi chứng khoán nên đã
chuyển sang các hướng nghiên cứu khác, cụ thể như nghiên cứu tính thanh khoản hoặc sự
biến động của chứng khoán trong mối quan hệ với tỷ suất sinh lợi chứng khoán,.. nhằm để
kiểm định mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi chứng khoán.



12

tác giả đã tiến hành sắp xếp 1000 cổ phiếu lớn nhất tại Mỹ thành năm nhóm khác nhau
vào mỗi tháng, dựa trên hai thước đo rủi ro là độ lệch chuẩn và hệ số beta. Sau đó bằng
phương pháp hồi quy, tác giả đã tìm thấy có hiện tượng bất thường khi đầu tư một đô la
vào chứng khoán có vốn hóa lớn biến động thấp thì sau khoảng thời gian 41 năm tăng lên
53.81$, trái lại một đô la đầu tư vào chứng khoán có vốn hóa lớn biến động cao cũng sau
thời gian đó chỉ tăng lên 7.35$. Ngoài ra , tác giả tìm thấy điều tương tự khi phân loại
các cổ phiếu dựa trên độ trễ của hệ số beta. Trong cùng thời kỳ, một đô la đầu tư vào danh
mục đầu tư gồm các cổ phiếu có beta thấp nhất đã tăng lên 78.66$, trong khi một đô
la đầu tư vào danh mục đầu tư với các cổ phiếu có hệ số beta cao nhất tăng không đáng
kể, chỉ 4.70 $ với giả định trong nghiên cứu là không có chi phí giao dịch. Kết quả nghiên
cứu cho thấy các chứng khoán có biến động cao có tỷ suất sinh lợi tương đối thấp là đúng
trong các giai đoạn thị trường sụp đổ: 1973-1974, 2000 -2002, 1987, khủng hoảng tài
chính toàn cầu 2008. Tác giả cho rằng các chứng khoán rủi ro thấp có kết quả tốt vượt trội
trong dài hạn, và đây có lẽ là sự bất thường lớn nhất trong lý thuyết tài chính.
Năm 2011, Turan G. Bali,

Nusret Cakici và

Robert F. Whitelaw nghiên cứu

“Maxing out: Stocks as lotteries and the cross-section of expected returns”. Trong bài
nghiên cứu, tác giả thực hiện hồi quy các biến tỷ suất sinh lợi hàng ngày cao nhất (MAX),
beta thị trường (BETA), logarit tự nhiên vốn hóa thị trường (SIZE), logarit tự nhiên của
giá trị sổ sách trên gia trị thị thường (BM), momentum (MOM), đảo chiều trong ngắn hạn
(REV), bất thanh khoản (ILLIQ) của các chứng khoán trên thị trường Mỹ giai đoạn 1926
-2005 với giá trị các biến có độ trể 1 tháng trong mô hình hồi quy chéo hàng tháng
(monthly cross-section regression).
Ri, t+1 = λ0,t + λ1,t MAXi,t + λ2,t BETAi,t + λ3,t SIZEi,t + λ4,t BM i,t + λ5,t MOM i,t

relation between asymmetric risk measures, prior returns and expected daily stock
returns” với mẫu nghiên cứu là các chứng khoán trên thị trường Mỹ giai đoạn 1989-2009.
Trong bài nghiên cứu, tác giả tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro và tỷ suất sinh
lợi chứng khoán đối với toàn bộ mẫu nghiên cứu. Kết quả này là đúng cho tất cả các
phương pháp đo lường rủi ro truyền thống : độ lệch chuẩn (standard deviation) và bán


14

lệch (semi –deviation) cũng như đối với các phương pháp đo lường rủi ro bất cân xứng
phi truyền thống: VaR (Value at Risk) và HR (Home run Risk) tham số và phi tham số
đối với độ tin cậy khác nhau. Hơn nữa, sau khi đưa vào các biến kiểm soát quy mô vốn
hóa công ty, tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (B/M), đòn bẩy tài chính, thanh
khoản và 2 biến giả đo lường xu hướng tỷ suất sinh lợi của ngày hôm trước, tác giả vẫn
tìm thấy mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi cùng chiều.
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy các phương pháp đo lường rủi ro bất cân xứng phi
truyền thống không cung cấp thêm bất kỳ thông tin nào so với các phương pháp đo lường
rủi ro truyền thống.
Tuy nhiên, mức độ tương quan cùng chiều giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi là chịu ảnh
hưởng lớn của quy mô vốn hóa công ty, tỷ số B/M và thanh khoản. Cụ thể, khi tác giả
chia mẫu thành các nhóm dựa trên quy mô vốn hóa công ty thì mối quan hệ giữa rủi ro và
tỷ suất sinh lợi là cùng chiều chỉ xảy ra đối với các công ty có quy mô nhỏ nhất. Tương
tự, khi tác giả chia mẫu thành các nhóm dựa trên rủi ro thanh khoản, mối quan hệ rủi ro
và tỷ suất sinh lợi cùng chiều chỉ thể hiện đối với các công ty có tính thanh khoản cao.
Khi tác giả chia mẫu thành các nhóm dựa trên tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường
(B/M) thì mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất sinh lợi và rủi ro xảy ra đối với tất cả các
nhóm. Mặc dù sự phân chia mẫu làm giảm đi sự tổng quát của bằng chứng mối quan hệ
rủi ro và tỷ suất sinh lợi cùng chiều, nhưng từ đây cho thấy lý do của các kết quả hỗn hợp
trong các nghiên cứu trước đây và sự biến động bất thường.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cho thấy xảy ra sự đảo chiều tỷ suất sinh lợi mạnh mẽ trong

chứng khoán trên cơ sở nghiên cứu tính thanh khoản, sự biến động của chứng khoán trong
mối quan hệ với tỷ suất sinh lợi của khoán. Cụ thể, bằng chứng thực nghiệm trong nghiên
cứu của Yakov Amihud (2002) cho thấy chứng khoán kém thanh khoản có tỷ suất sinh lợi
cao hơn, trong khi nghiên cứu của Andrew Ang, Robert J. Hodrick, Yuhang Xing và
Xiaoyan Zhang (2006), Malcolm Baker, Brendan Bradley và Jeffrey Wurgler (2011),
Turan G. Bali, Lin Peng, Yannan Shen và Yi Tang (2012) cho thấy chứng khoán có rủi ro
cao, nhiều biến động, kém thanh khoản lại có tỷ suất sinh lợi thấp hơn.


16

Thứ ba, theo hướng nghiên cứu mới của Stephen P. Huffman và Cliff R. Moll (2012) dựa
trên các phương pháp đo lường rủi ro khác nhau cho thấy mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ
suất sinh lợi kỳ vọng hàng ngày của chứng khoán trên thị trường Mỹ là cùng chiều. Tuy
nhiên, mức độ tương quan cùng chiều này chịu ảnh hưởng lớn của quy mô vốn hóa công
ty, tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường và thanh khoản.


17

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mẫu nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu đề cập ở mục 1.2, tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu là các
chứng khoán niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao
dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) được giao dịch liên tục kể từ phiên ngày 02/01/2008
đến phiên ngày 30/06/2013. Ứng với mỗi chứng khoán trong mẫu, tác giả thu thập các dữ
liệu sau:
Giá đóng cửa của cổ phiếu cuối mỗi ngày giao dịch.
Khối lượng cổ phần lưu hành được cập nhật mỗi ngày trên sự kiện và thông tin cổ tức của
các công ty. Số liệu này được sử dụng cùng với dữ liệu giá hàng ngày để tính toán quy mô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status