BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------------
Dƣơng Tú Hoàng
MỐI LIÊN HỆ GIỮA LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ
PHIẾU (EPS) VÀ GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------------Dƣơng Tú Hoàng
MỐI LIÊN HỆ GIỮA LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ
PHIẾU (EPS) VÀ GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Văn Thảo
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013
2.4.2 Cách tính của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ...... 22
2.5 Mối liên hệ giữa lợi nhuận trên cổ phiếu và giá cổ phiếu ....................................... 25
CHƢƠNG 3
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu .............................................................................................. 28
3.2 Dữ liệu nghiên cứu ................................................................................................. 29
3.3 Mẫu nghiên cứu ...................................................................................................... 30
3.4 Phân tích dữ liệu định lượng .................................................................................. 31
3.4.1 Xác định tỷ suất sinh lợi ngẫu nhiên bình quân tích lũy .......................... 31
3.4.2 Xác định thông tin EPS có lợi và thông tin EPS bất lợi .......................... 34
3.5 Kiểm định giả thuyết thống kê ............................................................................ 36
CHƢƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam .................................................. 38
4.2 Kết quả nghiên cứu ................................................................................................ 40
4.2.1 Tỷ suất sinh lợi ngẫu nhiên của từng doanh nghiệp ................................ 40
4.2.2 Thông tin EPS có lợi và bất lợi ................................................................ 42
4.2.3 Phản ứng của thị trường .......................................................................... 42
CHƢƠNG 5
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CÓ LIÊN QUAN NHẰM NÂNG CAO
TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN EPS TRÊN BCTC
5.1 Kết luận .................................................................................................................. 49
5.2 Một số kiến nghị có liên quan ................................................................................ 50
Kết luận ......................................................................................................................... 54
Tài liệu tham khảo……... ............................................................................................. 55
Phụ lục
thông qua việc tạo ra lợi nhuận cho công ty và nếu họ thất bại trong việc tạo ra lợi
nhuận, dường như các công ty sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn
nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Do đó, việc tạo ra giá
trị hay lợi nhuận của công ty có vai trò rất quan trọng đối với các nhà quản trị. Giá trị
tạo ra cho các cổ đông của công ty có thể được xác định trực tiếp từ giá cổ phiếu, tuy
nhiên thị giá cổ phiếu luôn biến động do có những thông tin nằm trong hoặc ngoài tầm
kiểm soát của các nhà quản trị. Do vậy, để đo lường hoạt động sản xuất kinh doanh các
nhà quản trị thường dựa vào các thông tin kế toán. Hơn nữa, nếu các thông tin kế toán
hữu ích sẽ giúp các nhà quản trị lập được kế hoạch kinh doanh tốt và có thể kiểm soát
được hệ thống dựa trên các thông tin đó.
Còn đối với người sử dụng thông tin kế toán bên ngoài công ty phải kể đến các
nhà đầu tư, những người nắm giữ cổ phiếu của công ty. Các nhà đầu tư sẽ sử dụng các
thông tin kế toán có trên báo cáo tài chính để đưa ra các quyết định mua, bán hay nắm
giữ cổ phiếu của công ty. Trong các thông tin mà BCTC của các doanh nghiệp cung
cấp, quan trọng nhất phải kể đến thông tin “Lãi trên cổ phiếu”, đây chính là một trong
những cơ sở quan trọng để các đối tượng có nhu cầu sử dụng đưa ra các quyết định của
mình.
Một câu hỏi được đặt ra là liệu thông tin EPS trên BCTC được công bố có phản
ánh đầy đủ vào giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam hay
2
không? Nếu có, nghĩa là sẽ tồn tại một mối liên hệ giữa thông tin EPS trên BCTC được
công bố và giá cổ phiếu của các doanh nghiệp. Nói cách khác, giá cổ phiếu của doanh
nghiệp sẽ được điều chỉnh ngay khi thông tin về EPS trên BCTC được công bố. Đây
chính là bằng chứng chứng minh thông tin EPS trên BCTC của các doanh nghiệp thực
sự hữu ích cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng.
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu thực hiện nhằm tìm ra quy luật
thay đổi trong giá chứng khoán dựa trên thông tin EPS trên BCTC của các doanh
các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bởi thị trường
chứng khoán phát triển mạnh trong giai đoạn 2006 – 2007 nhưng giá cổ phiếu bị
pha loãng bởi nhiều nguyên nhân. Năm 2008 do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế giá cổ phiếu không phản ánh hết hoạt động của doanh nghiệp
cũng như nhu cầu của nhà đầu tư.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp thống kê, phương
pháp chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp hồi quy, phương pháp tổng hợp, phân tích và
đánh giá để tìm ra mối liên hệ giữa thông tin EPS và giá cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán Việt Nam và đề ra các kiến nghị có liên quan nhằm nâng cao tính hữu ích của
thông tin này trên BCTC.
5. Điểm mới của luận văn
Hiện nay tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu đánh giá tính hữu ích của các thông
tin kế toán trên BCTC, đặc biệt là thông tin về EPS. Trong khi thông tin về EPS là một
trong những thông tin cấu thành nên tỷ số P/E (hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu),
một tỷ số quan trọng đánh giá mức độ hấp dẫn của các cổ phiếu trên thị trường. Do đó,
về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ là một tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý
trong việc thực hiện các quyết định quản trị của mình. Đồng thời, kết quả nghiên cứu
cũng sẽ giúp các nhà đầu tư có thêm thông tin trong việc đưa ra quyết định mua, bán,
nắm giữ… cổ phiếu của mình.
6. Hạn chế của luận văn
Luận văn mới chỉ dừng lại ở mức tìm hiểu xem liệu thông tin EPS trên BCTC
được công bố có phản ánh vào giá chứng khoán hay không và sau khi thông tin này
4
được công bố thì giá chứng khoán có thay đổi như thế nào, chứ chưa lượng hóa được
mức độ thay đổi của giá chứng khoán khi thông tin EPS được công bố.
Nếu số cổ phiếu phổ thông hay cổ phiếu phổ thông tiềm năng đang lưu hành
tăng như là kết quả của việc phát hành cổ phiếu thưởng trả cổ tức bằng cổ
phiếu, thì việc tính EPS cơ bản và pha loãng cho tất cả các kỳ cần phải được
điều chỉnh hồi tố tương ứng.
-
Khi DN có các khoản trái phiếu chuyển đổi, chứng quyền và lựa chọn quyền
mua cổ phiếu hay các công cụ tài chính mà nó có thể chuyển đổi thành cổ
phiếu phổ thông, thì cần trình bày cả chỉ tiêu EPS pha loãng (Diluted EPS)
để NĐT ước tính EPS trong những năm tới.
-
Chế độ kế toán của Việt Nam đưa ra cánh tính EPS chưa hợp lý. Đó là lãi
dùng để tính EPS bao gồm cả các khoản quỹ khen thưởng phúc lợi không
thuộc cổ đông. Nhiều công ty trích quỹ khen thưởng phúc lợi từ 5 - 15% lợi
nhuận sau thuế, do vậy EPS của các công ty này bị sai lệch tương ứng.
Mã Văn Giáp (2013) thực hiện nghiên cứu nhằm hoàn thiện phương pháp xử lý
kế toán lãi trên cổ phiếu cho các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán
6
Việt Nam. Bằng cách khảo sát ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán, kiểm
toán; các công ty cổ phần niêm yết; các nhà đầu tư chứng khoán nhằm đánh giá công
tác xử lý kế toán lãi trên cổ phiếu tại các công ty cổ phần niêm yết hiện nay, những khó
khăn, vướng mắc khi áp dụng chuẩn mực kế toán số 30, cũng như sự đầy đủ và thích
7
1.2 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã cũng có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác
động của lãi trên cổ phiếu đến giá cổ phiếu sau khi thông tin lợi nhuận công bố. Đây là
vấn đề không mới và đã được các nhà nghiên cứu thực hiện từ rất lâu.
R. Ball and P. Brown (1968) thực hiện cuộc nghiên cứu nhằm đánh giá tính hữu
ích của thông tin lợi nhuận đến quyết định của người đầu tư trên thị trường chứng
khoán New York. R. Ball and P. Brown tiến hành khảo sát trong vòng 18 tháng, 12
tháng trước và 6 tháng sau sự kiện lợi nhuận trên báo cáo thu nhập được công bố. Kết
quả cho thấy thông tin lợi nhuận trên báo cáo thu nhập là hữu ích và nó có mối liên hệ
với giá cổ phiếu. Thị trường cũng đã dự đoán được thông tin bất lợi và có lợi của lợi
nhuận và có những điều chỉnh về giá cổ phiếu phù hợp. Hầu hết trong các trường hợp
giá đã điều chỉnh theo sự thay đổi của lợi nhuận (85 – 90%) trước tháng mà thông tin
được công bố.
Tuy đã lượng hóa được mức độ thay đổi của giá cổ phiếu khi thông tin lợi nhuận
được công bố nhưng nghiên cứu của R. Ball and P. Brown chỉ mới xem xét ảnh hưởng
của thông tin lợi nhuận trên BCTC năm mà chưa xem xét tới ảnh hưởng của thông tin
lợi nhuận trên BCTC quý tới giá cổ phiếu.
Fama et al. (1969) thực hiện cuộc nghiên cứu nhằm xem xét những điều chỉnh
của giá cổ phiếu khi các thông tin mới được công bố trên thị trường New York. Thông
tin mới ở đây là thông tin về lợi nhuận và thông tin về các khoản cổ tức tiềm năng sẽ
được chi trả. Khác với nghiên cứu của R. Ball and P. Brown (1968) chỉ nghiên cứu
trong khoảng thời gian 18 tháng, 12 tháng và 6 tháng sau khi thông tin lợi nhuận được
công bố, Fama tiến hành khảo sát trong khoảng thời gian khá dài là 59 tháng, 29 tháng
trước và 30 tháng sau khi các thông tin mới trên BCTC được công bố.
Kết quả nghiên cứu cho thấy giá cổ phiếu có mối liên hệ đối với sự tăng lên của
cổ tức và lợi nhuận, có những bằng chứng cho thấy thị trường đã nhận biết được điều
này và có những sự điều chỉnh phù hợp đối với sự tăng lên của cổ tức và lợi nhuận.
9
chứng khoán. Bằng việc thu thập dữ liệu của 40 mã cổ phiếu lớn và có tính thanh
khoản tốt nhất trên thị trường chứng khoán Bắc Âu OMX từ năm 2010 đến 2012 và
tiến hành khảo sát trong vòng 17 ngày, 8 ngày trước và 8 ngày sau sự kiện lợi nhuận
được công bố. Kết quả cho thấy thị trường phản ứng một cách chậm với thông tin lợi
nhuận được công bố, nghĩa là các thông tin này có ảnh hưởng yếu tới giá cổ phiếu.
Nghiên cứu cũng cho thấy các thông tin lợi nhuận được công bố không có ảnh
hưởng đến thị trường hiệu quả dạng trung bình, do đó các thông tin này sẽ không phản
ánh đầy đủ vào giá cổ phiếu và các nhà đầu tư có thể kiếm được khoản tỷ suất sinh lợi
ngẫu nhiên từ việc sử dụng thông tin lợi nhuận.
Do nghiên chỉ khảo sát 40 mã chứng khoán lớn và có tính thanh khoản tốt nhất
trên thị trường chứng khoán Bắc Âu OMX nên kết quả nghiên cứu sẽ có thể không đại
diện cho các cổ phiếu trên OMX bởi giá cổ phiếu của mỗi công ty có quy mô khác
nhau sẽ có những phản ứng khác nhau đối với thông tin lợi nhuận được công bố.
Nghiên cứu cũng chưa lượng hóa được mức độ thay đổi của giá chứng khoán do
chỉ nghiên cứu phản ứng của giá cổ phiếu đối với thông tin lợi nhuận trên BCTC.
10
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Các nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay về thông tin EPS chủ yếu là ở mức độ
hoàn thiện phương pháp xử lý kế toán đối với chỉ tiêu này trên BCTC như nghiên cứu
của Trần Xuân Nam (2010), Mã Văn Giáp (2013)… chứ hầu như chưa có các nghiên
cứu về tính hữu ích của thông tin này trên BCTC dựa trên những phản ứng của giá cổ
phiếu khi thông tin EPS được công bố.
Còn trên thế giới những nghiên cứu về tính hữu ích của thông tin này trên
BCTC dựa trên những phản ứng của giá cổ phiếu khi thông tin EPS được công bố
Với các điều kiện này, giả thiết thị trường hiệu quả cho rằng thông tin sẽ được
phản ánh đầy đủ vào giá cổ phần. Do đó, không thể kiếm được lợi nhuận kinh tế thông
qua bán dựa trên thông tin sẵn có.
Trong thị trường hiệu quả các nhà kinh tế học thường chia thành ba dạng dựa
trên mức độ thông tin phản ánh trong giá chứng khoán.
12
- Dạng yếu khi giá cả phản ánh thông tin đã chứa đựng trong hồ sơ giá cả quá
khứ. Ở dạng này thì không thể tạo được các siêu tỷ suất sinh lợi liên tục bằng cách
nghiên cứu các tỷ suất sinh lợi quá khứ. Giá cả theo những bước ngẫu nhiên. Do đó,
không thể sử dụng bất kỳ mô hình dự đoán nào để mua bán cổ phiếu nhằm thu lại lợi
nhuận.
- Dạng trung bình khi giá cả không chỉ phản ánh giá quá khứ mà còn phản ánh
tất cả các thông tin công bố khác như thông tin trên báo cáo tài chính. Thị trường hiệu
quả ở dạng này giá chứng khoán sẽ điều chỉnh ngay lập tức trước các thông tin được
công bố như việc công bố tỷ suất sinh lợi, phát hành cổ phần mới, sáp nhập công ty….
Các tin tốt sẽ làm giá chứng khoán đi lên, ngược lại sẽ làm giá giảm xuống.
Dạng trung bình trong thị trường hiệu quả có liên quan mật thiết với kế toán bởi
thông tin kế toán là một trong những thông tin tài chính quan trọng được công ty công
bố.
Việc kiểm nghiệm quan trọng nhất đối với giả thiết này là liệu các thông tin trên
báo cáo của công ty (đặc biệt là báo cáo thu nhập) có gây ra những biến động đáng kể
đối với giá chứng khoán hay không? Nếu EMH dạng trung bình là đúng thì không có
một nguyên tắc thương mại nào dựa trên thông tin đó sẽ mang lợi mức siêu lợi nhuận
(sau khi đã trừ đi chi phí rủi ro và giao dịch). Vì giá chứng khoán sẽ hoặc là phản ứng
nhanh trước những thông tin có trong thông báo của công ty nên sẽ không để lại những
thay đổi nào về giá để có thể khai thác, hoặc là chúng không có phản ứng nào hết vì
trong báo cáo không chứa các thông tin thích hợp. Tất nhiên, nếu EMH dạng trung
thời kỳ t.
Công thức trên được gọi là mô hình định giá tài sản vốn (CAPM). Các mô hình
thị trường trong nghiên cứu thị trường vốn đều được xây dựng dựa trên cơ sở mô hình
này.
Trong công thức trên µi,t thể hiện tỷ suất sinh lợi ngẫu nhiên bình quân của
chứng khoán i do các sự kiện của doanh nghiệp như thu nhập cá nhân, công bố cổ tức,
14
chính sách quản trị… Và trong nghiên cứu lý thuyết thực chứng trên thị trường vốn
người ta sử dụng µi,t để khảo sát ảnh hưởng của thông tin đến giá chứng khoán.
2.1.3 Tỷ suất sinh lợi ngẫu nhiên bình quân
Các nghiên cứu thực nghiệm đòi hỏi phải khảo sát tỷ suất sinh lợi bình quân µ
của một mẫu gồm nhiều chứng khoán trong mỗi chuỗi thời gian nhất định. Do đó,
trước hết các nhà nghiên cứu xác định AR (average firm – unique return) là tỷ suất sinh
lợi ngẫu nhiên bình quân một kỳ của doanh nghiệp khảo sát theo công thức sau:
ARt = ∑µi,t/N
Trong đó: ARt – Tỷ suất sinh lợi ngẫu nhiên bình quân trong kỳ t của các doanh
nghiệp khảo sát.
µi,t – Tỷ suất sinh lợi ngẫu nhiên trên chứng khoán i trong tháng t.
N – Số doanh nghiệp khảo sát trong tháng.
AR chỉ phản ánh biến động của một kỳ đơn vị. Để có thể đánh giá được sự biến
thiên qua một thời gian dài, các nhà nghiên cứu xác định CAR là tỷ suất sinh lợi ngẫu
nhiên bình quân tích lũy tính từ đầu thời gian khảo sát đến kỳ t.
CARt = ∑
Thông thường t được khảo sát trong 18 tháng, 12 tháng trước sự kiện và 6 tháng
sau sự kiện.
2.2 Vai trò của thông tin kế toán đối với hoạt động của thị trƣờng chứng khoán
Theo chuẩn mực kế toán số 21 – Trình bày báo cáo tài chính, mục đích của báo
Theo Luật doanh nghiệp 2005 thì cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát
hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty
đó. Do vậy, người nắm giữ cổ phiếu dù ít hay nhiều chính là một trong những chủ sở
hữu của công ty và có đầy đủ quyền của một cổ đông.
Thông thường người ta thường phân cổ phiếu thành các dạng sau:
- Cổ phiếu được phép phát hành: Là số lượng cổ phiếu tối đa của một công ty
có thể phát hành từ lúc bắt đầu thành lập cũng như trong suốt quá trình hoạt động.
16
- Cổ phiếu phát hành: Là số cổ phiếu của công ty đã phát hành ra cho người đầu
tư, nó nhỏ hơn hoặc tối đa là bằng số cổ phiếu được phép phát hành.
- Cổ phiếu quỹ: Là loại cổ phiếu của công ty đã phát hành ra nhưng với những
lý do nhất định công ty bỏ tiền ra mua lại một số cổ phiếu của chính công ty mình.
- Cổ phiếu đang lưu hành: Là cổ phiếu đã phát hành và đang được cổ đông nắm
giữ.
Dựa vào hình thức cổ phiếu người ta có thể phân thành cổ phiếu ghi danh và cổ
phiếu vô danh. Cổ phiếu ghi danh là cổ phiếu có ghi tên người sở hữu trên cổ phiếu.
Còn cổ phiếu vô danh là không ghi tên người sở hữu.
Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu đưa lại cho người nắm giữ, có thể phân biệt
thành cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
- Cổ phiếu thường hay còn gọi là cổ phiếu phổ thông là chứng chỉ xác nhận
quyền sở hữu của cổ đông với công ty và xác nhận cho phép cổ đông được hưởng các
quyền lợi thông thường trong công ty.
- Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong một công ty, đồng
thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi ưu tiên
hơn so với cổ đông thường.
Cổ phiếu có một số đặc điểm như sau:
- Tính thanh khoản cao vì có thể dễ dàng chuyển thành tiền mặt.
ghi sổ, so với giá trị tài sản thuần hoặc so với một số cách đo khác. Đối với các cổ
phiếu niêm yết giá thị trường ngoài việc xác định qua nhu cầu trao đổi giữa các nhà
đầu tư, sở giao dịch còn quy định cách tính mức giá thị trường khởi điểm để giao dịch
ngày hôm sau. Đây cũng là một hạn chế của thị trường chứng khoán Việt Nam không
phản ánh chính xác được giá trị và nhu cầu của 2 bên mua bán. Một số khái niệm giá
cổ phiếu để xác định giá thị khởi điểm giao dịch ngày hôm sau:
- Giá niêm yết là mức giá của cổ phiếu được thực hiện trong phiên giao dịch
đầu tiên khi lên niêm yết trên thị trường chứng khoán và được hình thành dựa
trên quan hệ cung – cầu trên thị trường;
18
- Giá khớp lệnh là mức giá được xác định từ kết quả khớp lệnh của Trung tâm
giao dịch chứng khoán, thoả mãn được tối đa nhu cầu của người mua và người
bán chứng khoán;
-
Giá tham chiếu là mức giá làm cơ sở cho việc tính giới hạn dao động giá
chứng khoán trong phiên giao dịch;
-
Giá đóng cửa là giá thực hiện tại lần khớp lệnh cuối cùng trong ngày giao
dịch. Giá mở cửa là giá đóng cửa của phiên giao dịch hôm trước
Giá trị nội tại: khái niệm được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực tài chính. Có thể
hiểu là giá trị thực của cổ phiếu. Giá trị nội tại gồm các yếu tố phi tài chính (nhãn hiệu,
quyền sở hữu trí tuệ,…) không được phản ánh hết qua giá thị trường. Các nhà đầu tư
thường có những kỹ thuật khác nhau để xác định giá trị nội tại của cổ phiếu. Giá trị nội