Một số biện pháp giúp khắc phục những hạn chế của học sinh khi viết bài văn nghị luận xã hội lớp 9 - Pdf 51

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
1. Lý do chọn đề tài.
Trong chương trình Ngữ văn những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã đưa dạng bài nghị luận xã hội bắt đầu học từ lớp 9 cho đến hết lớp 12, thi vào
đại học. Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội - nhân sinh,
một tư tưởng, đạo lí, một lối sống cao đẹp, một hình tượng tích cực hoặc tiêu
cực của đời sống, một vấn đề của tự nhiên, môi trường. Mục đích của kiểu bài
này là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa
con người với con người trong xã hội, thông qua đó phát triển những tư tưởng, tình
cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về đạo đức, lối sống…
bằng một ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, giàu sức
thuyết phục.
Trong chương trình Ngữ văn lớp 9, kiểu bài nghị luận xã hội chủ yếu là 2
dạng: nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội và nghị luận về một vấn đề
tư tưởng, đạo lí. Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, đối với thi học sinh giỏi
và thi khảo sát chất lượng học kỳ II cũng như thi vào 10, Sở Giáo dục và Đào
tạo thường đưa ra một dạng nghị luận xã hội nữa đó là nghị luận về một vấn đề
xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, đây là một dạng mới đối với học sinh.
Việc đưa kiểu bài nghị luận xã hội trở thành một kiểu bài bắt buộc trong
phân môn Tập làm văn lớp 9, thành nội dung các bài thi, bài kiểm tra là một chủ
trương đúng đắn với mục tiêu: học văn, các em không chỉ biết cái hay, cái đẹp
của tác phẩm, tài năng của nhà văn mà còn giúp các em biết những vấn đề của
cuộc sống, những vấn đề diễn ra xung quanh các em như: phẩm chất đạo đức, lối
sống của con người, lối sống, quan niệm sống, môi trường sống…Từ đó các em
định hướng cho mình một quan điểm sống phù hợp, sống có ích, có ý nghĩa,
hoàn thiện nhân cách, đạo đức, tâm hồn của mình hơn, phát triển toàn diện hơn,
đồng thời cũng đưa bộ môn Văn ở THCS gắn liền với thực tế đời sống hơn.
Tuy nhiên, đây lại là một kiểu bài khó đối với học sinh THCS, khi mà tư
duy và vốn sống của các em còn hạn chế. Bên cạnh đó, kiểu bài này không chỉ
đòi hỏi kỹ năng làm bài mà còn đòi hỏi kiến thức về các vấn đề thực tế của đời
sống, để từ đó đòi hỏi các em phải bộc lộ tư tưởng, quan điểm, suy nghĩ của

Chỉ ra những hạn chế của học sinh khi viết bài văn nghị luận xã hội, nguyên
nhân mắc lỗi của các em để đưa ra các biện pháp khắc phục, để từ đó giúp các
em biết viết tốt bài nghị luận xã hội trong quá trình học và tham gia các kỳ thi
như thi học sinh giỏi lớp 9 cấp Huyện, cấp Tỉnh, thi vào lớp 10 THPT và chuyên
Lam Sơn đạt hiệu quả cao, cũng như làm tiền đề để học tốt hơn kiểu bài này ở
cấp THPT sau này.
Đồng thời trao đổi cùng các đồng nghiệp, giúp các đồng nghiệp có thêm
kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy kiểu bài nghị luận xã hội lớp 9 có hệ
thống, khoa học hơn và đạt hiệu quả cao hơn đối với học sinh miền núi.
3. Đối tượng nghiên cứu.
- Đề tài nghiên cứu những hạn chế học sinh thường gặp khi viết bài văn
nghị luận xã hội, nguyên nhân và cách khắc phục những hạn chế của học sinh.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: nghiên cứu hệ thống lí
thuyết về đặc điểm, yêu câu, các bước làm bài văn nghị luận xã hội lớp 9;
PP điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: khảo sát thực trạng của học
sinh khi viết bài nghị luận xã hội.
PP thống kê, xử lý số liệu: thu thập số liệu, xử lý số liệu sau thu thập, điều
tra khảo sát thực tế tình trạng của học sinh.
PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Như chúng ta đã biết trong cấu trúc đề thi cấp Huyện, cấp Tỉnh, hay thi vào
THPT, môn Ngữ văn những năm gần đây đều có câu hỏi, yêu cầu học sinh vận
dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận xã hội ngắn khoảng 300
từ (hoặc một trang giấy thi). Có hai dạng bài cụ thể là: Nghị luận về một vấn đề
tư tưởng đạo lí; Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
Học sinh phải biết bám sát vào quy định trên để định hướng ôn tập và làm
bài thi cho hiệu quả. Ở kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh qua những trải
nghiệm của bản thân, trình bày những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh
giá, thái độ...của mình về các vấn đề xã hội, từ đó rút ra được bài học (nhận thức

xã hội thực sự là một kiểu bài rất có khả năng kích thích tính tư duy sáng tạo
của cả người dạy và người học”- (TS. Nguyễn Văn Tùng)
Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy kiểu bài nghị luận xã hội ở nhà trường
đã gặp không ít những khó khăn:
Về sách giáo khoa:
Trong chương trình Ngữ văn kỳ II lớp 9, có 5 tiết dạy về kiểu bài này. Cụ thể:
Tiết 99: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
Tiết 100: Cách làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
Tiết 108: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý.
Tiết 114,115: Cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
Trong đó, phần lí thuyết được thiết kế một cách chung chung, chưa cụ thể, các
bước làm bài còn sơ sài, thiếu chi tiết ở cả 2 dạng bài, bố cục bài làm cũng còn
mang tính khái quát, chỉ mang tính định hướng chung chung, điều đó đã gây không
ít khó khăn cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học.
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, đề thi học sinh giỏi môn Văn lớp 9
cấp Huyện, cấp Tỉnh, đề thi khảo sát chất lượng học kỳ II của Sở Giáo dục và
Đào tạo, đề thi vào lớp 10 THPT, thường có dạng nghị luận về một vấn đề xã hội
đặt ra trong tác phẩm văn học, tuy nhiên trong sách giáo khoa lại không có bài
học về dạng này, chính vì thế, học sinh không biết cách làm
3


Về phía giáo viên dạy:
Bản thân một số giáo viên cũng có phần lúng túng, vừa dạy vừa học hỏi,
chưa vững kiến thức, kỹ năng, cách làm bài của kiểu bài này, nên chỉ thường
bám vào phần thiết kế trong sách giáo khoa mà chưa có sự đào sâu, cụ thể hóa
từng dạng nghị luận thành các bước làm bài cụ thể cho học sinh.
Về phía học sinh học:
Những năm gần đây học sinh có xu thế ngại học văn, sợ học văn, nhất là văn
nghị luận xã hội, vì đây là một kiểu bài khó, ngoài đòi hỏi kỹ năng về văn nghị luận

7,2
8
28,6
14
50
4 14,2
9B
34
0
0
5
5
18
52,9
11
32,4
Bảng 1: Kết quả khảo sát đầu năm
Từ kết quả bài kiểm tra đầu tiên tôi nhận thấy học sinh còn mắc nhiều hạn
chế khi viết bài nghị luận, nhất là dạng nghị luận xã hội. Xuất phát từ thực tế đó,
tôi đã nghiên cứu những lỗi các em thường mắc phải, nguyên nhân mắc lỗi và từ
đó tôi xin đưa ra một số giải pháp giúp các em khắc phục những hạn chế khi viết
bài văn nghị luận xã hội, từ đó các em viết bài đạt kết quả cao hơn.
3. Các giải pháp.
3. 1. Giáo viên cần phát hiện đúng những hạn chế của học sinh, chỉ ra
được các lỗi thường gặp của học sinh khi viết bài văn nghị luận xã hội.
Đây là một thao tác rất quan trọng. Bởi nếu không chỉ ra đúng các lỗi,
những hạn chế của các em khi viết bài văn nghị luận xã hội thì giáo viên sẽ
không thể đưa ra được biện pháp để khắc phục.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần chú ý tới việc tiếp thu của các em
ngay trong các tiết học cũng nhữ qua quá trình thực hành.Thông thường, khi

Học sinh chưa hiểu cách viết mở bài, kết bài, vì thế thường không biết viết
và viết không trúng, không đúng.
Học sinh chưa thành thạo các thao tác làm bài của kiểu bài này như thao tác
chứng minh, giải thích, bình luận…
3. 3. Từ những nguyên nhân trên, giáo viên có cách khắc phục cụ thể.
3.3.1. Cần giúp học sinh hiểu thế nào là kiểu bài nghị luận xã hội và
phân biệt kiểu bài này với kiểu bài nghị luận văn học.
Nghị luận xã hội thực chất là trình bày quan điểm thái độ của mình về một
vấn đề xã hội nào đó được nêu ở phần đề bài bằng hình thức bình và bàn luận
mở rộng. Từ đó đưa ra bài học cho bản thân, nhận thức được điều gì đó sau khi
bàn luận và tự nêu được hành động hoặc đề xuất biện pháp góp phần làm cho
vấn đề bàn luận tốt đẹp hơn trong cuộc sống. Ví dụ: Em hãy viết một bài nghị
luận ngắn về hiện tượng gian lận trong thi cử của học sinh hiện nay.
Còn nghị luận văn học là dạng đưa ra các vấn đề bàn luận là các vấn đề bàn
bạc về văn học, có thể là tác giả, tác phẩm, ý kiến nhận định về tác phẩm, nhân
vật trong tác phẩm…Ví dụ: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của nhân vật anh thanh
niên trong truyện ngắn “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long ( Sách Ngữ văn
lớp 9, tập 1)
3.3.2. Giúp học sinh nắm vững yêu cầu chung của kiểu bài nghị luận xã hội.
Về nội dung:
Bài làm văn về nghị luận xã hội là một bài tập làm văn mà ở đó yêu cầu học
sinh trình bày được:
5


+ Quan điểm, thái độ của mình về một vấn đề xã hội nào đó (được nêu
trong yêu cầu của đề bài) bằng hình thức bình luận và bàn luận mở rộng.
+ Xác định được bài học cho bản thân trên các khía cạnh: Nhận thức được
gì sau khi bàn luận và tự nêu được hành động hoặc đề xuất những biện pháp góp
phần làm cho vấn đề vừa bàn luận tốt đẹp hơn trong cuộc sống.

Kiểu bài nghị luận về hiện tượng đời sống thường đề cập đến những vấn đề
của đời sống xã hội, những hiện tượng nổi bật, tạo được sự chú ý và có tác động
đến đời sống con người, những vấn đề chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức,…
Yêu cầu của kiểu bài này là học sinh cần làm rõ hiện tượng đời sống (qua
việc miêu tả, phân tích nguyên nhân, các khía cạnh của hiện tượng…) từ đó thể
hiện thái độ đánh giá của bản thân cũng như đề xuất ý kiến, giải pháp trước hiện
tượng đời sống. Học sinh cần có cách viết linh hoạt theo yêu cầu của đề bài, tránh
làm bài máy móc hoặc chung chung. Ngoài việc trang bị cho mình những kỹ năng
làm bài, học sinh cần tích lũy những vốn hiểu biết thực tế về đời sống xã hội..
- Các thao tác lập luận chủ yếu là: phân tích, chứng minh, bác bỏ, bình luận.
6


* Nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học.
Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học là kiểu bài nghị
luận xã hội, không phải là kiểu bài nghị luận văn học. Cần tránh tình trạng làm lạc
đề sang nghị luận văn học. Vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học có thể là một
tư tưởng, đạo lí hoặc một hiện tượng đời sống (thường là một tư tưởng, đạo lí)
Đây là dạng văn khá khó đối với học sinh lớp 9 bởi sự tích hợp giữa vấn đề
xã hội và vấn đề văn học. Điều đó đòi hỏi học sinh phải có kiến thức tổng hợp về
cả hai mảng kiến thức là văn học và xã hội.
Vì là dạng đề kết hợp và vận dụng nhiều thao tác khác nhau: giải thích,
phân tích, chứng minh, bình luận… kiểu văn bản này đòi hỏi học sinh phải linh
hoạt trong từng thao tác làm bài của mình. Ví dụ: Từ nhân vật Phương Định trong
truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê em có suy nghĩ gì về trách
nhiệm của thanh niên hiện nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước?
3.3.4. Hướng dẫn học sinh nắm vững các bước làm bài văn nghị luận
xã hội.( Có giáo án minh họa kèm theo ở phụ lục 2)
Bước 1: Tìm hiểu, phân tích đề..
Phân tích đề là chỉ ra những yêu cầu về nội dung, thao tác lập luận và phạm vi

+ Yêu cầu về nội dung: Hiện tượng cần bàn luận là hiện tượng nào ? Đó là
hiện tượng tốt đẹp, tích cực trong đời sống hay hiện tượng mang tính chất tiêu
cực, đang bị xã hội lên án, phê phán ? Có bao nhiêu ý cần triển khai trong bài
viết ? Mối quan hệ giữa các ý như thế nào?
+ Yêu cầu về phương pháp : Các thao tác nghị luận chính cần sử dụng ?
Giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích, bác bỏ, so sánh,…
+ Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Bài viết có thể lấy dẫn chứng trong văn
học, trong đời sống thực tiễn (chủ yếu là đời sống thực tiễn).
Ví dụ minh hoạ: Nghị luận về vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay.
+ Vấn đề nghị luận : Hiện tượng ô nhiễm môi trường. Đây là hiện tượng
mang tính tiêu cực, ảnh hưởng xấu tới đời sống của con người. Bài viết cần đảm
bảo cấu trúc 4 phần chính : Thực trạng- Nguyên nhân- Tác hại- Giải pháp và bài
học.
+ Học sinh có thể sử dụng kết hợp các thao tác : giải thích hiện tượng, phân
tích bình luận về tác hại của hiện tượng, bác bỏ những quan niệm sai lệch liên
quan đến vấn đề, …
+ Dẫn chứng : Bài viết có thể lấy dẫn từ cuộc sống, tư liệu…
Đối với bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học:
Đối với dạng bài này, học sinh cần xác định:
- Dạng đề.
- Yêu cầu nội dung (đối tượng): Xác định vấn đề cần nghị luận.
- Yêu cầu thao tác lập luận.
- Yêu cầu phạm vi tư liệu, dẫn chứng.
Bước 2: Tìm ý
Bất kì bài văn nào cũng cần tìm ra các ý chính, tìm ra hệ thống luận điểm
chính, khung sườn cho bài văn. Vậy làm thế nào để tìm được ý? Sau khi các em
xác định được kiểu dạng bài nghị luận thì các em bám vào từ khóa để lập ý, các
từ khóa của từng kiểu bài nghị luận học sinh cần bám vào đó là:
Kiểu bài nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống: giải thích(nếu cần), thực
trạng; nguyên nhân; hậu quả; biện pháp.

gia đình, ảnh hưởng tâm lí….)
- Đối với cộng đồng, xã hội; Đối với môi trường xung quanh.
Bước 3: Chỉ ra nguyên nhân ( khách quan và chủ quan)
Khách quan : trường xung quanh, do trào lưu, do gia đình, nhà trường…
Chủ quan: Do ý thức, tâm lí, tính cách, ….của mỗi người
Bước 4: Bày tỏ thái độ, ý kiến đánh giá của người viết về hiện tượng.
Giải pháp : Thông thường mỗi hiện tượng đều xuất phát từ những nguyên
nhân cụ thể, nguyên nhân nào thì đi kèm với giải pháp ấy.
Nêu bài học rút ra cho bản thân : Bài học nhận thức và hành động.
Kết bài:
- Đánh giá chung về sự việc, hiện tượng đời sống đã bàn luận
- Phát triển, mở rộng, nâng cao vấn đề.
Ví dụ: Đề bài, em hãy nghị luận về hiện tượng gian lận trong thi cử của
học sinh hiện nay.
I. Mở bài: giới thiệu vấn đề nghị luận: gian lận trong thi cử
II. Thân bài: nghị lận gian lận trong kì thi
1. Giải thích gian lận trong thi cử là gi:
- Là không trung thực, dối trá trong kì thi, không làm đúng với khả năng
của mình,làm không đúng với tư duy của mình, sai lệch sự thật
2. Hiện trạng gian lận trong kì thi cử hiện nay:
- Gian lận trong thi cử diễn ra ngày càng nhiều và phổ biến.
- Gian lận trong thi cử diễn ra với nhiều hình thức: quay cóp, dung phao, thi
hộ, sử dụng những vật công nghệ hiện đại để xme tài liệu,….
- Các hình thức gian lận ngày càng tinh vi hơn
3. Nguyên nhân dẫn đến gian lận trong thi cử:
- Do học sinh lười học,do cha mẹ háo danh vọng, ép buộc con,nhà trường vì
bệnh thành tích…
4. Hậu quả của gian lận trong thi cử:
- Chất lượng học sinh khi ra trường không đảm bảo chất lượng,
- Làm mất niềm tin vào thế hệ tương lai của đất nước

- Hiến máu nhân đạo là một hành động ý nghĩa
- Là một nghĩa cử cao đẹp của con người
2. Vì sao phải hiến máu nhân đạo:
- Máu là một thứ kì diệu, nuôi sống mỗi con người, không một ai có thể tạo
ra máu
- Thế giới ngày càng phát triển thì hiểm họa đến với con người ngày càng
nhiều như: tai nạn gia thông, tai nạn nghề nghiệp, các ca phẫu thuật trong
bệnh viện,….
- Nhu cầu máu là một nhu cầu cần thiết và cấp bách của con người khi cần
thiết, máu có thể cứu sống một con người
3. Ý nghĩa của việc tham gia hiến máu nhân đạo:
- Một mục tiêu hàng đầu và vô cùng ý nghĩa đó là cứu sống con người
- Hiến máu còn thể hiện tình yêu thương, đùm bọc và chia sẻ với con người
- Cho đi rồi chúng ta sẽ nhận lại, ai dám nói trong đời mình không lần gặp
rủi ro, chính vì thế khi chúng ta cho đi giọt máu của mình sẽ nhận lại được
giọt máu của người khác
- Đây là nghĩa cử cao đẹp và được tổ chức mọi lúc mọi nơi trên đất nước
III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về phong trào hiên máu nhân đạo
- Đây là một nghĩa sử rất cao đẹp
- Chúng ta một lần cũng đi hiến máu
10


* Dạng nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý.
Mở bài:
- Dẫn dăt, giới thiệu tư tưởng, đạo lí cần bàn luận, hướng giải quyết vấn đề.
Thân bài:
Bước 1: Giải thích tư tư tưởng , đạo lí.
Tùy theo yêu cầu đề bài có thể có những cách giải thích khác nhau:
- Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

Thân bài:
1. Giải thích
Học tập: Học và luyện tập để có hiểu biết và kĩ năng.
Cuốn vở: Ghi chép những hiểu biết trong quá trình học tập.
Ý cả câu: Học tập là công việc suốt đời, không ngừng nghỉ.
2. Phân tích – chứng minh
11


Con người chúng ta từ chỗ không biết gì, nhờ quá trình học tập, tích lũy
kinh nghiệm mà có kiến thức - kĩ năng. Công việc ấy tiếp diễn bao đời nay.
Biển học thì vô cùng, không ai có thể khẳng định mình đã nắm chắc mọi
thứ, vì vậy phải liên tục học tập: Lê - nin: "Học, học nữa, học mãi". Đắc – uyn:
"Bác học không có nghĩa là ngừng học"
Thời đại ngày nay, con người có thể học tập bằng nhiều hình thức.
3. Bàn luận – mở rộng
Học tập là cuốn vở không trang cuối: Đó là phương châm sống của những
người cầu tiến, khát khao vươn tới chiếm lĩnh tri thức nhân loại và biết làm cho
cuộc sống của mình có giá trị thực sự.
Phê phán những người tự bằng lòng với sự hiểu biết của mình, tự mãn, tự
phụ hoặc ngại khó, biếng nhác, lười học tập...
Học tập suốt đời là việc phải làm và cần làm nhưng cũng cần có phương
pháp học tập để có kết quả thật tốt.
4. Bài học
Nhận thức: Coi học tập là niềm vui và hạnh phúc của đời mình.
Muốn học tập suốt đời có kết quả cần có ý thức và rèn luyện khả năng tự
học (chìa khóa để học tập suốt đời)
Học để mở mang kiến thức, nâng cao tầm nhìn và để có trình độ, khả năng
phục vụ cho đất nước, cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu của thời đại (điều cần
thiết ở người lao động mới)

Bước 1. Giải thích hai ý kiến, rút ra vấn đề nghị luận
- Hạnh phúc: là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn
một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng.
- Ý kiến 1: cảm giác hài lòng, thoả mãn khi nhận được những điều tốt đẹp,
có ý nghĩa đến với mình ( dù là những điều đơn giản nhất)-> Ý kiến khẳng định
giá trị hạnh phúc ở phương diện tinh thần, trong cảm nhận chủ quan của mỗi
người.
- Ý kiến hai: Hạnh phúc đó là những điều kiện về vật chất và các điều kiện
khách quan khác có khả năng duy trì sự tồn tại và phát triển tốt đẹp của con
người. -> Ý kiến khẳng định giá trị của hạnh phúc ở phương diện vật chất.
Bước 2: Giải thích tư tưởng.
a. Ý kiến 1:
- Khi cảm thấy hài lòng về cuộc sống của chính mình, hạnh phúc sẽ mỉm
cười với ta. ( dẫn chứng)
- Hạnh phúc đến từ những giá trị tinh thần rất giản dị, gần gũi: yêu thương
ai đó, biết sẻ chia niềm vui và nỗi buồn; biết đặt tin yêu vào cuộc sống và chính
mình; biết ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực…( dẫn chứng)
- Nhận ra được giá trị đó, tâm hồn mỗi người trở nên thanh thản, thêm yêu
đời, yêu người, cảm thấy cuộc sống thực sự có ý nghĩa.( dẫn chứng)
b. Ý kiến 2:
- “ Vật chất quyết định ý thức”. Con người nếu không được thoả mãn
những điều kiện nhất định thì khó cảm nhận được niềm hạnh phúc đến với
mình.
- Các yếu tố khách quan cũng rất quan trọng có tác động tích cực hay tiêu
cực đến tâm lí, cảm xúc con người, khiến ta thấy hạnh phúc hay ngược lại.
Bước 3: Bàn luận, mở rộng - Hai ý kiến trên không hề mâu thuẫn nhau mà
bổ sung, hoàn thiện cho nhau. Đó chính là hai mặt của một vấn đề - yếu tố chủ quan
của cảm nhận, khách quan của hoàn cảnh, tạo nên niềm hạnh phúc trọn vẹn cho con
người.
- Thực tế đôi khi hai yếu tố lại chuyển hoá cho nhau:

Nếu vấn đề xã hội xác định là hiện tượng đời sống thì các em sẽ vận dụng
theo các bước.
- Khái niệm
- Thực trạng (tích cực, tiêu cực)
- Hậu quả
- Nguyên nhân
- Giải pháp
- Liên hệ bản thân.
Kết bài:
- Đánh giá ngắn gọn, khái quát về vấn đề xã hội đã bàn luận.
- Phát triển, liên tưởng, mở rộng, nâng cao vấn đề.
Ví dụ: Đề bài: Trong bài thơ Nói với con, tác giả Y Phương có viết:
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
(Nói với con, Y Phương, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB GDVN, 2016)
Từ ý thơ trên, hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 30 dòng) trình bày
suy nghĩ của em về cách thể hiện tình yêu quê hương của mỗi con người.
Mở bài: Giới thiệu vai trò của quê hương, cách thể hiện tình yêu đối với
quê hương, trích dẫn ý thơ của Y Phương.
* Giải thích, rút ra vấn đề nghị luận:
- Hai câu thơ trên của Y Phương là lời người cha nói với con về ý chí nghị
lực và khát vọng xây dựng quê hương của người đồng mình. Họ xây dựng quê
hương bằng chính sức lực và sự bền bỉ của mình : Tự đục đá kê cao quê hương
=> Đó cũng chính là cách thể hiện tình yêu quê hương của mỗi con người.
* Bàn luận về cách thể hiện tình yêu quê hương:
- Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên, có gia đình, có nhiều kỉ niệm thời thơ
ấu, là nơi gắn bó máu thịt với chúng ta trong quá trình trưởng thành, là nguồn
cội của mỗi con người. Hình bóng quê hương đi theo con người suốt cả cuộc
đời, trở thành điểm tựa về tinh thần của con người trong cuộc sống. Nếu thiếu đi
điểm tựa này, cuộc sống của con người trở nên chông chênh, lệch lạc.

* Hướng dẫn viết mở bài: Học sinh rất lúng túng khó khăn khi viết mở
bài vì chưa biết cách để viết tốt phần mở bài nên giáo viên cần hướng dẫn học
sinh viết mở bài thật kỹ lưỡng..
Mở bài là đoạn văn khởi đầu cần giới thiệu được vấn đề nghị luận đã được
đặt ra ở phần đề bài để phần thân bài sẽ đi giải quyết. Vì thế mở bài không được
lấn sâu vào phần thân bài như giải thích, nhận xét, đánh giá.
Ví dụ viết phần mở bài cho đề sau: Suy nghĩ về đức hi sinh.
Con người Việt Nam đã từ lâu có nhiều phẩm chất đạo đức tốt đẹp như nhân
nghĩa, thủy chung, cần cù, chăm chỉ, dũng cảm…Một trong những phẩm chất
tốt đẹp ấy đó là đức hi sinh. Vậy chúng ta nên hiểu thế nào về đức tính này tôi
và các bạn cùng bàn luận nhé.
*Hướng dẫn viết thân bài:
Phần thân bài bao hàm nhiều ý để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận (nhiều luận
điểm) mỗi luận điểm là một đoạn văn, đoạn văn ấy phải đúng quy cách.
Giữa các đoạn văn (các luận điểm) cần có sự liên kết, chuyển ý, chuyển
đoạn nhịp nhàng bằng các phép liên kết đã học để bài văn mượt mà, tránh gò bó,
máy móc, công thức.
Ví dụ viết đoạn văn giải thích đức hi sinh là gì?
15


Trước tiên ta cần hiểu thế nào là đức hi sinh? “Đức”ở đây là nói đến một đạo
đức, đức tính tốt đẹp trong cuộc sống. “Hi sinh”là chịu thiệt, nhận phần thiệt
thòi về mình để cho người khác hưởng những điều tốt đẹp. Hi sinh mang ý nghĩa
cao cả, cống hiến những điều mà bản thân đang có cho người khác vì mục đích
cao đẹp. “Đức hi sinh” là sự cống hiến, hi sinh bản thân mình vì người khác, vì
nghĩa lớn. Người có đức hi sinh là người biết đặt lợi ích của người khác cũng
như lợi ích của đất nước lên trên lợi ích của chính mình, sẵn sàng đối đầu với
mọi gian khổ khó khăn vì mục đích cao cả tốt đẹp mà mình hướng tới. Có thể
nói sự hi sinh vì lí tưởng cao đẹp là thứ vĩ đại, thiêng liêng và đẹp đẽ nhất trên

Con người phải biết hoà mình vào tập thể mới đứng vững, mới phát huy hết
khả năng, mới có điều kiện để phát triển.
- Trả lời câu hỏi : Tại sao lại như vậy ?
+ Cuộc sống có nhiều khó khăn, vất vả; mỗi cá nhân không thể làm mọi
việc, đáp ứng mọi nhu cầu.
16


+ Bước vào tập thể, con người học tập sẻ chia, giúp đỡ, động viên nhau xây
dựng tập thể vững mạnh trong đó các cá nhân đầu được đáp ứng nhu cầu.
+ Cá nhân và tập thể có mối quan hệ khăng khít : cá nhân xây dựng nên tập
thể, tập thể tạo điều kiện cho cá nhân phát triển.
Trên cơ sở giải thích ý nghĩa của lời dạy, giải thích ý nghĩa của vấn đề xã hội
được đưa ra bàn luận : Vai trò cũng như mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể.
Thao tác chứng minh
Chứng minh là đưa ra các cứ liệu, dẫn chứng xác đáng để làm sáng tỏ một
lí lẽ, một ý kiến; làm sáng tỏ vấn đề xã hội đang bàn luận, thuyết phục người
đọc, người nghe tin tưởng vào vấn đề đang được nghị luận.
Để chứng minh, trước hết người viết cần phải hiểu về điều cần chứng minh.
Chứng minh làm sáng tỏ cho những thao tác giải thích trước đó cũng như chứng
minh cho những luận điểm,luận cứ trong bài viết. Để dẫn chứng và lí lẽ có sức
thuyết phục cao, phải sắp xếp chúng thành một hệ thống mạch lạc và chặt chẽ
theo các mặt của vấn đề, theo trình tự thời gian, không gian, từ xa đến gần, từ
ngoài vào trong... cho hợp lý và lôgíc.
Ví dụ : Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để giảm thiểu tai nạn
giao thông.
“Những thực tế đau buồn về tình hình tai nạn giao thông đã phản ánh tầm
quan trọng của vấn đề. Mỗi ngày đi qua lại có tới hơn ba mươi người chết và bị
thương do tai nạn giao thông. Trong vài năm gần đây, trong chương trình “ Chào
buổi sáng” có thêm chuyên mục “ An toàn giao thông”. Đó là bởi tình hình tai

Bằng thao tác bình luận, người viết thể hiện ý kiến của mình đối với vấn đề
xã hội được đưa ra nghị luận: đồng ý hay không đồng ý;đồng ý ở những nội
dung, khía cạnh nào; sau đó, bình luận - mở rộng vấn đề hơn, toàn diện và triệt
để hơn. Cuối cùng cần chỉ ra phương hướng vận dụng vào cuộc sống.
Ví dụ:“Là học sinh, chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ và bổn phận của
mình, luôn tự nhắc nhở bản thân: “đường đi không khó vì ngăn sông cách núi
mà khó vì lòng người ngại núi, e sông”. Nói như vậy có nghĩa là, nhiệm vụ
chính của chúng ta là học tập, sẽ không có lí do gì để chúng ta không cố gắng
học tốt. Chỉ có tích cực trau dồi kiến thức, mỗi người trẻ tuổi mới có thể trở
thành những chủ nhân có ích cho đất nước. Vì vậy, hãy cố gắng ở mức cao nhất
để trở thành những con người ưu tú, có ích cho cộng đồng”.
3.3.6. Rèn cho học sinh kĩ năng xác định luận điểm, triển khai luận cứ.
Khi làm kiểu bài này, các em thường không biết xác định luận điểm, triển khai
luận cứ, vì thế bài viết mơ hồ, không rõ ràng. Vì thế giáo viên cần hướng dẫn học
sinh kỹ năng này. Các em cần dựa vào dàn ý chung của kiểu bài nghị luận để xây
dựng luận điểm. Ví dụ dạng nghị luận về tư tưởng đạo lí, thông thường, kiểu bài này
sẽ có những luận điểm chính sau:
Luận điểm 1: Giải thích tư tưởng đạo lí
Luận điểm 2: Giải thích, chứng minh tư tưởng đạo lí, phê phán những biểu
hiện sai lệch liên quan đến vấn đề
Luận điểm 3: Bàn luận, mở rộng vấn đề.
Luận điểm 4: Bài học rút ra
Để làm sáng tỏ cho luận điểm lớn, người ta thường đề xuất các luận điểm nhỏ.
Một bài văn có thể có nhiều luận điểm lớn, mỗi luận điểm lớn lại được cụ thể hoá
bằng nhiều luận điểm nhỏ hơn.Tuỳ vào từng đề bài, học sinh có thể triển khai những
luận điểm nhỏ hơn.
Kiểu bài nghị luận về hiện tượng đời sống thường dễ xác định luận điểm, luận
cứ. Học sinh chỉ cần nắm vững dàn ý chung là có thể tìm được các luận điểm phù
hợp cho từng đề cụ thể. Thông thường bài văn sẽ có các luận điểm sau :
Luận điểm 1 :Thực trạng

hơn Bác còn là người biết hy sinh mình cho tổ quốc nhân dân. -> Khó khăn không
làm cho ý chí lung lay mà ngược lại còn giúp cho con người có nghị lực hơn.
Dùng những con số biết nói để làm dẫn chứng. VD: Tính trên toàn thế
giới, số người nhiễm HIV hiện nay là 45 triệu người. Trong đó 50% là phụ nữ.
Có khoảng 14 triệu trẻ em trên thế giới có cha mẹ, hoặc cả cha mẹ qua đời vì
HIV/AIDS.
Dẫn chứng trong các tác phẩm văn học.VD: Về nghị lực sống: nhân vật
Giôn –xi trong tác phẩm Chiếc lá cuối cùng của Ô – hen – ri; về tình bạn: Xiu và
Giông – xi; về tình thương người: cụ Bơ – men.
Dẫn chứng từ lịch sử hào hùng của dân tộc. VD: Về lý tưởng sống của
thanh niên, về lòng dũng cảm, lòng yêu nước...ví dụ như các anh hùng dân tộc:
Phan Đình Giót, Võ Thị Sáu...
4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm đạt được.
Sau khi áp dụng đề tài này vào thực tế giảng dạy, chất lượng làm bài văn
nghị luận xã hội của học sinh mà lớp tôi trực tiếp giảng dạy đã nâng cao rõ rệt.
Giờ đây các em đã làm bài đúng hướng, bám sát vào thực tế đời sống cũng biết
rút ra những bài học cho bản thân mình. Các em đã hiểu bản chất của kiểu văn
này, không thấy khó và viết văn không bị khô khan như trước nữa. Biết lấy dẫn
chứng từ thực tế cuộc sống đời thường để đưa vào bài ; nhiều bài đã có sức hút
và lay động được người đọc. Đặc biệt các em đã biết phân biệt hai kiểu bài nghị
luận xã hội: nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về một
tư tưởng, đạo lí.Các em đã khắc phục được những hạn chế khi viết kiểu bài này,
từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường.

19


Cũng nhờ áp dụng đề tài này mà trong năm học 2017-2018 chất lượng của
các bài thi về dạng bài này được nâng lên rõ rệt. Cụ thể là thông qua bài khảo sát
( phụ lục 4), kết quả thu được như sau :

20,6
Đồng thời, qua trao đổi, thảo luận với đồng nghiệp, đề tài đã giúp cho các
giáo viện bộ môn Ngữ văn trong nhà trường có thêm nhiều kinh nghiệm,
phương pháp giảng dạy kiểu bài này, nhất là đối với công tác ôn thi học sinh giỏi
lớp 8,9 và ôn thi vào lớp 10 THPT cũng như chuyên Lam Sơn.
PHẦN III: KẾT LUẬN-ĐỀ XUẤT
1, Kết luận:
Để rèn luyện học sinh khắc phục được những hạn chế khi làm bài nghị luận
xã hội, tôi đã mạnh dạn đưa ra những biện pháp cụ thể như trên, với mong muốn
giúp các em biết viết tốt bài nghị luận xã hội và đặc biệt là có một cái nhìn và
cách sống toàn diện hơn, biết đưa môn Văn gắn liền với đời sống của mình hơn.
Không chỉ học để nắm tốt các bài giảng trên lớp mà các em còn biết vận dụng
vào thực tế đời sống, biết chuyển lí thuyết thành việc làm, hành động cụ thể.
Biết yêu quê hương, yêu con người, yêu cuộc sống; biết vượt lên trên hoàn cảnh
khó khăn; có tinh thần tự học để thành công trong cuộc sống và biết cách bảo vệ
môi trường sống xung quanh.... Ngoài kiến thức về văn học, cách làm bài nghị
luận xã hội còn phải biết quan tâm, đến đời sống xung quanh, biết nhìn nhận sự
việc, hiện tượng đời sống đến những đạo lí làm người.
Kinh nghiệm mà tôi đã trình bày là rút ra từ thực tế hướng dẫn học sinh qua
nhiều năm giảng dạy, và thu được kết quả khả quan trong các kì thi, từ kiểm định
chất lượng đến thi chuyển cấp, nhất là thi học sinh giỏi cấp Huyện, cấp tỉnh. Hy
vọng nó sẽ là một tư liệu hữu ích cho một số học sinh hiện nay và gợi thêm một
cách dạy cho giáo viên. Qua áp dụng đề tài này vào thực tế giảng dạy tôi đã thấy
được việc khác phục những hạn chế khi làm bài nghị luận xã hội cho học sinh lớp
9, giáo viên cần phải :
- Căn thời gian phân chia nội dung kiến thức theo chủ đề và hướng dẫn rèn
luyện cho học sinh cách làm bài cụ thể, phù hợp với đối tượng học sinh.
- Khi dạy phải giúp học sinh nắm chắc dạng bài này, đồng thời cần hướng
dẫn kĩ cho học sinh kĩ năng diễn đạt tốt các luận điểm, kĩ năng chuyển tiếp, liên
kết các luận điểm, các phần, các đoạn trong bài, sử dụng các dẫn chứng phù hợp.

2. Sách giáo viên Ngữ Văn 9.
3. Chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ Văn tập 2.
4. Muốn làm bài được văn hay- Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên
5. Hướng dẫn làm các bài văn nghị luận lớp 9.

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status