LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH (Khóa luận tốt nghiệp) - Pdf 51

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ NHẬT HOÀNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH
QUẢNG BÌNH

NGÀNH: LUẬT HỌC
NIÊN KHÓA: 2014 – 2018

Quảng Bình, năm 2018


ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH
QUẢNG BÌNH

Ngành: Luật học
Niên khóa: 2014 – 2018

SINH VIÊN THỰC HIỆN: LÊ NHẬT HOÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: T.S TRẦN THỊ SÁU

Quảng Bình, năm 2018


Hiệp định tương trợ tư pháp

BLDS

Bộ luật dân sự

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

LHNGĐ

Luật Hôn nhân gia đình

ĐƯQT

Điều ước quốc tế

TTLT

Thông tư liên tịch


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu ................................................................................ 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 4

Việc ủy thác thu thập chứng cứ ................................................ 47

2.3.2.

Về thời gian thực hiện ủy thác tư pháp ..................................... 49

2.3.3.

Về kinh phí thực hiện ủy thác tư pháp ...................................... 51

2.3.4.

Về địa chỉ của đương sự ở nước ngoài ..................................... 51

2.4 Đánh giá công tác giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài .................. 52
2.4.1 Kết quả tích cực ............................................................................. 52
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế ............................................ 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI QUYẾT
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI CỦA TÒA ÁN ............................ 61
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật ............................................................. 61
3.1.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về tố tụng dân sự ........... 61
3.2.2 Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về nội dung ................... 63
3.3.3 Tăng cường ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp ...................... 64


3.2 Nâng cao năng lực giải quyết của đội ngũ thẩm phán .......................... 65
3.3 Giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật .................................................. 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 72



Từ đó gia tăng số lượng các vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài, việc nghiện cứu
về ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng theo đó mà trở thành một yêu cầu vô
cùng cấp thiết.
Theo pháp luật Việt Nam, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền
giải quyết ly hôn, còn với giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thì
Tòa án nhân tỉnh hoặc Tòa án nhân dân thành phố trực thuộc trung ương sẽ là
cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Tại tỉnh Quảng Bình, cơ quan duy nhất có
thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài chính là Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Bình. Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn xét xử các vụ án ly hôn
có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua
cho thấy, hàng năm TAND tỉnh Quảng Bình đã thụ lý và giải quyết rất nhiều
vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài. Nhiều vụ án được giải quyết chưa thực
sự có tính thuyết phục cao, thủ tục giải quyết còn rườm rà và phức tạp, thời
gian giải quyết còn bị kéo dài. Sở dĩ còn tồn tại những bất cập trên là do nhiều
nguyên nhân, có nguyên nhân khách quan, có nguyên nhân chủ quan. Nhiều
người vẫn quan niệm rằng việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng
chỉ đơn thuần như giải quyết ly hôn bình thường mà không biết đến hoạt động
tố tụng để giải quyết một vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng được pháp
luật quy định riêng và có rất nhiều vấn đề phát sinh liên quan xung quanh các
hoạt động này.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: " Ly hôn có yếu
tố nước ngoài, thực tiễn tại tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình " để làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình. Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng về
phương diện lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay, nhất là với bối cảnh
tỉnh Quảng Bình.

2



hạn chế và bất cập trong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Nâng cao nhận thức về ly hôn có yếu tố nước ngoài, đồng thời qua đề
xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng giúp ích cho hoạt động
của ngành tòa án trong việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài.
 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đưa ra quan niệm về ly hôn có yếu tố nước ngoài
Thống kê nguyên nhân của các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài dựa
trên thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
Tìm hiểu thực tế giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước
ngoài từ đó đề xuất kiến nghị để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu
Các quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Trình tự, thủ tục giải giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước
ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về nội dung: Ly hôn có yếu tố nước ngoài là một vấn đề rộng,
do vậy trong khóa luận này tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề như lý
luận về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử các vụ án
ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, bên cạnh

4


đó tác giả đưa ra một số kiến nghị về sửa đổi một số quy định của pháp luật
trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Giới hạn về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2017
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin;

công cụ đảm bảo thực hiện quyền tự do đó. Quyền ly hôn là quyền tự do về
dân sự. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền ly hôn gắn liền với thủ tục, thẩm
quyền, và sự kiểm soát giải quyết việc ly hôn của cơ quan nhà nước. Giải
quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc áp dụng pháp luật để giải quyết ly
hôn trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc xung đột pháp luật trong tư pháp quốc
tế.
6


Mặt khác, việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài phải dựa trên cơ
sở những quy định của pháp luật về đảm bảo lợi ích chung của gia đình, của
con cái, dựa trên căn cứ ly hôn, việc giải quyết ly hôn không dựa vào lỗi của
các bên, mà dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân. Bởi vì trong quan hệ hôn
nhân giữa vợ và chồng có thể sẽ phát sinh nhiều mâu thuẫn, các mâu thuẫn có
thể được giải quyết và đây sẽ không phải là nguyên nhân làm thay đổi bản
chất của một quan hệ hôn nhân. Nhưng ngược lại có một số mâu thuẫn không
thể nào tìm ra được hướng giải quyết ổn thỏa giữa người vợ và người chồng,
dẫn đến một hệ quả tất yếu là thay đổi bản chất của quan hệ hôn nhân, sự đổ
vỡ của quan hệ hôn nhân đó là không thể tránh khỏi. Do vậy, về thực chất hôn
nhân đã bị phá vỡ trong nội tại, việc Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ có
thể là việc ghi biên bản sự tan vỡ bên trong của nó.
Theo pháp luật Việt Nam cơ sở để chấm dứt quan hệ vợ chồng về mặt
pháp lý là một bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp
luật. Vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly
hôn. Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân, gắn liền với vợ chồng, do vợ
chồng tự mình thực hiện mà không thể chuyển giao cho người khác, vì vậy
quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng là cơ sở để Toà án xem xét việc giải quyết
ly hôn, nhưng Tòa án có giải quyết cho vợ chồng ly hôn hay không phải dựa
vào căn cứ ly hôn được pháp luật quy định.
Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đưa ra khái niệm

phân loại người nước ngoài theo các cơ sở sau:
- Dựa vào cơ sở quốc tịch: Người nước ngoài là người không có
quốc tịch Việt Nam. Họ có thể mang quốc tịch một nước khác, một vài nước
khác hoặc không mang quốc tịch nước nào.

8


- Dựa vào nơi cư trú: Người nước ngoài có thể cư trú trên lãnh thổ
Việt Nam và cũng có thể cư trú ngoài lãnh thổ Việt Nam.
- Dựa vào thời gian cư trú: Người nước ngoài có thể tạm trú hay
thường trú trên lãnh thổ Việt Nam.
Còn theo quy định tại khoản 3 điều 3 Luật Quốc tịch 2008 thì Người
Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam
cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.
Có sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước
ngoài. Đối với những quan hệ này, yếu tố chủ thể là công dân nước ngoài và
người không quốc tịch không phải là yếu tố quyết định đến bản chất của vụ án
ly hôn. Mà xét trong trường hợp các bên chủ thể tham gia đều là công dân
Việt Nam, nhưng nếu sự kiện pháp lý là chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở
nước ngoài, thì quan hệ đó là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn ở nước ngoài: Tương tự như yếu
tố thứ hai, mặc dù chủ thể của quan hệ là công dân Việt Nam nhưng tài sản
liên quan đến quan hệ không nằm trên lãnh thổ Việt Nam mà ở nước ngoài,
thì quan hệ đó cũng được coi là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Từ các dấu hiệu trên, ta có thể thấy ly hôn có yếu tố nước ngoài theo
pháp luật Việt Nam là quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; giữa
công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để chấm dứt quan hệ đó theo pháp
luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn ở nước ngoài; và

Khi giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài một số kiểu
hệ thuộc cơ bản áp dụng đó là:

10


- Luật nhân thân: bao gồm luật nơi cư trú và luật quốc tịch và được
áp dụng theo thứ tự:
+ Pháp luật nơi cư trú của đương sự, như trong vụ án ly hôn có yếu
tố nước ngoài mà hai vợ chồng xin ly hôn họ không có quốc tịch Việt Nam
nhưng họ cùng thường trú tại Việt Nam thì việc ly hôn của họ được giải
quyết theo pháp luật Việt Nam. Trường hợp một trong hai người là công dân
Việt Nam nhưng họ không thường trú tại Việt Nam mà nơi thường trú chung
của họ là ở nước ngoài thì áp dụng pháp luật của nước nơi họ thường trú
chung để giải quyết.
+ Luật quốc tịch: là pháp luật nước mà đương sự mang quốc tịch.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì khi giải quyết vụ án ly hôn có yếu
tố nước ngoài việc xác định luật áp dụng căn cứ vào quốc tịch Việt Nam, nếu
vợ chồng không có nơi thường trú chung và một trong hai người có quốc tịch
Việt Nam thì áp dụng pháp luật của Việt Nam để giải quyết việc ly hôn.
+ Luật nơi có tài sản: trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài nhiều
trường hợp khi giải quyết vụ án đó mặc dù có thể đương sự không ở nước
ngoài nhưng tài sản tranh chấp ở nước ngoài, nên khi giải quyết cần phải
xem xét để áp dụng pháp luật một cách chính xác.
Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài liên quan đến nguồn
pháp luật điều chỉnh quan hệ này, do đó cơ sở pháp lý mà Tòa án áp dụng để
giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tùy từng trường hợp cụ thể Tòa
án áp dụng hệ thống pháp luật để điều chỉnh cho phù hợp.
Điều ước quốc tế: Trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài thì
ĐƯQT được coi là nguồn quan trọng điều chỉnh các quan này. Theo quy

văn bản pháp luật khác cũng là nguồn quan trọng trong đó có các quy định
12


điều chỉnh quan hệ này như: Luật quốc tịch Việt Nam; Nghị định số
68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của LHNGĐ năm 2000 về quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài; Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 quy
định chi tiết thi hành một số điều của LHNGĐ về quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài; Thông tư số 07/2002/TT-BTP ngày
16/12/2002 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị
định số 68/2002/NĐ-CP; TTLT số 15/2011/TTLT-BTP- BNG-TANDTC
ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, TANDTC hướng dẫn áp
dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật
Tương trợ Tư pháp; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và
gia đình; Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một
số điều của NĐ 68/CP; gần đây nhất là thông tư liệ tịch số 12/2016/TTLTBTP-BNG-TANDTC Quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp
trong lĩnh vực dân sự; HĐTTTP; các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết, tham
gia và một số văn bản pháp luật liên quan khác.
Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài trong đó việc ly hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với
nhau thường trú tại Việt Nam áp dụng LHNGĐ. Đối với trường hợp bên
là công dân Việt Nam nhưng thời điểm ly hôn họ ở nước ngoài thì khi giải
quyết ly hôn phải tuân thủ pháp luật nước nơi thường trú chung của vợ
chồng, nếu họ không có nơi thường trú chung thì áp dụng pháp luật Việt
Nam. Việc giải quyết ly hôn mà có yêu cầu giải quyết về tài sản là bất
động sản thì phải tuân thủ pháp luật nước nơi có bất động sản.
Những văn bản trên là cơ sở pháp lý quan trọng và cần thiết để điều



ngoài tại Tòa án. Tòa án tiến hành giải quyết qua nhiều thủ tục tố tụng
khác nhau như: Nhận đơn khởi kiện; Thụ lý vụ án, điều tra; Xác minh, thu
thập chứng cứ; Hòa giải; Chuẩn bị xét xử; Đưa vụ án ra xét xử; Ra bản án,
quyết định.
Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thì
việc xác định thẩm quyền giải quyết, quyền khởi kiện, điều kiện khởi
kiện, tư cách đương sự là công việc tối quan trọng, đây là tiền đề cho các
giai đoạn tố tụng tiếp theo.
Về xác định tư cách người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn: là người khởi kiện, nguyên đơn trong vụ án ly hôn
nguyên đơn phải là vợ hoặc chồng, Tòa án chỉ thụ lý vụ án ly hôn trên cơ
sở sự tự nguyện yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng.
Nếu thiếu sự tự nguyện yêu cầu ly hôn thì Tòa án không giải quyết cho ly
hôn vì có thể là do bị cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, thuận tình ly hôn
giả để che dấu một nội dung khác.
Bị đơn: là người bị nguyên đơn khởi kiện, trong vụ án ly hôn bị đơn
có thể là vợ hoặc chồng bị nguyên đơn khởi kiện.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: là trường hợp những người
tham gia tố tụng trong vụ án ly hôn tuy không có đơn khởi kiện, không bị
kiện nhưng việc giải quyết vụ án ly hôn có liên quan đến quyền lợi, nghĩa
vụ của họ mà Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng (khoản 4 điều 68
BLTTDS 2015). Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan pháp luật
chia thành người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập, họ có thể
đứng về phía nguyên đơn hoặc đứng về phía bị đơn.
Người đại diện của đương sự: Ly hôn là một quan hệ đặc biệt, do vậy
15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status