Phối hợp màu sắc trong nhiếp ảnh
Phần 3 - Lưa chọn và sử dụng
- Màu như một chủ thể:
Một bức ảnh mà màu sắc có mặt trong đó một cách ngẫu nhiên rất
khác biệt với một bức ảnh mà màu sắc đựợc chọn như một chủ thể và
đóng vai trò quan trọng. Đây là một lĩnh vực hơi nguy hiểm và đầy rẫy
những cạm bẫy sáng tạo. Sẽ dễ dàng lôi cuốn sự chỉ trích nếu ta thử phân
biệt giữa màu sắc và một chủ thể "bằng xương bằng thịt". Do tính trừu
tượng và không chính xác của các phương tiện đánh giá nên có rất nhiều
ý kiến khác nhau, ví dụ trong giới hạn nào mà màu sắc có thể trở thành
chủ thể trong một bức ảnh, đó thực sự là một vấn đề quan điểm.
John Szarkowski nghĩ rằng một trong 2 "thất bại" chính là ưu tiên
"mối liên hệ hòa hợp giữa các màu đẹp" (thất bại thứ 2 đơn giản là không
quan tâm đến, giống việc chụp hình màu như chụp trắng đen). Ta không
chắc là một bức ảnh "đẹp" và "hài hòa dễ chịu" là một điều không tốt,
nhưng ít ra các phẩm chất này không bị các lời chỉ trích "nhòm ngó" tới.
Để kết luận thì một mảng màu đẹp không đủ làm nên một bức ảnh vì kết
quả sẽ cho ra, giống như Bob Morley một giám đốc nghệ thuật nói, "một
bức ảnh tìm kiếm chủ đề". Mệnh đề có lẽ hơi rộng nhưng vấn đề là hiện
hữu.
Chúng ta có thể xác định được mức độ quan trọng của màu sắc
trong những bức ảnh đi từ trắng đen cho đến những bức ảnh tồn tại bởi vì
màu và nếu không có màu thì chúng không có lí do đề tồn tại. Ta dễ dàng
thử nghiệm bằng các phầm mềm sửa ảnh như photoshop bằng cách biến
chúng thành đơn sắc hay désaturation.
Vậy ai có thể phán xét? tất nhiên là các nhà nhiếp ảnh. Nhưng các
quan điểm về màu rất đa dạng và không giới hạn. Một lời bình luận trịch
thượng của Szarkowski "Phần lớn trong các bức ảnh màu hoặc không có
hình thể, hoặc đẹp" cũng phản ánh được quan điểm của ông. Nhà nhiếp
ảnh Magnum Ian Berry thì cho rằng ông chỉ chụp hình trắng đen ngay cả
khi dùng các cuộn phim màu (cần cho các tạp chí). Là một nhiếp ảnh gia
nhiếp ảnh gia như một cá nhân. Nó dễ dàng hơn khi áp dụng vào các tác
phẩm mang tính tập thể, các tác phẩm trong các trường đào tạo, hoặc của
các trào lưu.
Đối với tôi (Michael Freeman), hãy giới hạn định nghĩa của phong
cách ở cách thức mà các nhiếp ảnh gia xử lý màu sắc. Điều quan trọng là
phải biết thử nghiệm và phân biệt với "phong cách của kĩ thuật", nó dễ xác
định hơn và thường xuyên bị lẫn lộn với phong cách. Tôi nói là hãy thử
nghiệm vì cả hai đều không được định nghĩa rõ ràng và kĩ thuật (ví dụ
dùng flash để giảm bóng đổ, tăng cường các vùng màu tươi) là gốc của
việc xây dựng một phong cách.
Trong nhiếp ảnh, kĩ thuật để xử lí màu sắc rất dễ hiểu và dễ sử
dụng. Một số là kết quả của trình tự xử lí trong Photoshop, lựa chọn và
biến đổi các màu. Số khác là thành quả của việc quan sát-cách thức chọn
lựa các tổ hợp màu trong bố cục. Bất kể các kĩ thuật được dùng, chúng
hình thành nên phong cách qua các bài tập về chọn lựa và đánh giá sáng
tạo. Các họa sĩ như Van Gogh, Matisse hay Francis Bacon là các ví dụ tốt.
Trong số các nhiếp ảnh gia, có nhiều người chuyên gia về màu nổi
tiếng mà ta nhìn nhận ngay các tác phẩm của họ. Theo trật tự chung, hoặc
họ tự tạo cho mình một phong cách màu riêng, hoặc họ lựa chọn một
phong cách phù hợp. Trong những người nổi tiếng, dẫn ra vài người như
Joel Meyerowitz, Jan Groover, Ernst Haas, Martin Parr, Alex Webb và Eliot
Porter, tất cả đều có một phong cách khác biệt.
Cuối cùng, ta có thể nói là các phong cách có giới hạn của nó, một
nhiếp ảnh gia tài năng phải biết trừu tượng hóa chúng và cặm cụi chăm
chỉ trong nhiều kĩ thuật khác nhau, tùy theo hoàn cảnh và công việc đòi hỏi.
Phong cách nhiều khi đơn giản trong cách nhìn của người xem nhiều hơn
là trong cảm nhận của người chụp
Phong phú về màu: khi hoàn cảnh cho phép, một cảnh đầy màu sắc
cho cảm giác thích thú không thể sánh được và thể hiện một lựa chọn về
cũng như từ các tạp chí màu như National Geographic và GEO.
Từ nguồn gốc, các màu bão hòa và tương phản gắn liền với
Kodachrome. Khi phim Kodac được chụp hơi thiếu sáng, màu sắc ảnh trở
nên rất rực rỡ. Kĩ thuật này trở nên rất thông dụng trong làng nhiếp ảnh
chuyên nghiệp. Với người dùng thì phim Kodachome khiến nhiếp ảnh màu
trở nên rất cuồng nhiệt đam mê, nhưng với dân phê bình nghệ thuật thì
đây thực sự là một tai họa. Peter Turner tuyên bố: "chính nhờ vào độ bão
hòa các màu sắc phong phú đã làm tôi trở nên nổi tiếng, không có Kodak
thì không bao giờ tôi có thể đạt được các kết quả tương tự". Cùng lúc đó
Haas được mệnh danh là "Papanini (tên một nhạc sĩ nổi tiếng Ý) của
Kodachrome". Szarkowski, không hề dấu diếm quan điểm chống lại loại
nhiếp ảnh màu mè tầm thường này, đã phê bình Haas: "Màu sắc trong
nhiếp ảnh thường được dùng làm bình phong trang trí không có giá trị
giữa người xem và chủ đề của bức ảnh". Haas sau đó tìm cách sửa chữa
vấn đề bằng cách thể hiện được cảm xúc màu sắc của các chủ đề trong
thế giới của ông. William Eggleston, đối lại với Haas, cũng sử dụng cùng
ngôn từ khi thể hiện các chủ thể như "một cái cớ để tạo dựng một bức ảnh
màu".
Phim Fuji Velvia ra đời đã giải phóng Kodachrome khỏi các màu sắc
bão hòa. Rất thú vị khi thấy ảnh hưởng của các nhãn hiệu phim chụp lên
các phong cách màu sắc, sau đó là thời đại kĩ thuật số. Các hiệu quả đó
dù là mong muốn hay không , hiện tại có thể đo lường chính xác theo độ
bão hòa và tương phản, hoàn toàn làm chủ được. Các màu phong phú,
ánh sáng rực rỡ của hoàng hôn, ánh cầu vồng, ánh sáng mờ ảo, các tia
nắng xuyên qua bóng tối đã tạo nên tính cách tích cực, các hiệu quả đó
trở nên hoàn toàn thông dụng và dễ đạt được
Các chai dầu cọ trong một buổi chợ ở Soudain có thể được chụp
bằng nhiều cách thức. Ở đây màu sắc, được tăng cường bằng bố cục
khép chặt, filtre và ánh sáng ngược, là điểm trọng tâm của bức ảnh
chiều tối hay khi trời có mây che phủ. Việc đặt kế cận các màu và bố cục
cũng quan trọng như trong nhiếp ảnh màu sắc mạnh, nhưng phải được dự
kiến khác, cách thức tinh tế hơn thậm chí chậm hơn. Nhiếp ảnh KTS đã
chuyển các công việc đó về post-production nên đã giải phóng người chụp
được tự do hơn.
Một trong những kĩ thuật của màu sắc nhã nhặn là làm việc với các
bảng màu giới hạn hơn, do đó cũng áp đặt một vài tính nhất quán cho bức
ảnh bằng cách lựa chọn chụp những màu ít nhiều tương tự nhau (về sắc
màu, độ bão hòa hay độ sáng). Ở những nhiếp ảnh gia của "Màu sắc mới"
(một trào lưu màu sắc nhã nhặn), Joel Meyerowitz đã thực thiện một série
ảnh phong cảnh rất thảnh công xung quanh Cape Cod bằng cách tập
trung vô tính nhất quán về ánh sáng. Một ngày, ông ta bị hớp hồn bởi màu
xanh dương của cảnh chụp và tuyên bố: "... màu xanh đó, bức xạ, sâu
thẳm. Nó phát tỏa ra từ tất cả những màu xanh tổng hợp lại trong suốt
cuộc đời của tôi. Thực tế, ngay khi Meyerowitz thường gắn liền với lời phê
bình ở Eggleston, Shore...ông ta rõ ràng là một chuyên gia màu sắc.