BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC QUANG
BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM
TỪ GÓC ĐỘ CỦA CHỦ THỂ BẢO ĐẢM QUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành
: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 60380102
Người hướng dẫn khoa học
: PGS. TS. Tô Văn Hòa
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ những nội dung và số liệu trong Luận
văn này là do tôi nghiên cứu, thực hiện. Những nội dung nghiên cứu, tham
VBQPPL
Văn bản quy phạm pháp luật
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1
PHẦN NỘI DUNG
9
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP
CẬN THÔNG TIN
9
1.1. Khái niệm thông tin, quyền thông tin/quyền TCTT và vai trò, ý nghĩa
của việc bảo đảm quyền TCTT
1.1.1. Khái niệm thông tin, quyền thông tin/quyền TCTT
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền TCTT
1.2. Đặc điểm quyền TCTT từ góc độ của chủ thể bảo đảm quyền
đảm quyền
23
1.3.1. Yêu cầu về phạm vi, nội dung thông tin được tiếp cận
23
1.3.2. Yêu cầu về phạm vi chủ thể bảo đảm quyền TCTT
29
1.3.3. Yêu cầu về hình thức cung cấp thông tin
31
1.3.4. Yêu cầu về trình tự, thủ tục, thời hạn bảo đảm cung cấp thông tin
34
1.3.5. Yêu cầu về cơ chế theo dõi, kiểm tra và giám sát, khiếu nại, khiếu
kiện việc cung cấp thông tin
37
Chương 2. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TỪ GÓC ĐỘ CỦA
CHỦ THỂ BẢO ĐẢM QUYỀN
40
83
3.2. Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện thể chế về bảo đảm quyền
TCTT từ góc độ của chủ thể bảo đảm quyền
86
KẾT LUẬN
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tàis
Quyền TCTT là một trong những quyền cơ bản của con người. Bảo
đảm thực hiện quyền TCTT là điều kiện cần thiết cho hoạt động quản lý dân
chủ, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của một quốc gia. Trong một quốc
gia, việc không công khai thông tin đồng nghĩa với thiếu trách nhiệm giải
trình của các cơ quan công quyền trong quá trình thực thi quyền lực công và
có thể quyền lực đó sẽ mâu thuẫn hoặc đi ngược lại lợi ích của công chúng,
của cộng đồng xã hội.
Để xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, việc bảo đảm
công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan công quyền được xác định
là một trong những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động của bộ máy Nhà
nước. Phù hợp nguyên tắc này, bảo đảm quyền được thông tin của công dân,
tạo cơ chế để nhân dân tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà
nước, qua đó sẽ hạn chế tình trạng quan liêu, tham nhũng và tăng cường trách
nhiệm của cán bộ, công chức là nội dung đặc biệt quan trọng. Đây là những
điều kiện, tiền đề cho hoạt động quản lý dân chủ, bảo đảm cho sự phát triển
bền vững của đất nước.
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Luật PCTN, Luật Ngân
sách nhà nước, Luật Cán bộ, công chức, Luật Báo chí, Luật Ban hành
VBQPPL… Đặc biệt là mới đây Quốc hội mới thông qua Luật TCTT.
Mặc dù đã có nhiều văn bản pháp luật có quy định liên quan đến quyền
TCTT của công dân và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung
cấp thông tin, công khai thông tin song vẫn chưa có một cơ chế pháp lý đầy
đủ để bảo đảm thực hiện quyền TCTT từ góc độ chủ thể bảo đảm quyền một
cách có hiệu quả. Trên thực tế, việc bảo đảm quyền được TCTT và được
1Điều 69 Hiến pháp 1992: “Công dân... có quyền được thông tin... theo quy định của pháp luật”.
8
thông tin của công dân còn gặp khá nhiều bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước. Có thể dẫn ra một số ví dụ điển hình
như: sự hạn chế sự tham gia của người dân vào hoạt động quản lý nhà nước
với tính chất là giám sát, phản biện; việc lợi dụng vị trí đặc quyền trong
TCTT để trục lợi, gia tăng sự lạm quyền trong quản lý hành chính nhà nước;
việc áp dụng pháp luật không thống nhất, không bình đẳng làm gia tăng sự
tùy tiện, tệ nạn tham nhũng, nảy sinh nhiều khiếu kiện và làm mất niềm tin
của công dân đối với chính quyền...
Trên thế giới, quyền TCTT là một trong những quyền cơ bản của con
người, thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị, được ghi nhận trong Tuyên ngôn
toàn thế giới về quyền con người năm 19482 và Công ước quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị năm 19663 của Liên Hợp Quốc. Các quyền này tiếp
tục được khẳng định trong nhiều Công ước khác như Công ước quốc tế về
quyền trẻ em năm 1989, Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng
năm 2003, Tuyên bố Rio về Môi trường và phát triển, Công ước UNECE về
TCTT môi trường v.v...
Ngày càng có nhiều quốc gia đánh giá cao vai trò quan trọng của việc
tiễn trên thế giới và ở Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011.
+ Hội Luật gia Việt Nam, Luật TCTT, kinh nghiệm quốc tế và Việt
Nam, 2010.
+ Hội Luật gia Việt Nam, Nghiên cứu về Luật TCTT của Bắc Âu, Tài
liệu tại Hội thảo quốc tế “Xây dựng Luật TCTT tại Việt Nam”.
+ Thái Vĩnh Thắng, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về TCTT phục vụ xây dựng Luật
TCTT, 2011.
+ Nguyễn Đăng Dung, Một số vấn đề về đảm bảo quyền được thông tin
của công dân, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (số chuyên đề), 2010.
+ Nguyễn Thị Kim Thoa, Nội dung cơ bản của Luật TCTT một số
nước, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, 2009.
+ Hoàng Thị Ngân, Quyền TCTT và việc xây dựng Chính phủ “mở”
trong điều kiện hiện nay, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (số chuyên đề), 2010.
+ Nguyễn Thị Hạnh, Sự cần thiết ban hành Luật TCTT một số nước,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, 2009.
10
+ Mai Thị Kim Huế, Phạm vi chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông
tin, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, 2009.
+ Nguyễn Quỳnh Liên, Quyền TCTT trong các văn kiện quốc tế, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, 2009.
+ Đỗ Đình Lương, Sự phát triển của quyền TCTT trong pháp luật quốc
tế và những vấn đề cơ bản cần quan tâm khi nghiên cứu xây dựng Luật
TCTT, Tạp chí Thông tin khoa học pháp lý, số 5 + 6/2008.
+ Thái Vĩnh Thắng, Quyền TCTT – Điều kiện thực hiện các quyền con
người và quyền công dân”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc
hội, 2009.
trong giai đoạn hiện nay.
4. Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn
Nghiên cứu một số vấn đề về cơ sở lý luận và pháp luật về bảo đảm
quyền TCTT ở Việt Nam từ góc độ của chủ thể bảo đảm quyền để hướng tới
các mục tiêu sau đây:
- Xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan
đến bảo đảm quyền TCTT ở Việt Nam từ góc độ của chủ thể bảo đảm quyền;
- Phân tích thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về bảo đảm
quyền TCTT ở Việt Nam từ góc độ của chủ thể bảo đảm quyền; đánh giá
những vướng mắc, bất cập về mặt thể chế về bảo đảm quyền TCTT ở Việt
Nam từ góc độ của chủ thể bảo đảm quyền;
- Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện
các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền TCTT ở Việt Nam từ góc độ
của chủ thể bảo đảm quyền.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của Luận văn
Với đề tài lựa chọn nghiên cứu về bảo đảm quyền TCTT ở Việt Nam từ
góc độ của chủ thể bảo đảm quyền, Luận văn sẽ tập trung trả lời các câu hỏi sau:
- Một là, quyền TCTT từ góc độ chủ thể bảo đảm quyền có đặc điểm
gì; việc bảo đảm quyền TCTT ở Việt Nam từ góc độ của chủ thể bảo đảm
quyền theo pháp luật hiện hành như thế nào?
12
- Hai là, với thực trạng các quy định của pháp Việt Nam hiện hành về
bảo đảm quyền TCTT từ góc độ của chủ thể bảo đảm quyền, thì cần phải
hoàn thiện hệ thống pháp luật thế nào về vấn đề này để bảo đảm quyền TCTT
từ góc độ chủ thể bảo đảm quyền?
6. Phương pháp nghiên cứu để thực hiện Luận văn
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá
Ngoài Mục lục, Phần mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền TCTT.
Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về bảo đảm
thực hiện quyền TCTT từ góc độ của thể bảo đảm quyền.
Chương 3: Đánh giá chung về thực trạng quy định của pháp luật Việt
Nam về bảo đảm thực hiện quyền TCTT từ góc độ của thể bảo đảm quyền và
một số kiến nghị, đề xuất.
14
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN
TIẾP CẬN THÔNG TIN
1.1. Khái niệm thông tin, quyền thông tin/quyền TCTT và vai trò, ý
nghĩa của việc bảo đảm quyền TCTT
1.1.1. Khái niệm thông tin, quyền thông tin/quyền TCTT
1.1.1.1. Khái niệm thông tin
Thông tin là khái niệm cơ bản của khoa học cũng là khái niệm trung
tâm của xã hội trong thời đại chúng ta. Mọi quan hệ, mọi hoạt động của
con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó. Mọi tri thức
đều bắt nguồn bằng một thông tin về nhừng điều đã diễn ra, về những cái
người ta đã biết, đã nói, đã làm. Và điều đó luôn xác định bản chất và chất
luợng của những mối quan hệ của con người.
“Thông tin” theo tiếng La-tin là “Informatio” có hai nghĩa. Một là, nó
chỉ một hành động rất cụ thể là tạo ra một hình dạng (forme). Hai là, tuỳ
theo tình huống, nó có nghĩa là sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm
hay một biểu tượng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, khái
dưới hình thức nhất định tạo sự thuận lợi cho việc sử dụng của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân. Còn khái niệm thông tin của pháp luật Việt Nam thì được hiểu
dưới góc độ hẹp hơn đó là: (1) Thông tin phải do một chủ thể duy nhất cơ
quan nhà nước tạo ra; (2) Thông tin cơ cơ quan nhà nước tạo ra mà không bao
gồm cả thông tin không do cơ quan nhà nước tạo ra nhưng cơ quan nhà nước
đang nắm giữ; (3) Thông tin phải thể hiện dưới hình thức văn bản và được
người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước đó ký, đóng dấu hoặc xác nhận.
1.1.1.2. Khái niệm quyền thông tin/quyền TCTT
Khái niệm quyền thông tin xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1766 tại Thụy Điển trong Luật về Tự do
báo chí5. Đạo luật này, một mặt cho phép tự do ngôn luận “trừ trường hợp báng bổ và chỉ trích Nhà nước”,
mặt khác, công nhận cho công dân có quyền “tiếp cận tài liệu công”6. Đây là hai khía cạnh cơ bản, quan
4 Nguyễn Thị Kim Thoa, Nội dung cơ bản của Luật TCTT một số nước, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Văn
phòng Quốc hội, 2009
5 Luật Tự do báo chí của Thuỵ Điển năm 1766 là đạo luật về báo chí lâu đời nhất trên thế giới, trong đó lần
đầu tiên quy định về quyền tíếp cận thông tin. Sau này, quyền TCTT còn được quy định trong Luật về Tự do
ngôn luận năm 1991 của Thụy Điển. Đây là hai đạo luật chủ đạo liên quan đến quyền TCTT. Ngoài ra, một
số quy định liên quan đến vấn đề này còn được quy định tại bộ Quy tắc điều hành Chính phủ năm 1974.
17
trọng nhất trong nội hàm của khái niệm quyền TCTT. Về mặt lịch sử lập pháp, có lẽ trong suốt gần hai thế kỷ
sau khi các nhà lập pháp Thụy Điển cho ra đời khái niệm quyền được thông tin nói trên, chưa có bất kỳ văn
bản pháp lý nào chứa đựng những quy phạm tiến bộ hơn và sâu sắc hơn khái niệm quyền được thông tin của
Luật về Tự do báo chí của Thụy Điển. Chỉ sang đến Thế kỷ XX, trong bối cảnh sau Chiến tranh thế giới thứ
hai, các nhà lập pháp quốc tế mới phát triển khái niệm này đến một biên độ mới, đem đến cho nó những sắc
thái mới của thời kỳ dân chủ và quyền bình đẳng của con người trên bình diện toàn thế giới. Đó chính là nền
tảng để khái niệm này được chính thức ghi nhận trong hai công ước quốc tế là Tuyên ngôn toàn thế giới về
quyền con người của Liên Hợp quốc năm 19487 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm
năm 2001.
10 Nguồn: />
18
Trong Nguyên tắc Johannesburg về An ninh quốc gia, Tự do ngôn luận
và TCTT năm 199511 cũng ghi nhận quyền tự do ngôn luận và quyền TCTT,
thẩm quyền của Chính phủ trong việc hạn chế quyền TCTT nhưng chỉ trong
trường hợp cần thiết và chỉ khi ảnh hưởng tới quyền lợi và an ninh quốc gia
một cách hợp pháp (cơ sở này là tiêu chuẩn của luật quốc tế và khu vực).
Kể từ đó đến nay, trên bình diện quốc tế cũng như ở phạm vi quốc gia,
quyền TCTT ngày càng được công nhận rộng rãi. Nhiều điều ước, hiệp ước
quốc tế, kế hoạch hành động, các tuyên bố quốc tế đã đưa ra những yêu cầu
có tính ràng buộc hoặc khuyến nghị các quốc gia thành viên ban hành văn bản
pháp luật ghi nhận quyền được thông tin. Ngày càng có nhiều quốc gia công
nhận tầm quan trọng của TCTT không chỉ với tư cách là một trong những
quyền cơ bản của con người mà còn là một công cụ quan trọng góp phần nâng
cao khả năng điều hành của Chính phủ, tăng cường tính minh bạch, phòng và
chống tham nhũng trong hoạt động của các cơ quan Chính phủ12.
Bên cạnh việc hiện diện một cách độc lập trong các đạo luật đơn hành,
quyền TCTT hay quyền được thông tin - với tư cách là một trong những
quyền cơ bản của công dân - đã được ghi nhận trong rất nhiều bản Hiến pháp
của các quốc gia trên thế giới13. Trong vòng hơn 10 năm qua, số lượng các
bản Hiến pháp có các quy định về quyền TCTT đã tăng nhanh một cách đáng
kể. Hầu hết trong các bản Hiến pháp thành văn mới ban hành của các quốc gia
đang chuyển đổi, đặc biệt là ở Đông Âu, Trung Âu và Châu Mỹ La tinh đều
có quy định về quyền TCTT. Ngoài ra, ở một số quốc gia mà Hiến pháp đã
được ban hành từ lâu đời như Phần Lan, Na-uy, gần đây đã có xu hướng sửa
đổi Hiến pháp của mình để bổ sung một số quy định về quyền TCTT.
Nói chung quyền thông tin chỉ áp dụng đối với các thông tin “được ghi
do các cơ quan công quyền nắm giữ sẽ hiệu quả hơn việc cung cấp thông tin
thụ động khi có người yêu cầu16. Cách tiếp cận này ngày càng được thừa
14 Trong quá trình soạn thảo Luật TCTT ở Việt Nam, có một số ý kiến tranh cãi về khái niệm thông tin, cho
rằng quy định của Dự thảo Luật TCTT về khái niệm thông tin có nguy cơ làm hẹp phạm vi thông tin được
cung cấp, đặc biệt là nếu quy định thông tin được tiếp cận là thông tin do cơ quan nhà nước “tạo ra và quản
lý”, một phương án khác cũng được đưa ra là thông tin sẽ bao gồm những thông tin “do cơ quan nhà nước
nắm giữ”, nghĩa là bao gồm cả thông tin mà cơ quan nhà nước tiếp nhận được trong quá trình quản lý.
15 Luật số 2 năm 2000 về thúc đẩy TCTT của Nam Phi, Luật số 572 năm 1985 của Đan Mạch về tiếp cận
các tài liệu hành chính công. See, Vietnamese Institute for Human Rights, Selected international instruments
and the access to information acts of some countries, Nhà Xuất bản công an nhân dân, Hà Nội, 2007. See
generally, Banisar (2006), Mendel (2008).
16 See generally, Virginia Wise (2008), Banisar (2006), Mendel (2008)
20
nhận là một trong những biện pháp quan trọng nhất để thúc đẩy việc TCTT17.
Luật TCTT của nhiều nước có quy định khuyến khích việc TCTT chủ
động hoặc công bố thông tin đều đặn. Thông thường, các luật này quy định
một danh sách các loại thông tin/tài liệu phải công bố, ví dụ như các thông tin
về hoạt động điều hành, về các dịch vụ mà các cơ quan công quyền cung cấp
và về cách thức yêu cầu cung cấp thông tin18. Danh sách cụ thể các thông tin
cần được công bố tùy thuộc vào sự xem xét và cân nhắc của từng nước.
Những văn bản thuộc diện phải công bố chủ động sẽ thuộc diện ngoại lệ
không phải cung cấp theo yêu cầu19.
Các Luật Tự do thông tin của các quốc gia sử dụng rất nhiều các thuật
ngữ khác nhau để mô tả các thông tin mà cá nhân có quyền tiếp cận. Các đạo
luật được ban hành từ lâu đời nói chung đều quy định về quyền tiếp cận hồ sơ
tài liệu, tài liệu chính thức hoặc tài liệu, trong khi các đạo luật mới được ban
hành thì thường quy định về quyền thông tin20. Theo đó, khi đã tập trung đề
tử nào khác, v.v...23
Quyền thông tin là một quyền có giới hạn, có nghĩa là không được tự
do tiếp cận tất cả các tin tức của nhà nước đang nắm giữ hoặc được tự do tìm
kiếm, tiếp cận tất cả các loại hồ sơ, tài liệu lưu giữ thông tin ngay cả khi được
gọi là "tự do thông tin". Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm
1966 ghi nhận việc thực hiện những quyền tự do ngôn luận, TCTT kèm theo
những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một
số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong
pháp luật và là cần thiết để tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác;
bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã
hội (khoản 3 Điều 19). Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là chủ thể nào được hạn chế
quyền thông tin?
Theo nội dung quy định trên, những giới hạn của quyền thông tin phải
được “pháp luật cho phép hay quy định trước24, có nghĩa là việc giới hạn thực
hiện quyền này phải được quy định cụ thể trong pháp luật của quốc gia. Mỗi
nước cần xác định rõ những loại thông tin nào là thông tin công cần phải được
công khai, và những loại thông tin nào cần phải được bảo mật. Nguyên tắc
chung là không cần thiết phải giữ kín nếu như việc tiết lộ các loại thông tin đó
22 Mendel (2008)
23 Mendel (2008), tr. 14
24 Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nhà xuất bản chính
trị quốc gia, Hà Nội 1998, tr 187.
22
không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, sức khỏe, đạo đức của
công chúng; không phương hại tới quyền hoặc uy tín của người khác25.
Công ước về quyền trẻ em cũng đề cập tới nội dung và giới hạn của
hiện trên thực tế. Bảo đảm quyền thông tin là điều kiện cần thiết cho hoạt
động quản lý dân chủ, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của một quốc gia.
Về góc độ quản lý nhà nước, sẽ không thể phủ nhận rằng, nếu như
người dân có đầy đủ các nguồn thông tin, giúp họ đóng vai trò chủ động hơn
trong xã hội và đóng góp cho Nhà nước và phát triển. Bảo đảm quyền thông
tin sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, làm tăng tính
hiệu quả, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Từ đó,
người dân có niềm tin vào các hoạt động quản lý nhà nước, đặc biệt là các
hoạt động của cơ quan hành chính - hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến an
sinh, xã hội của người dân.
Về góc độ pháp luật, bảo đảm quyền thông tin sẽ tạo tiền đề thuận lợi
cho việc thi hành văn bản của mọi đối tượng trong xã hội. Văn bản pháp luật
sẽ được thực thi và tuân thủ tốt hơn bởi khi người dân có thông tin, họ sẽ
nâng cao hiểu biết và nhận thức hơn, tự giác thực hiện chính sách, pháp luật
hơn27. Sự nhầm lẫn và không chắc chắn về thông tin chính thức của các cơ
quan nhà nước sẽ làm tăng sự không tuân thủ, làm giảm lợi ích của các chính
sách công. Bên cạnh đó, bảo đảm quyền thông tin sẽ hình thành cơ chế giám
sát có hiệu quả từ công chúng tới các hoạt động của cơ quan công quyền, đặc
biệt là các cơ quan hành chính, thông qua đó, các cơ quan này cũng sẽ hoạt
động có hiệu quả và trách nhiệm hơn. Trên cơ sở được biết thông tin người
dân mới kịp thời kiến nghị lên các cơ quan nhà nước để hoàn thiện chính
sách, pháp luật.
Về góc độ dân chủ, bảo đảm quyền thông tin cũng đồng thời bảo đảm
sự công bằng, dân chủ và tăng lòng tin của người dân đối với Nhà nước. Việc
phản hồi từ phía người dân sẽ giúp các cơ quan nhà nước cân nhắc, lựa chọn
và đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với lòng dân, tăng hiệu quả
của chính sách.
27 Báo cáo đánh giá tác động của Dự thảo Luật TCTT ngày 06/7/2015 của Bộ Tư pháp.
pháp. Một số đạo luật về tự do thông tin hoặc TCTT nêu rõ, các quy định về
quyền TCTT, tự nó đã là các quy định Hiến định. Một số quốc gia lại quy
định Luật TCTT có địa vị pháp lý cao hơn các đạo luật khác. Ở Canada, Tòa
25
án đã tuyên bố rằng Luật TCTT là quy định “mang tính chất của Hiến pháp”.
Ở Newzeland, vào năm 1988, Tòa phúc thẩm đã phán quyết rằng “tầm quan
trọng của Luật Thông tin chính thức là ở chỗ các biện pháp trong Luật này có
thể được coi là các biện pháp mang tính Hiến định”28.
Ở Việt Nam, ngày 28/11/2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ sáu đã thông qua bản Hiến pháp mới
và Nghị quyết số 64/2013/QH13 quy định một số điểm thi hành Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, Điều 25 Hiến pháp năm
2013 đã hiến định quyền TCTT. Quyền được thông tin của công dân quy định
tại Điều 69 của Hiến pháp năm 1992 mới chỉ thể hiện một phần nội dung của
quyền TCTT theo các chuẩn mực quốc tế về quyền tự do thông tin. Vì vậy,
Hiến pháp năm 2013 đã chuyển từ quy định “quyền được thông tin” sang
khẳng định công dân có “quyền TCTT”. Quy định về quyền TCTT của công
dân trong Hiến pháp năm 2013 có nội hàm, ý nghĩa rất mới và phù hợp với xu
hướng chung của thế giới so với Hiến pháp năm 1992: (1) Công dân có quyền
tìm kiếm, sử dụng và truyền bá thông tin; (2) Công dân TCTT không chỉ
thông qua hình thức công khai thông tin của cơ quan nhà nước mà còn có
quyền yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin; (3) Đây là quyền của
công dân, nhà nước có trách nhiệm ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm;
(4) Quyền này của công dân chỉ bị hạn chế bởi luật trong trường hợp vì lý do
an ninh, quốc phòng, vì đạo đức và sức khỏe cộng đồng (Điều 25 và Điều 14
Hiến pháp năm 2013). Việc thực hiện quyền TCTT do pháp luật quy định.
Chính vì vậy, ngày 06 tháng 4 năm 2016, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN