LUẬN văn THẠC sĩ LUẬT học HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT về cán bộ CHÍNH QUYỀN ở cấp cơ sở THEO yêu cầu xây DỰNG NHÀ nước PHÁP QUYỀN ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính quyền cơ sở là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống
chính trị ở cơ sở, trực tiếp giải quyết những công việc cụ thể ở cơ sở liên quan
tới nhân dân, gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân. Vì vậy, năng lực, hiệu
lực và hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở tác động trực tiếp đến việc
phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, bảo đảm cho sự ổn định và phát
triển của đất nước. Thực tiễn cho thấy ở đâu chính quyền cơ sở mạnh, ở đó
mọi chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước
được chấp hành nghiêm chỉnh, quyền làm chủ của nhân dân lao động được
phát huy; ở đâu chính quyền cơ sở yếu kém thì ở đó phong trào quần chúng
kém phát triển, đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân gặp nhiều khó khăn,
trật tự an ninh mất ổn định.
Từ khi khai sinh Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, nhất
là từ khi đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm nhiều đến việc củng cố
kiện toàn về mặt tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền
cơ sở và đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở. Nghị quyết Trung ương 8 khóa
VII; Nghị quyết Trung ương 3; Trung ương 6 khóa VIII đều coi vấn đề kiện
toàn chính quyền cấp cơ sở và đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở (CBCQCS)
là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước.
Hiến pháp, luật, pháp luật nước ta đã có những qui định về tổ chức bộ
máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế vận hành của bộ máy chính
quyền cơ sở; về chế độ sinh hoạt phí... đối với cán bộ xã, phường, thị trấn.
Đặc biệt, từ khi "Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở" được triển khai thực
hiện, hệ thống chính trị cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực.
Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) ở
nước ta hiện nay, pháp luật về chính quyền cơ sở và CBCQCS chậm được đổi





3

Nghị quyết của Trung ương 5 khóa IX của Đảng chủ trương từ nay
đến năm 2005 phải tập trung:
Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận
động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, biết hướng dẫn và phát huy tính tự quản của dân, công tâm,
thạo việc, tận tụy với dân, không tham nhũng, ức hiếp dân, được
dân tín nhiệm; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng giải quyết hợp lý và
đồng bộ chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn cả về quyền
lợi và trách nhiệm [13].
Để đạt được mục tiêu trên, cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về
CBCQCS.
Từ những lý do trên đây, chúng tôi quyết định chọn đề tài: "Hoàn thiện
pháp luật về cán bộ chính quyền cấp cơ sở theo yêu cầu xây dựng Nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề CBCQCS được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Liên quan trực tiếp đến vấn đề CBCQCS và pháp luật về CBCQCS có một số
công trình và bài viết đó là:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Nghiên cứu củng cố chính quyền các tỉnh,
thành phố vùng duyên hải miền Trung giai đoạn 2000 - 2005 và những năm
tiếp theo, cơ quan chủ trì: Cơ quan thường trực miền Trung, Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), Chủ nhiệm đề tài: Huỳnh Thanh Bình,
Nha Trang, 1999.
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Đổi mới chính sách đối với cán bộ chính
quyền cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cơ quan chủ trì: Vụ Chính
quyền địa phương, Ban Tổ chức - Cán bộ chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), Chủ
nhiệm đề tài: Trần Hữu Thắng, Hà Nội, 2001.



5

của pháp luật về CBCQCS, đặc biệt là chưa có một công trình nào đề cập đến
thực trạng và hiệu lực của pháp luật về CBCQCS.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là thông qua việc nghiên cứu làm rõ về mặt lý
luận và thực tiễn của pháp luật về CBCQCS; từ đó đưa ra những đề xuất kiến
nghị mang tính giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về CBCQCS
theo yêu cầu xây dựng NNPQ ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật
về CBCQCS.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về CBCQCS; từ đó rút ra những vấn
đề cần giải quyết.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật
về CBCQCS theo yêu cầu xây dựng NNPQ ở nước ta hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu xây dựng NNPQ ở nước ta hiện nay, trong khuôn
khổ của luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề: Cơ sở lý luận về
hoàn thiện pháp luật CBCQCS; khái lược sự hình thành, phát triển và thực
trạng của pháp luật về CBCQCS; các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện
pháp luật về CBCQCS.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận



7

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần
phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.


8

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP CƠ SỞ

1.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ VÀ ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1.1.1. Vị trí, vai trò của chính quyền cơ sở
Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, cấp cơ sở (gồm xã, phường, thị
trấn) vẫn giữ được vị trí quan trọng của nó trong hệ thống tổ chức hành chính
của Nhà nước. Trong thời kỳ phong kiến, thực dân phong kiến các Nhà nước
đều rất coi trọng đơn vị hành chính cấp cơ sở. Sự tồn tại, phát triển của tổ
chức chính quyền cơ sở cũng vẫn là một nhu cầu thiết yếu được các Nhà nước
thời trung đại, cận đại quan tâm nhằm củng cố bộ máy nhà nước Trung ương,
thực hiện ý đồ thống trị của giai cấp cầm quyền.
Nhận thức rõ về vị trí, vai trò quan trọng của chính quyền cấp cơ sở,
nên ngay từ những ngày đầu khi mới giành được chính quyền, Đảng và Nhà
nước ta đã quan tâm ngay đến việc xây dựng và kiện toàn bộ máy chính
quyền cấp cơ sở gọn nhẹ, vững chắc có hiệu lực đảm bảo thực hiện đúng chức
năng quản lý nhà nước ở địa bàn dân cư, đảm bảo tính liên tục và ổn định để
thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Ở nước ta, theo Hiến

đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Để chủ trương,
đường lối, chính sách đó đi vào cuộc sống, chính quyền cơ sở phải tổ chức
tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục giúp dân hiểu rõ đường lối, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp tổ
chức thực hiện sao cho phù hợp với đặc điểm của địa phương mình, góp phần
thực hiện thành công những đường lối, chính sách đó. Chỉ có chính quyền cơ
sở với chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước giao cho cùng với cơ sở vật chất và
đội ngũ cán bộ mới có thể làm được điều đó mà không một tổ chức nào ở cơ
sở có thể thay thế được. Có thể khẳng định: dù chủ trương, đường lối và pháp
luật của Nhà nước có hoàn thiện đến đâu, nhưng nếu cơ sở không thực hiện


10

hoặc thực hiện không đến nơi, đến chốn thì chủ trương, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước cũng không thể đi vào cuộc sống.
Thứ ba, chính quyền cơ sở có vai trò trong việc quản lý và tổ chức
mọi mặt hoạt động đời sống kinh tế, xã hội ở cơ sở. Trực tiếp tổ chức, chăm
lo đời sống và bảo vệ quyền lợi hàng ngày của nhân dân địa phương, đáp ứng
và giải quyết mọi nhu cầu phát sinh từ cơ sở. Trong điều kiện nước ta, với gần
80% dân số chủ yếu sống bằng nghề nông gắn với địa bàn cư trú, thì vai trò
của chính quyền cơ sở trong quản lý mọi mặt đời sống của nhân dân ở địa bàn
khu dân cư quả là vô cùng to lớn.
Thứ tư, muốn ổn định chính trị - xã hội, trước hết phải ổn định từ cấp
cơ sở, vì cơ sở là nơi tuyên truyền, vận động, tổ chức quần chúng thực hiện
các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Thực tế ở
một số địa phương như Thái Bình và một số tỉnh thuộc Tây Nguyên..., do
nhận thức chưa đầy đủ, chưa coi trọng vị trí, vai trò của chính quyền cơ sở đã
dẫn tới để kẻ địch lợi dụng, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân, phá vỡ mối
liên hệ máu thịt giữa Đảng với dân đã được thiết lập từ bao nhiêu năm nay.

lao động, thương binh - xã hội); cán bộ quản lý đô thị (đối với phường).
Như vậy, so với những qui định trước đây của pháp luật, những qui
định trên đây của Nghị quyết Trung ương 5 về đội ngũ CBCQCS, đặc biệt là
về CBCQCS chuyên trách đã có những thay đổi. Chính vì vậy, đòi hỏi pháp
luật CBCQCS cũng phải sửa đổi, hoàn thiện cho phù hợp.
- Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX qui định những CBCQCS sau đây
không phải là cán bộ chuyên trách: Thường trực Đảng ủy, Trưởng Ban Tổ
chức, Dân vận, Tuyên giáo và Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy; Phó công
an xã, công an viên; Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và 4 phó đoàn thể
thanh niên, phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh; Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ, Chủ
tịch Hội người cao tuổi cấp xã; Bí thư chi bộ, trưởng thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố.


12

Tóm lại, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX thì
cán bộ cơ sở được gọi là "cán bộ, công chức cơ sở" thuộc hệ thống chính trị ở
cơ sở.
1.1.2.2. Một số đặc điểm cơ bản mang tính đặc thù của đội ngũ cán
bộ chính quyền cơ sở
Đội ngũ CBCQCS là những người vừa công tác vừa gắn liền với đời
sống sản xuất và sinh hoạt của nhân dân khu dân cư. Bởi vậy, đội ngũ CBCQCS
có một số đặc điểm cơ bản, khác với đội ngũ cán bộ, công chức nói chung.
* Cán bộ chính quyền cơ sở chịu tác động của phong tục tập quán,
truyền thống và những yếu tố tâm lý của người nông dân
- Là cán bộ dân cử nên nghĩ rằng nay làm, mai nghỉ, "quan nhất thời,
dân vận đại" hay "một người làm quan, cả họ được nhờ"...
- Là người sở tại, thực hiện ba cùng với dân: ăn cùng dân, ở cùng dân,
làm việc với dân nên họ coi trọng tình làng nghĩa xóm và giàu tình yêu quê
hương đất nước "bán anh em xa, mua láng giềng gần"... Thực tế cho thấy,

chức cơ sở thì cán bộ chủ chốt ở cơ sở cũng không thể vào diện biên chế,
thêm vào đó trong cán bộ cơ sở còn có cả cán bộ nhà nước đã về hưu hoặc nghỉ
theo chế độ.
* Trình độ và năng lực của cán bộ cơ sở còn nhiều hạn chế [36, tr. 23-27]
- Về trình độ văn hóa: mới có 47% số cán bộ chủ chốt có trình độ phổ
thông trung học. Ở 15 tỉnh miền núi phía Bắc và 11 tỉnh miền Trung và Tây
nguyên mới chỉ có 30% số cán bộ chủ chốt có trình độ phổ thông trung học. Ở
một số tỉnh miền núi, Tây Nguyên vẫn còn số cán bộ chưa đọc thông, viết thạo.
- Về trình độ lý luận chính trị còn yếu: mới có 39,9 % số cán bộ chủ
chốt có trình độ trung cấp và 2,7% có trình độ cao cấp.


14

- Về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn còn nhiều bất cập: chỉ có
8,8% số cán bộ chủ chốt có trình độ trung cấp và 3,7% có trình độ đại học.
- Tỷ lệ cán bộ qua các lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, đặc
biệt là trình độ pháp luật không cao, thường là chắp vá, thiếu hệ thống và lạc
hậu. Số ủy viên UBND chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức quản lý
nhà nước là 69,3%.
Hầu hết cán bộ cơ sở chưa được đào tạo, không có bằng cấp, chỉ được
bồi dưỡng sau khi trúng cử nên rất khó khăn khi áp dụng tiêu chuẩn ngạch,
bậc công chức.
Đối với 4 chức danh chuyên môn theo Nghị định 09/1998/NĐ- CP
cũng ở tình trạng tương tự: 60,7% có trình độ văn hóa trung học phổ thông;
11,4% có trình độ lý luận trung, cao cấp (1,2% có trình độ cao cấp); 17,4 %
có trình độ chuyên môn trung cấp và đại học (2,8% có trình độ đại học).
- Đội ngũ CBCQCS không ổn định, luôn biến động qua bầu cử. Số tái
cử thường chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ dưới 50%.
* Cán bộ chính quyền cơ sở chưa có đủ điều kiện để thực thi nhiệm vụ

Bộ máy và cơ quan quản lý nhà nước ở cơ sở phải có đủ điều kiện thay mặt
Nhà nước để thực thi quyền lực kịp thời và hữu hiệu.
1.1.2.3. Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Cán bộ là những người đem chính sách
của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng
thời đem tinh hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để
đặt chính sách cho đúng" [26, tr. 269]. Vị trí của cán bộ là "cầu nối" giữa
Đảng, Chính phủ đối với quần chúng, nhưng không phải là "vật mang" là
"dây dẫn" là sự truyền tải cơ học mà chính là con người có đủ tư chất, tài năng
và đạo đức để làm việc đó. Hồ Chí Minh đặt cán bộ ở vị trí có tính chất quyết
định: chính sách đúng có thể không thu được kết quả nếu cán bộ làm sai, cán
bộ yếu kém.


16

Cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) là một trong hệ thống hành chính 4 cấp
của nước Việt Nam là nền tảng của hệ thống chính trị, là cơ sở thực tiễn hình
thành chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Như đã trình
bày ở phần trên; cấp cơ sở giữ vị trí, vai trò hết sức quan trọng. Là nơi tổ chức
thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao, là cấp chính quyền trực tiếp chăm lo đến
đời sống của nhân dân, là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân. Thông qua
hoạt động của Nhà nước, nhân dân thể hiện quyền làm chủ và trực tiếp thực
hiện quyền tự quản của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xuất phát từ cơ sở
tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn, phong phú nhằm bổ sung hoàn chỉnh
lý luận, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Hồ Chí Minh đã dạy: "Cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, là nền tảng của
hành chính. Cấp xã làm được thì mọi việc điều xong xuôi" [26, tr. 371]. Thực
tiễn cách mạng nước ta chứng minh cho điều đó: tình hình chính trị - xã hội
của đất nước ổn định hay không phụ thuộc vào sự ổn định của cấp cơ sở.

mới. Là đảng cầm quyền, Đảng phải chăm lo đào tạo, bố trí cán bộ cho cả hệ
thống chính trị. Đó là nhận thức và chủ trương đúng đắn nhằm đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, phù hợp với sự phát triển khách
quan hiện nay như những tiến bộ vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học- công
nghệ; sự xuất hiện của kinh tế trí thức; xu hướng hợp tác và cạnh tranh trong
hội nhập khu vực và thế giới; sự phát triển của dân trí... Tất cả tình hình đó
đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung và đội ngũ CBCQCS
nói riêng phải vươn lên một tầm cao mới về phẩm chất nhân cách và trí lực
khoa học.
1.1.2.4. Mối quan hệ giữa pháp luật về cán bộ chính quyền cơ sở và
đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở
Để có thể hoàn thiện pháp luật về CBCQCS thì một trong những vấn đề
đặc biệt quan trọng là làm sáng tỏ được mối quan hệ giữa pháp luật về CBCQCS
với CBCQCS. Bởi vì, từ mối quan hệ này cho chúng ta thấy được vai trò của
pháp luật về CBCQCS với CBCQCS và qua đó cung cấp cho chúng ta những


18

nguyên tắc để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CBCQCS sao cho phù hợp
với thực tiễn. Khi xem xét mối quan hệ giữa pháp luật về CBCQCS với
CBCQCS, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện qua các nội
dung sau:
Thứ nhất, về mối quan hệ giữa pháp luật về CBCQCS với CBCQCS.
Trong mối quan hệ này xét một cách tổng thể nhất, pháp luật về CBCQCS có
vai trò quan trọng là tạo ra cơ sở pháp lý cho mọi vấn đề liên quan đến đội
ngũ CBCQCS bao gồm:
Một là, pháp luật về CBCQCS tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức đội
ngũ CBCQCS. Thông qua các quy định của mình, pháp luật về CBCQCS đưa
ra các tiêu chuẩn để tuyển chọn đội ngũ CBCQCS (như tiêu chuẩn ứng cử,

thực hiện một cách đúng đắn, quyền và nghĩa vụ của công dân không bị các vi
phạm pháp luật xuất phát trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ của đội
ngũ CBCQCS xâm hại, thì hoạt động của đội ngũ CBCQCS phải dựa trên một
cơ sở pháp lý đầy đủ. Các cơ sở pháp lý này phần lớn nằm trong các quy định
của pháp luật về CBCQCS (ví dụ như: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
Chủ tịch UBND xã, công an xã; phương pháp, hình thức hoạt động của
UBND xã...). Mặt khác, hoạt động của đội ngũ CBCQCS có thực hiện hay
không, phụ thuộc trước hết vào cơ sở pháp lý của nó. Pháp luật về CBCQCS
nếu tạo ra được các cơ sở pháp lý đầy đủ, phù hợp thực tiễn là tiền đề quan
trọng cho đội ngũ CBCQCS thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ của mình. Các
quyền và nghĩa vụ của CBCQCS trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ
phải được pháp luật về CBCQCS quy định đầy đủ. Pháp luật về CBCQCS tạo
ra hành lang pháp lý an toàn cho mọi hành động của cán bộ cơ sở, chứ không
phải là "các hương ước lệ làng" theo kiểu phép vua thua lệ làng như đã diễn
ra trong lịch sử.
Bốn là, pháp luật về CBCQCS tạo cơ sở pháp lý cho chế độ đãi ngộ
đối với CBCQCS. Đội ngũ CBCQCS có yên tâm công tác, chủ động, sáng tạo
trong công tác hay không và có thể hiện được thật sự là "người đầy tớ của
nhân dân" hay không phụ thuộc rất lớn vào chế độ đãi ngộ đối với họ như:


20

tiền lương, phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ nghỉ phép
và các chế độ đãi ngộ khác. Các chế độ đãi ngộ này, lâu nay vẫn thể hiện
nhiều dưới dạng chính sách, chứ chưa được thể chế hóa thành pháp luật.
Chúng ta chỉ có thể giải quyết chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ CBCQCS khi
có một cơ sở pháp lý đầy đủ, chặt chẽ. Việc này phải dựa trước hết vào các
quy định của pháp luật về CBCQCS.
Tóm lại, pháp luật về CBCQCS có một vai trò đặc biệt quan trọng, có

chóng, chính xác, đầy đủ, có hiệu lực và hiệu quả cao trên thực tế hay không phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trước hết là phụ thuộc vào hoạt động của đội ngũ
CBCQCS. Vì vậy, Nhà nước phải có các biện pháp cụ thể về mặt chính trị, kinh
tế, xã hội, tạo điều kiện cho đội ngũ CBCQCS thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ
của mình. Đồng thời cần thấy rằng, quá trình đội ngũ CBCQCS thực hiện các
quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về CBCQCS nói riêng cũng là
một quá trình giúp cho Nhà nước kiểm nghiệm thực tế các quy định của pháp
luật có phù hợp hay không. Khi bộ máy, đội ngũ CBCQCS vận hành một cách
thông suốt, nhịp nhàng, có hiệu lực, hiệu quả, điều đó phản ánh rằng pháp luật
về CBCQCS đã phù hợp với thực tiễn. Ngược lại, khi hệ thống CBCQCS hoạt
động không tốt, vi phạm pháp luật nhiều, quyền và nghĩa vụ của công dân bị
xâm hại thường xuyên là dấu hiệu cho thấy hệ thống pháp luật của chúng ta chưa
phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, các thông tin từ thực tiễn hoạt động của đội ngũ
CBCQCS là rất quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật về CBCQCS.
Ba là, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý, sử
dụng đội ngũ CBCQCS, trong quá trình hoạt động thực hiện nhiệm vụ, công
vụ của đội ngũ CBCQCS là đối tượng điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về
CBCQCS. Vì vậy, trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về
CBCQCS phải xuất phát từ tính chất, thực trạng của các quan hệ xã hội này
(tất nhiên phải đặt chúng trong tổng thể quan hệ xã hội nói chung) để trên cơ
sở đó chúng ta có chiến lược xây dựng pháp luật về CBCQCS. Điều này có
nghĩa là, khi xây dựng, ban hành pháp luật về CBCQCS phải có quá trình
khảo sát, điều tra, đánh giá toàn diện đội ngũ CBCQCS để chúng ta có căn cứ


22

thực hiện khi xây dựng pháp luật, tránh trường hợp chủ quan, duy ý chí, áp
đặt từ bên trên, làm cho các quy định của pháp luật không phù hợp thực tiễn.
Tóm lại, trong mối quan hệ giữa CBCQCS và pháp luật về CBCQCS

cách khoa học, có hiệu quả cùng một hệ thống tài phán hoàn chỉnh công minh.
Trong điều kiện nhà nước ta hiện nay có thể nói đã hội đủ các điều kiện
về kinh tế, chính trị, xã hội để từng bước xây dựng NNPQ. Một Nhà nước có
sắc thái riêng, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phù hợp với
truyền thống, văn hóa của Việt Nam. Xây dựng NNPQ là một quá trình lâu
dài, phức tạp, cần có bước đi thích hợp trên cơ sở nghiên cứu thấu đáo những
luận chứng khoa học và tổng kết thực tiễn, để các bước đi phù hợp với mức
độ phát triển của xã hội ở từng giai đoạn của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc xây dựng NNPQ
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên
tắc quyền lực của nhân dân là cao nhất và thống nhất, không có sự phân chia
quyền lực, điều đó có nghĩa là:
Thứ nhất, bộ máy Nhà nước phải thể hiện đầy đủ quyền và hiệu lực
trong mối quan hệ thống nhất giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
của quyền lực chính trị thống nhất, không phân chia; nó phải phụ thuộc và
phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của Đảng, của Nhà nước và lợi ích của
nhân dân; phát huy được những ưu việt thuộc bản chất vốn có của Nhà nước
kiểu mới và loại trừ các khuyết tật hiện có để thực hiện thắng lợi công cuộc
đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, bộ máy đó phải thích ứng kịp thời, nhanh chóng với nền kinh
tế thị trường nhiều thành phần; thích ứng với sự hội nhập vào đời sống quốc
tế, nhất là về kinh tế, thích ứng với một xã hội công dân có trình độ dân trí
được nâng cao, nhân dân có những đòi hỏi mới trong đời sống vật chất và tinh
thần.
Thứ ba, bộ máy đó phải được tổ chức theo những nguyên tắc khoa học
vững chắc trên những nguyên lý tổ chức của xã hội chủ nghĩa, đồng thời tiếp


24


25

luật mà còn do những sai lầm thiếu sót trong khi thực hiện nhiệm vụ. Sai lầm
thiếu sót này không chỉ xuất phát từ lỗi của bản thân mà có thể còn do sự
thiếu hiểu biết về chuyên môn của bản thân CBCQCS.
NNPQ đòi hỏi phải công khai hóa hoạt động của các cơ quan nhà
nước và những người có chức vụ trừ trường hợp cần hạn chế vì lý do an ninh
quốc gia, trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội. Tất cả các ràng buộc trên đối
với công dân nói chung, CBCQCS nói riêng nhằm đề cao trách nhiệm của các
chủ thể giữ quyền lực, ràng buộc chính họ, ngăn chặn những hành vi lạm
quyền, đồng thời chống lại những biểu hiện tự do vô chính phủ.
Mặt khác, trong bối cảnh hòa nhập quốc tế, chuyển đổi cơ chế quản lý
từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần cùng sự xuất
hiện nhiều các quan hệ xã hội mới đã và đang đòi hỏi đội ngũ CBCQCS phải
có những thay đổi tương ứng nhằm thích nghi khả năng giải quyết mối quan
hệ giữa phát triển kinh tế và bảo đảm công bằng, xã hội theo định hướng
XHCN. Đó là đội ngũ CBCQCS có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành
với Đảng với Tổ quốc và nhân dân; có kiến thức và năng lực thực tiễn quản lý
kinh tế; có phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, tận tụy quan tâm chăm
lo đến sự nghiệp chung của đất nước.
Vấn đề cán bộ, công chức được Đảng ta xác định là nhân tố quyết
định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ
và của đất nước, là khâu then chốt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
NNPQ XHCN ở Việt Nam. Phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức,
CBCQCS có năng lực và thành thạo nghề nghiệp, tận tụy, biết tôn trọng kỷ
luật, có trách nhiệm và hiệu suất hoạt động cao; được đào tạo chu đáo, được
hưởng một chế độ lương, phụ cấp hợp lý, tương xứng với trọng trách được
giao.
Việc xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân, sẽ không thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status