Luận án tiến sĩ Triết học: Đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay (qua khảo sát thực tế một số tỉnh phía Bắc) - Pdf 58

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THU THỦY

ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN
MẦM NON Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
(Qua khảo sát thực tế một số tỉnh phía Bắc)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THU THỦY

ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN
MẦM NON Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
(Qua khảo sát thực tế một số tỉnh phía Bắc)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số: 62 22 03 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS Nguyễn Văn Huyên
2. TS Ngô Thị Thu Ngà


2.1. Đạo đức nghề nghiệp và tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp
đối với giáo viên mầm non
2.2. Nội dung những chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp của giáo viên
mầm non ở Việt Nam
2.3. Những nhân tố tác động tới đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non
CHƯƠNG 3: ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA (Qua khảo sát thực tế một số tỉnh phía Bắc)

3.1. Thành tựu và những hạn chế trong đạo đức nghề nghiệp của giáo
viên mầm non ở Việt Nam hiện nay
3.2. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong đạo đức nghề nghiệp
của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay
3.3. Những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao đạo đức nghề nghiệp của
giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC
NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Phương hướng
4.2. Những giải pháp chủ yếu nâng cao đạo đức nghề nghiệp của giáo
viên mầm non ở Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
1

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNXH

:

Chủ nghĩa xã hội

ĐĐNN

:

Đạo đức nghề nghiệp

ĐĐTT

:

Đạo đức truyền thống

GVMN

:

Giáo viên mầm non


chất quan trọng nhất. Điều này có nghĩa, đạo đức nghề nghiệp của người giáo
viên đóng có vai trò là mục tiêu, động lực giúp cho đội ngũ này hoàn thành
nhiệm vụ giáo dục vẻ vang của mình, là “người mẹ hiền thứ hai” trong công
tác chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất đề cao đến vai trò của đạo
đức nghề nghiệp của người giáo viên mầm non. Người đã khẳng định:
Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm được thế thì phải
yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ chịu khó mới nuôi dạy
được các cháu. Dạy trẻ cũng như trồng cây non. Trồng cây non
được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu
thành người tốt. Anh chị em giáo viên mẫu giáo cần luôn luôn
gương mẫu về đạo đức để các cháu noi theo... [115, tr.509].


2
Lời giáo huấn trên đã khẳng định sứ mệnh cao cả và trách nhiệm của
giáo viên mầm non đối với trẻ mầm non, đối với xã hội; đồng thời cũng
khẳng định, đạo đức nhà giáo là điều không lúc nào và không ở nơi nào có thể
sao nhãng, mà luôn phải quan tâm, giáo dục.
Sau hơn 30 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục mầm non.
Chúng ta đã đào tạo được nhiều thế hệ giáo viên mầm non vừa có “đức”, vừa
có “tài”, đông về số lượng, mạnh về chất lượng, đang công tác trong các cơ sở
mầm non trên khắp mọi miền, hàng ngày tham gia chăm sóc, giáo dục trẻ; đây
là những cố gắng rất đáng tự hào của đội ngũ này. Tuy nhiên, những tác động
từ mặt trái của quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng đang đặt ra những yêu
cầu, những vấn đề mà công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho người giáo
viên mầm non không thể không quan tâm giải quyết. Đó là tác động từ mặt
trái của kinh tế thị trường đối với quan niệm về giá trị và lối sống, mà cụ thể
là việc đề cao lối sống thực dụng, coi trọng giá trị vật chất, xem nhẹ giá trị

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án sẽ thực hiện những nhiệm vụ cơ
bản sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và xác định những
vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
- Làm rõ những vấn đề lý luận về ĐĐNN của GVMN ở Việt Nam.
- Phân tích, làm rõ thực trạng ĐĐNN của GVMN ở Việt Nam hiện nay
và nguyên nhân của thực trạng đó (qua khảo sát thực tế một số tỉnh ở phía
Bắc hiện nay).
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao ĐĐNN của GVMN ở
Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận án nghiên cứu ĐĐNN của GVMN ở Việt Nam hiện nay, với
phạm vi là giáo viên mầm non ở Việt Nam (qua khảo sát thực tế 384 giáo viên
mầm non trên 16 trường mầm non tại một số tỉnh ở phía Bắc, cụ thể là 4 tỉnh,


4
thành phố: Quảng Ninh, Nam Định, Bắc Ninh, Hà Nội). Thời gian từ năm
2008 đến năm 2017 khi Bộ Giáo dục & đào tạo ban hành Quyết định số
02/2008/QĐ - BGDĐT về “Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non”.
- Trong Luận án, người giáo viên mầm non được xác định và nghiên cứu
là những người trực tiếp tham gia giáo dục, chăm sóc trẻ mầm non tại các cơ
sở mầm non. Những đối tượng khác, chẳng hạn, cán bộ quản lí giáo dục mầm
non, cấp dưỡng... chỉ được đề cập trong chừng mực liên quan đến nội dung
các chuẩn mực ĐĐNN của giáo viên mầm non, nhân tố tác động và các giải
pháp nâng cao ĐĐNN cho đội ngũ này.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt

án được triển khai thành 4 chương, 12 tiết.


6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
ĐẠO ĐỨC, ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON

1.1.1. Các công trình nghiên cứu về đạo đức
Đạo đức là một đề tài rất quan trọng được nhiều nhà tư tưởng quan tâm
và nghiên cứu trong lịch sử khoa học của nhân loại. Ngay từ thời cổ đại, trong
các tác phẩm của các nhà tư tưởng ở phương Đông và phương Tây đã coi đạo
đức là những yêu cầu, nguyên tắc do cuộc sống đặt ra bắt buộc mọi người
phải tuân theo.
Sang thế kỉ XIX, đứng trên lập trường duy vật biện chứng, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã khẳng định đạo đức là sản phẩm của điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội. Ý thức đạo đức là sản phẩm của những hình thái kinh tế - xã
hội cụ thể, nó phản ánh đạo đức thực tiễn của xã hội. Vấn đề này được các
ông trình bày trong các tác phẩm của mình: “Lời nói đầu phê phán triết học
pháp quyền của Hêghen”; “Lút vích Phoi ơ bắc và sự cáo chung của triết học
cổ điển Đức”; “Chống Đuyrinh”… Như vậy, các nhà mác- xít đã xây dựng
nên lý thuyết về một nền đạo đức tiến bộ trong lịch sử loài người - đạo đức
cộng sản - với những nội dung khoa học nhất và cách mạng nhất.
Quán triệt sâu sắc tư tưởng đạo đức học mácxít, tác phẩm "Nguyên lý
đạo đức cộng sản" của A.Siskin đã tiếp tục làm rõ nguồn gốc của đạo đức và
khẳng định đạo đức là một hình thái ý thức xã hội: "Đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội, nói đến đạo đức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện
mối quan hệ nhất định giữa người với người trong quan hệ với nhau hàng

xã hội, nhằm tránh khỏi những mâu thuẫn, xung đột về lợi ích cá nhân với cá
nhân, giữa cá nhân với xã hội.
Ở Việt Nam, vấn đề đạo đức, các phạm trù cơ bản của đạo đức học mác-xít
thường xuyên được quan tâm trong cả nghiên cứu lý luận và thực tiễn đời sống,
góp phần làm sáng tỏ quan niệm mác xít về đạo đức. Một số cuốn sách tiêu biểu


8
trong nước bàn về đạo đức là: "C.Mác - Ph.Ăngghen - V.I.Lênin bàn về đạo đức"
[171]; "Đảng ta bàn về đạo đức" [172]; "Đạo đức mới" [83] đã xác định cơ sở
khoa học của đạo đức học. Đảng ta đã dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin
hướng toàn bộ đạo đức của chúng ta vào sự nghiệp cách mạng, vừa xuất phát từ
yêu cầu cụ thể của xã hội ta ngày nay, vừa phát huy những truyền thống cao đẹp
của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực đạo đức. Theo các
tác giả, nội dung của đạo đức mới hướng vào giải quyết những nhiệm vụ cơ bản
của con người trong chiến đấu, lao động và học tập, trong gia đình, tình yêu, tình
bạn, trong quan hệ thường ngày và đời sống riêng tư. Điều này khẳng định đạo
đức phản ánh đời sống tinh thần của con người, có khả năng điều chỉnh hành vi
mỗi cá nhân hướng tới những giá trị tốt đẹp nhất.
Cuốn "Giáo trình đạo đức học Mác - Lênin" của Nguyễn Ngọc Long,
Nguyễn Thế Kiệt (Đồng chủ biên) [98]. Giáo trình "Đạo đức học Mác Lênin và giáo dục đạo đức" của tác giả Trần Đăng Sinh, Nguyễn Thị Thọ
(Đồng chủ biên) [139]. Các tác giả đều thống nhất khi coi đạo đức là một
hình thái ý thức xã hội, tập hợp các nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực đạo đức
xã hội nhằm điều chỉnh đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ
với nhau và quan hệ với xã hội... Trong cuốn "Các dạng đạo đức xã hội" của
Trần Hậu Kiêm và các cộng sự [85] đã phân tích các dạng đạo đức xã hội
qua các chế độ xã hội: xã hội nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư
bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Từ đó nhóm tác giả đi đến kết luận: "Đạo
đức là một hệ thống các chuẩn mực xã hội, qui định, điều chỉnh sự giao tiếp
và hành vi xử sự của con người trong quan hệ xã hội, nhằm đảm bảo sự

hệ với môi trường tự nhiên.
Một công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống và bài bản về lí luận giáo
dục là “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI” của tác giả
Trần Khánh Đức [54]. Trên việc lược sử phát triển giáo dục thế giới và ở Việt
Nam từ truyền thống tới hiện đại, về triết lý giáo dục và các mô hình giáo dục
hiện đại, kinh tế tri thức và đặc điểm của giáo dục trong nền kinh tế tri thức, tác
giả đã đi sâu phân tích vai trò của giáo viên cùng với nhân cách nghề nghiệp
trong nhà trường hiện đại, họ “không chỉ là người truyền thụ cái đã là chính


11
thống mà còn là người đề xướng thiết kế nội dung và phương pháp dạy nhằm
làm thay đổi những thị hiếu, hứng thú người học” [54, tr.160]. Ở góc độ này, cấu
trúc nhân cách nhà giáo được phân chia bởi bốn thành phần: xu hướng nghề
nghiệp (niềm tin, lý tưởng, hoài bão, lòng yêu nghề, nhân văn, tôn trọng người
học), kinh nghiệm nghề nghiệp, đặc điểm tâm lý cá nhân, đặc điểm sinh học.
Những thành tố trên kết hợp với nhau, có mối quan hệ qua lại, tác động mật thiết
tạo nên phẩm chất và năng lực nghề nghiệp của giáo viên.
Đứng trên quan điểm mác - xít, cuốn sách “Đạo đức học Mác - Lênin và
giáo dục đạo đức” của tác giả Trần Đăng Sinh và Nguyễn Thị Thọ (đồng chủ
biên) đã phân tích sâu sắc tính đặc thù của đạo đức nghề nghiệp; vai trò của
lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm nghề nghiệp trong việc hình thành đạo
đức về nghề. Từ trên cơ sở lí luận chung đó, các tác giả hướng tới lí giải vai trò
của nhà giáo, đó là những người “truyền thụ tri thức, dạy chữ và dạy người cho
học trò” [139, tr.148], “là cầu nối giữa nền văn hóa xã hội và việc tái sản xuất
nền văn hóa đó ở thế hệ trẻ” [139, tr.153]. Trên cơ sở đó, các tác giả đã chỉ ra các
yêu cầu về đạo đức nhà giáo trong điều kiện hiện nay cần có như: phải biết kế
thừa và phát huy những giá trị đạo đức cao đẹp của nhà giáo truyền thống; mỗi
nhà giáo phải không ngừng nỗ lực rèn luyện, hoàn thiện đạo đức, người thầy
phải gương mẫu về đạo đức, lối sống; phải giàu tình yêu thương, bao dung, độ

của mỗi cá nhân được tác giả phân định làm 2 yếu tố: phẩm chất và năng lực,
trong đó đức được coi là “gốc”, cơ sở nền tảng của nhân cách, biểu hiện qua:
phẩm chất xã hội (thế giới quan, lập trường, thái độ chính trị - xã hội, thái độ
lao động), phẩm chất đạo đức cá nhân, phẩm chất ý chí, tính kỉ luật, cung
cách ứng xử, sự phát triển cao của ý thức thẩm mỹ. Tài là năng lực hoạt động
được giao với chất lượng và hiệu quả cao. Sự thống nhất giữa phẩm chất và
năng lực, giữa đức và tài mà mỗi cá nhân đạt được trong quá trình học tập, lao
động, tu dưỡng được xã hội thừa nhận như một giá trị đã tạo thành nhân cách
của chính cá nhân đó. Từ góc độ nghiên cứu đó, tác giả chỉ ra tính quy luật
hình thành phát triển nhân cách; đó là vai trò của quá trình giáo dục, tự giáo


13
dục và hoạt động thực tiễn giúp hình thành thế giới nội tâm, tự giác phấn đấu,
cải tạo, xây dựng niềm tin, lý tưởng của bản thân; tác động của nhân tố chủ
quan và điều kiện khách quan, điều kiện kinh tế - xã hội, trong đó tầng sâu
nhất quy định sự nhân cách con người là quan hệ lợi ích, nhân tố văn hóa.
Trên quan điểm của các nhà quản lí, những yêu cầu về phẩm chất đạo
đức cơ bản của người giáo viên được khẳng định các văn bản pháp quy như:
trong Luật Giáo dục (2005, sửa đổi 2018) tại Điều 70 chỉ ra các chuẩn mực
đạo đức nhà giáo cần có: Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt, đạt trình độ chuẩn
được đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ, đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề
nghiệp, lí lịch bản thân rõ ràng, nêu gương tốt cho người học. Điều này có
nghĩa nhà giáo phải là người có lý tưởng nghề nghiệp, nhận thức cao trách
nhiệm công việc của mình với bản thân và cộng đồng xã hội.
Đi sâu về đạo đức nhà giáo, ngày 16 tháng 4 năm 2008, Bộ Giáo dục và
Đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-BGD&ĐT
quy định về Đạo đức nhà giáo. Trong đó điều 4, chương II có qui định cụ
thể về đạo đức nghề nghiệp của người giáo viên bao gồm: thứ nhất là tâm
huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo; có

thức ở trẻ. Trên đặc điểm đó, người GVMN vừa phải nắm rõ tâm sinh lý, vừa
là người bạn, là nhà giáo dục dẫn dắt trẻ mầm non từng bước đạt mục tiêu
giáo dục. Chính tình yêu trẻ thơ là động lực giúp người GVMN hoàn thành
công tác giáo dục, đây cũng là một trong những phẩm chất đạo đức cần thiết
của đội ngũ này trong GDMN.
Dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm sư phạm của nhà giáo dục V.A
Xukhomlinxki đối với quá trình giáo dục học sinh trong cuốn sách "Trái
tim tôi hiến dâng cho trẻ" [175]. Theo ông tình yêu trẻ, tinh thần nhiệt
huyết với sự nghiệp giáo dục là phẩm chất đầu tiên trong giáo dục mầm
non. Dạy học trước hết là sự giao tiếp tâm hồn. Nếu không có sự giao tiếp
tâm hồn thường xuyên giữa giáo viên và học sinh, nếu không có sự thâm
nhập vào thế giới tư tưởng, tình cảm, rung động của nhau thì không thể có


15
năng lực xúc cảm, đây là yếu tố cốt tử của năng lực sư phạm, năng lực giáo
dục. Người giáo viên chân chính của trẻ là người sẵn sàng hiến dâng trái
tim cho trẻ. Dạy trẻ, phải hiểu trẻ, thương trẻ, tôn trọng trẻ, phải trở thành
trẻ em ở một mức độ nào đó. Giáo dục trẻ em phải hướng vào chủ đích thúc
đẩy sự phát triển đầy đặn và hài hoà toàn bộ sức mạnh về thể chất và tâm
hồn của trẻ. Đó là sự thống nhất hài hoà giữa trí tuệ và tình cảm, trái tim và
khối óc, giữa xúc cảm và năng lực trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, giao
tiếp - tức là toàn bộ cuộc sống tinh thần, hiểu cả về mặt lý trí và xúc cảm,
mặt thể chất và mặt trí tuệ. Do vậy, đức, trí, thể, mỹ, lao động, học và chơi
hoà quện vào nhau trong một thể thống nhất chi phối hoạt động của đội ngũ
này. Đó chính là các phẩm chất cơ bản trong đạo đức nghề nghiệp của
người giáo viên mầm non.
Cuốn sách "Giao tiếp và ứng xử của cô giáo với trẻ em" của tác giả Ngô
Công Hoàn [74] lại tiếp cận ĐĐNN trên phương diện về “ứng xử”, “giao
tiếp” giữa GVMN với trẻ mẫu giáo, vai trò của vấn đề này trong quá trình

trẻ em dưới 6 tuổi, đáp ứng nhu cầu xã hội về phát triển con người
mới trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa [76, tr.12].
Đặc thù lao động của nghề GVMN khác biệt về đối tượng, công cụ
nghiên cứu vừa có tính khoa học, tính nghệ thuật, sáng tạo để có thể linh hoạt
giải quyết các tình huống sư phạm trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Nhân tố cốt lõi của nghề GVMN là nhân cách của người dạy học, đó là "tổ
hợp những phẩm chất đạo đức và năng lực có ảnh hưởng tới chất lượng và
hiệu quả lao động trong quá trình hành nghề" [76, tr.55]. Theo tác giả, muốn
tạo nên sự thành công trong quá trình chăm sóc, dạy học và giáo dục trẻ đòi
hỏi GVMN phải có một thế giới quan nhất định và một số phẩm chất đạo đức
đặc biệt trong nghề: yêu quý trẻ em; yêu nghề và muốn gắn bó với nghề; tận
tụy trong công việc; kiên trì và nhẫn nại khi tiếp xúc với học sinh; linh hoạt,
nhạy cảm trước sự thay đổi tâm sinh lý ở trẻ.


17
Nhóm tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai và Đinh Thị
Kim Thoa với công trình nghiên cứu "Tâm lí học trẻ em - lứa tuổi mầm non"
[165] đã đi sâu phân tích các đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ từ lọt lòng đến
6 tuổi đặc biệt chú ý giai đoạn từ 3-6 tuổi. Sự xác định ý thức bản ngã và tính
chủ định được định hình rõ trong hoạt động tâm lí, đã có các chuẩn mực đưa
vào trong đánh giá người khác và bản thân. Sự gương mẫu trong giao tiếp,
ứng xử của giáo viên sẽ tạo dấu ấn tốt hay xấu đi theo suốt cuộc đời của trẻ.
Bởi vậy xây dựng các chuẩn mực ĐĐNN cho GVMN được đặc biệt đề cao
trong giáo dục trẻ mẫu giáo.
Bàn về kĩ năng giao tiếp của người GVMN có các bài báo trên các tạp
chí như: tác giả Phan Thị Hoa với bài: "Văn hóa giao tiếp ứng xử của người
giáo viên trong trường mầm non" [72]. Trong bài viết, tác giả coi văn hóa
giao tiếp ứng xử là những kĩ năng cơ bản được GVMN vận dụng linh hoạt
trong mối quan hệ giữa cô và trò. Nguyên tắc giao tiếp ứng xử dựa trên việc:

trình của mình.
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC
NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Đa số những nghiên cứu trong thời gian qua đều nhìn nhận thực trạng
ĐĐNN của giáo viên nói chung và GVMN nói riêng như là một bộ phận của
thực trạng đạo đức xã hội. Các nhân tố như nền kinh tế thị trường, đời sống
vật chất của xã hội, trình độ nhận thức của cá nhân được nhìn nhận và lý giải
là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến sự suy thoái đạo đức xã hội,
trong đó có đạo đức của một bộ phận GVMN.
Các đề tài cấp nhà nước: Thái Duy Tuyên với đề tài: "Nghiên cứu con
người Việt Nam trong kinh tế thị trường: Các quan điểm và phương pháp tiếp
cận" [163]; "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển


19
kinh tế - xã hội" của tác giả Phạm Minh Hạc [64]. Các đề tài đều thống nhất
quan điểm coi nguồn lực con người là vốn quý nhất - yếu tố quyết định sự
phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới với nền kinh tế thị
trường (KTTT), toàn cầu hóa, quốc tế hóa đã tác động tích cực và tiêu cực
ảnh hưởng nhân cách con người Việt Nam hiện nay; một đội ngũ người lao
động sáng tạo, năng động được sinh ra từ đây, đồng thời cũng nảy sinh lớp
người lười biếng, thích hưởng thụ. Những biến đổi trong thang giá trị đạo đức
buộc chúng ta phải quan tâm đến công tác bồi dưỡng và phát huy tốt nguồn
nhân lực, xây dựng chiến lược giáo dục phù hợp, thực hiện công bằng trong
giáo dục, đặc biệt coi việc giáo dục và bồi dưỡng đạo đức nhà giáo là một
trong vấn đề trọng tâm cần hướng tới.
Cuốn sách "Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị
trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện
nay" của tác giả Nguyễn Chí Mỳ [122]; phân tích sự biến đổi các thang giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status