VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DIỆU LINH
VẤN ĐỀ KHAI THÁC NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành
: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số
: 9 22 90 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. PHẠM VĂN ĐỨC
HÀ NỘI - 2018
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận án tiến sĩ triết học với đề tài “Vấn đề khai thác nội lực
và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân dưới sự
hướng dẫn nghiên cứu của GS.TS. Phạm Văn Đức. Các số liệu, tài liệu trích dẫn và tài
liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.
4.1. Phương hướng cơ bản trong khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện
nay...............................................................................................................................124
4.2. Một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn nội lực.........................126
4.3. Một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn ngoại lực.....................138
KẾT LUẬN ................................................................................................................148
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................151
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tự lực, tự cường là một trong những đức tính quý báu của con người Việt
Nam. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dựa vào sức mình là chính,
khai thác sức mạnh nội lực luôn luôn là yếu tố quyết định mọi thắng lợi của dân
tộc. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể phủ nhận được vai trò
quan trọng của yếu tố ngoại lực - những tinh hoa về văn hóa, khoa học công
nghệ hiện đại, trình độ quản lý của thế giới, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài những yếu tố vô cùng cần thiết cho quá trình phát triển nhanh và bền vững của
đất nước trong giai đoạn hiện nay. Bởi vậy, phát huy dân chủ, khơi dậy sức
mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của
thời đại, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước
là bài học mà chúng ta luôn coi trọng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trải qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã
đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Chính sách đổi mới toàn
diện là một bước đột phá tạo đà phát huy các nguồn nội lực, khơi thông ngoại
lực, làm cho sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên rất nhiều. Đất nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế
của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo tiền đề quan trọng để đẩy
nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng. Kinh
thì không một quốc gia, dân tộc nào có thể phát triển được mà lại tách biệt, cô
lập với thế giới. Mở cửa, hội nhập, chủ động gia nhập vào quá trình toàn cầu hoá
là đòi hỏi tất yếu, nhưng cũng chính là điều kiện thuận lợi để kết hợp và phát
huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong phát triển. Nhận thức sâu sắc
tính tất yếu và cơ hội đó, Đảng ta luôn coi việc kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp là một trong những bài học
kinh nghiệm lớn trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã đưa ra một trong các quan
điểm phát triển quan trọng là: “Phát huy cao nhất các nguồn lực trong nước, đồng
thời chủ động hội nhập quốc tế, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
bên ngoài để phát triển nhanh, bền vững. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển
mạnh doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tư nhân, làm động lực nâng
cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế” [34, tr.270, 271].
Với tất cả những lý do trên, tác giả luận án đã chọn “Vấn đề khai thác nội
lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ các khái niệm về nội lực và ngoại lực cũng như những
đặc điểm của đất nước trong giai đoạn hiện nay, luận án tập trung phân tích,
đánh giá những mặt thành tựu cũng như hạn chế của quá trình khai thác các
nguồn nội lực và ngoại lực, từ đó đề xuất những giải pháp khai thác, sử dụng có
hiệu quả hơn các nguồn lực ấy.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, luận án phải giải quyết một số nhiệm vụ sau:
Một là, khái quát tổng quan chung về các công trình nghiên cứu liên quan
đến nội lực và ngoại lực, vấn đề khai thác nội lực và ngoại lực hiện nay.
Hai là, phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về nội lực và ngoại lực.
được ở các nguồn lực, đồng thời đưa ra một số giải pháp tăng cường việc khai
thác có hiệu quả hơn các nguồn lực này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học xã hội, cung cấp các
luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nhanh và bền vững của đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với những kết quả nghiên cứu như trên,
luận án sẽ góp phần làm phong phú hơn những lý luận về quan điểm, đường lối
của Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định các chủ chương, chính sách liên
quan tới việc khai thác các nguồn nội lực và ngoại lực để phát triển đất nước
trong tình hình mới.
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác
nghiên cứu về vấn đề khai thác các nguồn lực trong nước, là tài liệu tham khảo
bổ ích cho các giờ giảng của giáo viên khi dạy về phần chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, và là tài liệu bổ ích cho những bạn đọc quan
tâm về vấn đề này.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4
chương 13 tiết.
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Ở bất cứ một quốc gia nào, vấn đề sử dụng, khai thác và phát huy sức mạnh
nội lực và ngoại lực để phát triển kinh tế - xã hội luôn thu hút được sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu.
nhiên và xã hội” [83].
Từ đó, tác giả Nguyễn Văn Phúc xác định nguồn nội lực có thể xác định
trên hai bình diện là nguồn lực tự nhiên và nguồn lực xã hội. Trên bình diện
nguồn lực tự nhiên, Việt Nam có lợi thế về vị trí địa lí, giao thông, có bờ biển
dài rất thuận lợi cho phát triển kinh tế biển; lâm sản, hải sản, khoáng sản tuy
không thật nhiều nhưng khá đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, những nguồn lực
tự nhiên, tự nó, chỉ tồn tại như là tiềm năng. Vấn đề là làm sao khơi dậy, huy
động được những nguồn lực, những lợi thế đó trong phát triển. Trên bình diện
nguồn lực xã hội, Việt Nam cũng có những ưu thế về mặt văn hoá và con người.
Có thể nói, đó là những nguồn lực nội sinh giữ vị trí trung tâm của phát triển;
bởi con người với những sức mạnh về văn hoá, chính là chủ thể của sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước, là chủ thể của sự khai thác, huy động và hợp
nhất các lợi thế, các nguồn nội lực khác.
Nguyễn Văn Hoà trong bài viết “Tư tưởng của Phan Bội Châu về nội lực”
đăng trên Tạp chí Triết học, số 3, 2008 đã phân tích quan điểm của Phan Bội
Châu về những yếu tố cấu thành nội lực của đất nước: Thiên thời, địa lợi, nhân
hoà là các yếu tố cấu thành nội lực. Các yếu tố đó có quan hệ mật thiết với nhau,
trong đó nhân hòa là yếu tố đóng vai trò quyết định. Bên cạnh đó, tri thức cũng
là thành tố quan trọng của nội lực [49].
Bài viết "Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong phòng,
chống "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay"
của nhà nghiên cứu Phạm Thanh Sơn in trên Tạp chí Khoa học quân sự (tháng
8-2010) đã nêu lên các yếu tố cấu thành sức mạnh dân tộc “là kết quả tổng hợp
của các tiềm lực kinh tế, chính trị, tinh thần, văn hoá… của một dân tộc, của một
quốc gia, được biểu hiện ở năng lực huy động, kết quả khai thác và sử dụng hiệu
quả các tiềm lực ấy vào nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước”. Tuy nhiên,
tác giả phân tích tiếp, "các tiềm lực kinh tế, chính trị, tinh thần, văn hoá…, tự
bản thân nó chưa bao hàm hết sức mạnh dân tộc; bởi dân tộc vừa được hiểu theo
nghĩa "chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung sinh
hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hoá có những đặc thù”, vừa được hiểu theo
quốc gia, đăng trên Tạp chí Hoạt động khoa học, số 4, năm 1999; Nguồn nội lực
của dân tộc, Văn Hùng, Tạp chí Thương mại, số 17, 2006.
- Khái niệm ngoại lực:
Bài viết "Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong phòng,
chống "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay"
của tác giả Phạm Thanh Sơn in trên Tạp chí Khoa học quân sự (tháng 8-2010)
cho rằng: “Sức mạnh thời đại là khái niệm chỉ các thành tựu do con người sáng
tạo ra theo các quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, theo đó
thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội” [91].
Trong bài viết Nội lực và ngoại lực trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt
Nam của tác giả Trần Văn Thọ (Giáo sư kinh tế, Đại học Waseda, Tokyo) trên
7
cơ sở tập trung vào các nguồn lực như vốn, công nghệ và tri thức quản lý, kinh
doanh, tác giả đưa ra cái nhìn biện chứng giữa nội lực và ngoại lực trong các
nguồn lực: Tri thức quản lý và năng lực kinh doanh có thể gọi chung là nguồn
lực kinh doanh (managerial resources). Nguồn vốn (capital resources), công
nghệ và nguồn lực kinh doanh là những biểu hiện cụ thể của từ lực trong nội lực
và ngoại lực. Các nguồn lực này được vận dụng qua hoạt động của các doanh
nghiệp. Do đó, nội lực và ngoại lực vừa có thể được đánh giá trên bình diện vĩ
mô (vị trí của hai nguồn lực trong nền kinh tế quốc dân) vừa có thể được đánh
giá qua kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn trong nước và doanh nghiệp
có vốn đầu tư của nước ngoài.
Đặc biệt, bàn sâu về nội lực và ngoại lực, trong bài "Kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc" của Nguyễn Ngọc
Hồi trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân (tháng 5 - 2014), tác giả đã phân biệt cho
chúng ta thấy sự giống và khác nhau giữa các khái niệm: nội lực, sức mạnh bên
trong, sức mạnh dân tộc và ngoại lực, sức mạnh bên ngoài, sức mạnh thời đại.
Trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX), vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc với
lực. Sự kiên định của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với mục tiêu độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - mục tiêu được hình thành do có yếu tố thời
đại - trong đường lối chung xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đâu phải là ngoại lực,
mà đó chính là nội lực, là sức mạnh bên trong, nhưng lại được gắn kết nhuần
nhuyễn với yếu tố thời đại, yếu tố bên ngoài. Tương tự khi chúng ta kiên định
thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài - thành phần kinh tế do yếu tố thời đại đem lại - được coi là một
bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, được khuyến khích phát
triển. Đó chính là sức mạnh bên trong, sức mạnh nội lực, nhưng lại chứa đựng ở
đó những yếu tố ngoại lực, của thời đại. Trên tầm tư duy biện chứng như vậy,
Nghị quyết 28-NQ/TW (khóa XI) không đồng nhất “sức mạnh dân tộc” với “sức
mạnh nội lực, sức mạnh bên trong”; không đồng nhất “sức mạnh thời đại” với
các yếu tố “từ bên ngoài”, mà tiếp cận vấn đề một cách toàn diện hơn và khoa
học hơn, khi vừa khẳng định “Phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp
với sức mạnh của thời đại”, vừa nhấn mạnh bộ phận căn bản nhất, nòng cốt nhất
của sức mạnh dân tộc là nhân tố nội lực giữ vai trò quyết định.
Như vậy, về khái niệm nội lực và ngoại lực, còn có cách hiểu khác nhau,
chủ yếu đồng nhất nội lực với sức mạnh dân tộc, ngoại lực với sức mạnh thời
đại. Tác giả đồng tình với quan điểm của Nguyễn Ngọc Hồi trong bài "Kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc" khi
có sự phân biệt giữa các khái niệm: nội lực với sức mạnh dân tộc, sức mạnh bên
trong; ngoại lực với sức mạnh thời đại, sức mạnh bên ngoài. Tuy nhiên nội dung
bài viết trên chỉ xoay quanh vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc.
9
1.1.2. Về vai trò của khai thác nội lực và ngoại lực đối với sự phát triển
của đất nước
thách thức và tận dụng các cơ hội phát triển ở vùng Đông Á. Công nghiệp hoá
và công bằng xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá và thời đại công nghệ thông tin,
lợi thế so sánh động, công nghiệp phụ trợ, nội lực và ngoại lực, liên kết hàng
dọc và hàng ngang giữa doanh nghiệp trong nước với các công ty đa quốc gia,
chiến lược khám phá và tiếp cận thị trường, tinh thần doanh nghiệp, đạo đức
kinh doanh,... là những chủ đề được bàn đến trong tầm nhìn về con đường công
nghiệp hoá Việt Nam.
Giáo sư Phan Huy Lê đã nhấn mạnh vai trò của yếu tố ngoại lực: “Đóng
góp thêm vào nội lực tiềm tàng đó, trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình,
Việt Nam còn tranh thủ được sức mạnh của thời đại, sự ủng hộ của dư luận quốc
tế, của nhân dân các nước kể cả nhân dân nước đi xâm lược”, bài viết "Sức
11
mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại sẽ làm nên thắng lợi", Báo Công lý online cơ quan ngôn luận của Tòa án nhân dân tối cao, ngày 19-5-2014.
Bài viết "Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong phòng,
chống "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay"
của tác giả Phạm Thanh Sơn in trên Tạp chí Khoa học quân sự (tháng 8-2010)
đã phân tích sức mạnh của thời đại mà chúng ta đang sống hiện nay gắn liền với
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, tạo ra những tiền đề vật chất,
tinh thần trong đấu tranh vì hoà bình dân tộc, tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn
thế giới. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong đấu tranh phòng,
chống "diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay là
quá trình tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, huy động và sử dụng tốt nhất các
nguồn nội lực và ngoại lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp, chủ động đối phó và
làm phá sản âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình” trên các lĩnh vực chính trị
tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại, quốc phòng an ninh... của các thế
lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phân tích về vai trò của sức mạnh thời đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn
Phúc viết: Mặc dù có vai trò quyết định, nhưng sức mạnh dân tộc hay nội lực
thắng lợi hay không chủ yếu là do quyết tâm của nhân dân ta, do sức mạnh của
quân đội ta, của dân tộc ta, nhưng yếu tố quốc tế cũng quyết định một phần lớn.
Đảng ta đã đề ra đường lối đối ngoại đúng đắn và hết sức sáng tạo, nên đã vận
dụng được tối đa các nhân tố quốc tế, phát huy được sức mạnh thời đại ủng hộ
nhân dân ta chống Mỹ thắng lợi.
Ngoài ra, có nhiều bài viết, sách báo nêu lên vai trò của nội lực đối với sự
phát triển của đất nước như: "Malayxia trông cậy vào sức mạnh và nguồn lực
của chính mình" của Phương Ly đăng trên Tạp chí Đông Nam Á, số 3, 2005;
"Nội lực Việt Nam" của Trần Thanh Đạm, Tạp chí Xưa và nay, số 236, 2005;
"Vốn hóa các tài sản trong dân - Vấn đề quan trọng để huy động các nguồn lực
cho đầu tư" của Đan Đức Hiệp, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 149, 2009;
"Quản lý ODA trong giáo dục ở Việt Nam: Nâng tầm ngoại lực" của Nguyễn
Hữu Hiếu, Tạp chí Tài chính, số 4, 2007; "Nội lực vẫn là yếu tố quyết định" của
Lê Hải, Tạp chí Đầu tư chứng khoán, số 286, 2005.
1.1.3. Về mối quan hệ giữa khai thác nội lực và khai thác ngoại lực
Bài viết "Kết hợp sức mạnh với sức mạnh thời đại trong xây dựng và phát
triển đất nước hiện nay", nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Phúc - Viện Triết học,
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
ngày 7-5-2012, phân tích mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại: Với tư cách là nguồn lực của phát triển, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời
đại là thống nhất. Tuy nhiên, việc huy động và kết hợp hai nguồn lực này trong
thực tế là có một vấn đề mà nếu không giải quyết hợp lý thì hiệu quả sẽ không
cao. Đó là cách tuyệt đối hoá sức mạnh dân tộc, xem nhẹ sức mạnh thời đại hay
ngược lại, tuyệt đối hoá sức mạnh thời đại, xem nhẹ sức mạnh dân tộc đều là
cách nhìn nhận phiến diện và bất lợi cho phát triển.
13
Khi tuyệt đối hoá sức mạnh dân tộc, người ta cho rằng, chỉ những nhân tố
bên trong là trực tiếp quyết định sự phát triển của sự vật. Bởi vậy, nếu quá chú ý
dân tộc và sức mạnh thời đại dẫn đến yêu cầu là: tăng cường và phát huy những
sức mạnh dân tộc cho phát triển, tạo cơ sở và điều kiện để tiếp nhận những sức
mạnh của thời đại. Đồng thời chủ động và tích cực tiếp sức thời đại, dân tộc hoá
chúng, biến chúng thành sức mạnh bên trong cho phát triển. Thực hiện đồng bộ
và hiệu quả hai yêu cầu đó sẽ tạo ra hợp lực, sức mạnh tổng hợp cho sự phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bài “Tư tưởng của Phan Bội Châu về nội lực” của Nguyễn Văn Hoà đăng
trên Tạp chí Triết học số 3, 2008, đã phân tích quan điểm rất tiến bộ của cụ Phan
Bội Châu: Tăng cường sức mạnh nội lực không có nghĩa là đóng kín, khước từ
sự giúp đỡ ở bên ngoài; trái lại, phải biết mở rộng và tăng cường tận dụng các
yếu tố của nguồn lực bên ngoài để nhân lên sức mạnh của mình - sức mạnh nội
15
lực. Nguồn lực trong nước không tách rời với nguồn lực nước ngoài và trong
mối quan hệ giữa hai nguồn lực này, Phan Bội Châu khẳng định, nguồn lực
trong nước - nội lực là cái giữ vai trò quyết định; còn ngoại viện, một trong
những yếu tố của nguồn lực nước ngoài - ngoại lực chỉ làm thanh thế cho nội lực
mà thôi; lực lượng bên ngoài phải thông qua lực lượng bên trong mới phát huy
được tác dụng của nó. Như vậy, ở đây, Phan Bội Châu đã nhận thức được vị trí,
vai trò và sức mạnh của nội lực, cũng như nhận thức được mối quan hệ giữa tự
lực, tự cường và viện trợ của nước ngoài.
Phát huy nội lực từ nguồn sức mạnh của tinh thần dân chủ và quyền lực
nhân dân, của ý chí tự lực, tự cường và kết hợp với tranh thủ khai thác mọi
nguồn lực bên ngoài là một trong những chủ trương lớn của Phan Bội Châu
nhằm tăng cường thực lực để vũ trang bạo động, diệt trừ dị tộc, giành lấy chính
quyền về tay nhân dân, xoá bỏ tận gốc chính thể quân chủ xấu xa, lập nên chính
thể dân chủ cộng hoà tốt đẹp. Tư tưởng hướng đến một xã hội mới cao hơn xã
hội phong kiến đương thời đã có tác dụng kích thích, khuyến khích mọi người
phát huy sức mạnh vì sự sống còn và tương lai của đất nước.
xuất khẩu than sang Trung Quốc mà không dành để phát triển nhiệt điện.
+ Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời và năng lượng sinh học
nhưng những nguồn tài nguyên này chưa được nghiên cứu khai thác thoả đáng.
+ Việt Nam là quốc gia không nhiều đất nông nghiệp, nhưng tình trạng làm
nhà xưởng chỉ có một tầng tràn lan khắp nơi, gây ra tình trạng tốn nhiều đất cho
phát triển công nghiệp và dịch vụ. Trong khi quỹ đất để phát triển đô thị không
nhiều, khó đến nỗi mà người ta đòi mở rộng Thủ đô Hà Nội, nhưng không có
chủ trương xây dựng các nhà chung cư cao tầng một cách có kế hoạch hữu ích
mà cứ để nhân dân tự xây dựng nhà ở cá nhân tràn lan, hoặc không có chủ
trương bắt các doanh nghiệp phải xây dựng nhà cao tầng đối với những trường
hợp có thể như các lĩnh vực sản xuất hàng điện tử, hàng may mặc...
Việt Nam đang rất thiếu nhân tài, nhưng có rất nhiều người đi học ở nước
ngoài xong không về nước phục vụ và cống hiến. Nhiều người chạy ra khỏi cơ
quan nhà nước, đi làm cho các công ty nước ngoài hoặc công ty trong nước có
chế độ đãi ngộ tốt hơn. Việc Việt Nam thu hút nhân tài từ nước ngoài không
kèm theo cơ chế chính sách nên vẫn chỉ là ý tưởng.
Trong cuốn Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất
ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2007, nhà
nghiên cứu Phạm Công Nhất đã phân tích thực trạng phát huy nhân tố con người
ở nước ta hiện nay. Tác giả chỉ ra rằng Việt Nam là một trong những quốc gia có
dân số đông, đó là một thuận lợi cho việc huy động nguồn nhân lực, song, thị
trường lao động Việt Nam cũng đang đứng trước nghịch lý "dồi dào những vẫn khan
hiếm", thiếu đội ngũ lao động có chuyên môn kỹ thuật cao, thiếu thợ giỏi đáp
ứng sự phát triển của nền kinh tế.
Trong cuốn Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
của tác giả Vũ Hy Chương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2002,
với cách nhìn hệ thống, tác giả đã phân tích, đánh giá từng nguồn lực theo nguồn
17
trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh của
các nước và các tổ chức quốc tế.
Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước
ngoài không ngừng phát triển, trong đó một thế hệ tri thức mới người nước
18
ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây
Âu và châu Đại Dương. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lĩnh vực khoa học chuyên
ngành và kinh tế mũi nhọn như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo
máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán...
Thế mạnh của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là được đào
luyện, tiếp cận môi trường khoa học công nghệ tiên tiến và hiện đại, tiếp cận và
nắm bắt được phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô và chuyên ngành. Họ có khả
năng phát kiến sáng tạo, có năng lực tổng hợp thông tin, tư vấn đề xuất và tạo
dựng mối quan hệ với các cơ sở khoa học, cơ sở kinh tế ở nước sở tại. Từ trước
đến nay, đội ngũ trí thức kiều bào vẫn được các cơ quan chức năng trong nước
đánh giá là thế mạnh của cộng đồng, là một nguồn lực có thể góp phần tích cực
cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, vài năm
gần đây, lực lượng này cũng biến động mạnh, một số vừa tham gia hoạt động
kinh tế vừa nghiên cứu khoa học, một số khác thì chuyển hẳn sang kinh doanh,
không còn làm chuyên môn như đã được đào tạo.
Luận án Tiến sĩ Triết học Phát huy nguyồn lực thanh niên trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, LATS Triết học: 5.01.03,
của Nguyễn Thị Tú Oanh: Đánh giá vai trò của nguồn lực thanh niên với sự phát
triển xã hội. Thực trạng của nguồn lực thanh niên hiện nay. Các nguyên nhân
yếu kém và bài học kinh nghiệm cùng phương hướng giải pháp chủ yếu để phát
huy quyền lực thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của
Việt Nam.
Luận văn Thạc sĩ Triết học của Nguyễn Thị Tùng Lâm Vấn đề khai thác và
quen, kỹ năng cơ bản trong giao tiếp thương mại của đất nước đầu tư vốn.
Nghiên cứu kỹ vấn đề này sẽ giúp nâng cao khả năng tiếp cận và khai thác tốt
hơn những nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam, không chỉ của Nhật Bản mà còn
của rất nhiều tổ chức, các nước khác trong khu vực và trên thế giới.
Tác giả Phạm Đình Hạnh với bài viết Thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát
triển hạ tầng giao thông vận tải theo hình thức PPP, Tạp chí điện tử Giao thông
vận tải, ngày 6-5-2016 đã phân tích nhu cầu đầu tư trong lĩnh vực giao thông
vận tải, cơ hội, thách thức trong thu hút FDI vào lĩnh vực giao thông vận tải và
gợi mở xu hướng đầu tư theo hình thức PPP.
Ngoài ra có thể kể đến các công trình khoa học như: cuốn Nguồn lực và
động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam của nhà nghiên cứu Lê Du Phong, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà
Nội, xuất bản năm 2006; Dương Thế Phương với bài Đầu tư trực tiếp nước
ngoài nguồn ngoại lực quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình
Dương, đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 9, 2004; Chuyển hoá ngoại lực
thành nội lực để kinh tế Đồng Nai phát triển bền vững, Tạp chí Kinh tế và Dự
báo, số 422, 2008; Huy động và sử dụng nguồn lực cho đầu tư phát triển. Những
chuyện vui, buồn... của Hoàng Minh đăng trên Tạp chí Tài chính, số 1, 2005.
20
1.3. Những công trình nghiên cứu về các giải pháp khai thác nội lực và
ngoại lực ở Việt Nam
Cuốn Kinh nghiệm khai thác các nguồn lực trong công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của Nhật Bản của nhà nghiên cứu Hồ Văn Thông chủ biên, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2000, thông qua việc phân tích những
thành tựu cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nhật Bản, tác giả đã nêu
ra những kinh nghiệm trong việc khai thác các nguồn lực của Nhật Bản, từ vai
trò của chính phủ với các chính sách, thiết chế sử dụng, phát huy các nguồn lực,
vai trò của các nhân tố văn hóa và xã hội, kinh nghiệm nhập khẩu công nghệ,
xám”. Và giải pháp quan trọng là phải có chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn
vinh trí thức một cách thiết thực.
Cuốn sách Động lực và tạo động lực phát triển xã hội của nhà nghiên cứu
Hồ Bá Thâm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004 đã xem xét
động lực dưới nhiều góc độ. Tác giả cho rằng động lực nằm trong quan hệ mâu
thuẫn và phát triển biện chứng và là sản phẩm của chính sự vận động.
Đổi mới tư duy về nguồn lực và động lực phát triển kinh tế của nhà nghiên
cứu Ngô Doãn Vịnh - Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển đăng trên Tạp chí
Kinh tế và Dự báo, số 11, 2008, đưa ra những kiến nghị đổi mới tư duy về
nguồn lực và động lực trong thời kỳ phát triển tới. Cần có nhận thức mới theo
chiều hướng thực tế, thiết thực hơn, kết hợp định tính với định lượng trong đánh
giá nguồn lực và động lực phát triển; làm cho nguồn lực và động lực mang giá
trị đúng của nó để phát triển đất nước nhanh, có chất lượng và bền vững. Cụ thể
như sau:
Đối với nguồn lực: Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ
được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển. Tiềm
năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì
chưa được xem là nguồn lực. Các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ.
Có nghĩa là dưới nhiều góc độ, người ta chia các nguồn lực thành các loại khác
nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp.
Đối với động lực: Đứng trên quan điểm phát triển, những thứ mang tính
động cơ tạo ra lực lôi kéo và lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ hệ thống
được xem là động lực phát triển. Động lực mang tính lịch sử. Chẳng hạn, ở thời
kỳ này thì cái đó là động lực phát triển, nhưng ở thời kỳ khác thì nó không còn
là động lực nữa. Qua phân tích thực tiễn và bằng những kiến thức lý luận có
được, chúng tôi cho rằng, động lực tồn tại dưới hai hình thức: động lực vật chất
và động lực tinh thần.
Với tinh thần đổi mới và với quan điểm duy vật biện chứng, chúng ta nhận
thấy rằng, con người vừa là nguồn lực quan trọng nhất lại vừa là động lực có sức
mạnh nhất. Có con người chất lượng cao sẽ có thể có tất cả. Con người nghĩ ra