ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
LA ĐÌNH MÃO
VẬN DỤNG SỰ SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ
KẾT HỢP CÁC NGUYÊN LÝ PHỔ BIẾN VÀ YÊU
CẦU ĐẶC THÙ TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM VÀO ĐẢNG BỘ THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: CNDVBC và CNDVLS
Mã số: 62.22.80.05
Hà Nội, tháng 11 năm 2008
2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I
CHƯƠNG II
3
Sáng tạo của Hồ Chí Minh về các nguyên lý phổ biến
và yêu cầu đặc thù trong xây dựng Đảng Cộng sản
53
2.2 Một số bài học kinh nghiệm trong vận dụng sự sáng
tạo của Hồ Chí Minh vào xây dựng Đảng bộ Thừa Thiên
Huế thời kỳ đổi mới
60
3
CHƯƠNG
I
I
I
Định hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu
quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
đảng vào xây dựng Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế
73
3.1 Một số định hướng
73
3.2 Một số giải pháp chủ yếu
96
công bằng, dân chủ, văn minh.
Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản và xây dựng Đảng là
một thống lý luận, với những nội dung hết sức phong phú. Nó bao gồm các
vấn đề xác định vai trò, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công
4
nhân, xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền và tư cách, đạo đức
của người cán bộ, đảng viên.
Lịch sử hơn 78 năm qua của cách mạng Việt Nam đã khẳng định vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội, trên
thực tế nhân dân ta đã thừa nhận chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới là lực
lượng lãnh đạo duy nhất có thể đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, đem lại
ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định "Đảng Cộng sản Việt Nam, đội
tiên phong của giai cấp công nhân.
Từ lý luận và thực tiễn trên, để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối
với dân tộc trong tình hình mới, một mặt chúng ta phải xuất phát từ yêu cầu
khách quan của lịch sử, mặt khác cần nghiên cứu sâu sắc các tư tưởng về xây
dựng Đảng Cộng sản của Mác, Ăng ghen Lênin, Hồ Chí Minh. Trong đó sự
sáng tạo của Hồ Chí Minh trong sự kết hợp các nguyên lý phổ biến và điều
kiện đặc thù trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam cần được nghiên cứu
có hệ thống, có chiều sâu. Vì sự sáng tạo đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần có
sự vận dụng vào các điều kiện cụ thể của tỉnh, thành nhằm làm cho tư tưởng
của Người và các bài học xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 78
năm ăn sâu bám rễ trong các Đảng bộ.
Hơn thế, hiện nay đất nước ta đang thực hiện kinh tế nhiều thành phần,
theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập ngày càng
sâu rộng vào kinh tế thế giới. Để giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
được tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Lập luận về lý luận, chứng minh bằng thực tiễn sự kết hợp các nguyên
lý phổ biến với yêu cầu đặc thù trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam là
sự sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự thành công to lớn của những
người cộng sản Việt Nam.
- Đánh giá về mặt phương pháp luận những kết quả và hạn chế trong
nhận thức và vận dụng sự sáng tạo Hồ Chí Minh vào xây dựng Đảng bộ Thừa
Thiên Huế.
- Xây dựng các phương án có tính khả thi trong vận dụng có hiệu quả sự
sáng tạo Hồ Chí Minh vào xây dựng Đảng bộ Thừa Thiên Huế hiện nay.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin về biện chứng giữa cái phổ biến và cái đặc thù trong xây dựng
6
Đảng Cộng sản; tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp các nguyên lý phổ biến và
yêu cầu đặc thù là vấn đề có tính quy luật trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt
Nam… Luận án cũng sử dụng các văn kiện của Đảng, kết quả xây dựng Đảng
bộ Thừa Thiên Huế và các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học.
Người nghiên cứu vận dụng tổng hợp hệ thống phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là phương
pháp: phân tích - tổng hợp, lôgíc - lịch sử, lý luận - thực tiễn, trừu tượng cụ thể… Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp xã hội học, tổng kết
thực tiễn…
4. Đóng góp mới của luận án
- Kết hợp các nguyên lý phổ biến với yêu cầu đặc thù trong xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam là một khám phá mới trong tư tưởng triết học Hồ
Chí Minh.
- Lần đầu tiên việc nhận thức và vận dụng sự sáng tạo Hồ Chí Minh về
kết hợp giữa các nguyên lý phổ biến với yêu cầu đặc thù đã được xác định
tất yếu khách quan chi phối mọi quá trình vận động và phát triển của sự vật và
hiện tượng. Có nghĩa, cái phổ biến là cái chung nhất, cái bao trùm, quy định
sự phát triển của nhiều đối tượng trong nhiều mối liên hệ nhất định. Với quan
niệm đó, cái phổ biến trong công tác xây dựng Đảng Cộng sản chính là những
nguyên lý phổ biến có ý nghĩa bao trùm trong di sản của chủ nghĩa MácLênin. Đó là những nguyên lý chung nhất, định hướng cho công tác xây dựng
Đảng đối với tất cả các Đảng Cộng sản trên toàn thế giới. Dưới góc độ
phương pháp luận có thể xem xét các giá trị phổ biến của chủ nghĩa MácLênin về xây dựng Đảng Cộng sản từ các yếu tố sau đây:
Trước hết, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định tính tất yếu
phải có Đảng Cộng sản để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản
đi tới thắng lợi cuối cùng, vì mục tiêu chủ nghĩa cộng sản. C.Mác và
Ph.Ăngghen đã viết rằng: "Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai
8
cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các
giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công
nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công
nghiệp"[7,610].
Thứ hai, nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định rằng: Đảng
Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học và
phong trào công nhân. Tư tưởng về chủ nghĩa xã hội là vũ khí tinh thần của
giai cấp vô sản, còn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống chủ
nghĩa tư bản là vũ khí vật chất của giai cấp vô sản.
Thứ ba, bản chất của Đảng Cộng sản chính là bản chất của giai cấp vô
sản. Về lý luận, những người cộng sản là những người nắm được tiến trình
vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người. Về thực tiễn, những người
cộng sản là bộ phận trung kiên nhất, hăng hái nhất trong hàng ngũ giai cấp vô
sản. Do đó, bản chất của Đảng Cộng sản là bản chất cách mạng và khoa học,
là thuộc tính bản chất vốn có của giai cấp công nhân.
những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin về Đảng Cộng sản. Có
thể khái quát một số giá trị đặc thù của tư tưởng Hồ Chí Minh sau đây:
Trước hết, nét đặc thù trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng
Cộng sản là sự nhận thức thực tiễn cách mạng Việt Nam và các yêu cầu cụ thể
trong xây dựng Đảng. Thực tiễn lịch sử Việt Nam trong những năm đầu thế
kỷ XX là một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Chính hoàn cảnh lịch sử này
đã quy định nét sáng tạo trong việc vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin để
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2-1930. Di sản lý luận của
chủ nghĩa Mác-Lênin, có tính lịch sử của thời đại giữa thế kỷ XIX ở các nước
châu Âu, đặc biệt là Anh, Pháp, Đức, nên đối tượng chủ yếu là xã hội công
nghiệp tư bản chủ nghĩa. Trong xã hội đó, phong trào công nhân đóng vai trò
chủ yếu và quyết định. Còn trong xã hội Việt Nam, với hơn 90 phần trăm là
nông dân, thì phong trào công nhân chỉ đóng vai trò là hạt nhân, nòng cốt, còn
lực lượng đông đảo chính là phong trào yêu nước của nhân dân lao động, mà
chủ yếu là nông dân.
Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo trong chuẩn bị một phong
trào quần chúng rộng khắp nhằm tổ chức đội tiên phong của phong trào đó vì
để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, Hồ Chí
Minh đã từng bước truyền bá lý luận về chủ nghĩa cộng sản vào cả những
người trí thức trẻ tuổi của phong trào công nhân và từng bước tuyên truyền
vào phong trào yêu nước rộng lớn từ Nam chí Bắc. Đây là bước chuẩn bị về
10
tư tưởng chính trị có ý nghĩa rất quan trọng để tạo nên sự chuyển hoá về chính
trị của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Thứ ba, nguyên lý sáng tạo có ý nghĩa quan trọng nhất của Hồ Chí Minh
là công thức thành lập Đảng Cộng sản. Ở Việt Nam, xuất phát từ điều kiện
lịch sử lúc đó, Hồ Chí Minh đã xây tạo nên một giá trị lý luận có tính sáng tạo
sâu sắc, đó là sự kết hợp hữu cơ giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào
trong Đảng có vai trò quyết định đối với công cuộc lãnh đạo của Đảng, có ý
nghĩa quan trọng như "Giữ gìn con ngươi của mắt mình". Vì vậy, dù lịch sử
có nhiều biến động, thay đổi, nhưng tính thống nhất trong Đảng Cộng sản
Việt Nam từ khi thành lập cho đến nay đã trở thành một truyền thống, một giá
trị lý luận nổi bật, trên cơ sở nguyên tắc tự phê bình và phê bình làm quy luật
phát triển. Do vậy, cần nhận thức truyền thống đoàn kết, thống nhất trong
Đảng Cộng sản là một di sản lý luận vô cùng quý báu, là sản phẩm tinh thần
và tư tưởng với sự sáng tạo cao của Hồ Chí Minh.
Từ sự khái quát trên để chúng ta hiểu sâu sắc hơn rằng, Mác, Ăngghen,
Lênin là người xác định các nguyên lý phổ biến cho xây dựng Đảng Cộng sản
nói chung còn xây dựng các Đảng Cộng sản cụ thể còn phải vận dụng các
nguyên lý chung và hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt là việc xác định các yêu cầu
đặc thù. Đó là một sáng tạo lớn, thành tựu đó trước hết thuộc về Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
Về quan hệ biện chứng giữa cái phổ biến và cái đặc thù
Bản chất của thế giới khách quan là liên hệ và chuyển hoá lẫn nhau, luôn
luôn vận động và phát triển. Hệ thống các phạm trù khoa học, từ sự khái quát
một cách đúng đắn thực tại khách quan, cũng luôn liên hệ và chuyển hoá lẫn
nhau, phát triển từ thấp đến cao vừa phát triển của thế giới, theo quy luật vừa
theo quy luật tiến lên của nhân loại. Vì vậy, các phạm trù triết học như cái
phổ biến, cái đặc thù và vận dụng nó vào lĩnh vực xây dựng Đảng luôn có mối
quan hệ biện chứng, tác động và chuyển hoá lẫn nhau, không tách rời. Tính
biện chứng của cái phổ biến và cái đặc thù biểu hiện:
Thứ nhất, trong quá trình phát triển giá trị của các phạm trù trên, cái phổ
biến và cái đặc thù luôn luôn liên hệ và chuyển hoá lẫn nhau, không tách rời.
Chính sự tương tác giữa hai giá trị này làm cho hệ giá trị tổng hợp của nó
ngày càng phát triển và hoàn thiện. Các nguyên lý phổ biến trong xây dựng
Đảng Cộng sản làm sâu sắc các yêu cầu đặc thù, định hướng cho sự phát triển
của từng Đảng theo yêu cầu chung. Việc phát hiện các yêu cầu cụ thể làm
phong phú, giàu có những nguyên lý phổ biến, làm cho những nguyên tắc
nền tảng vững chắc đó để vận dụng các quy luật chung và phát triển sáng tạo,
để phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam. Mặt khác,
Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước, một lãnh tụ cách mạng luôn đề cao yếu tố
dân tộc trong cộng đồng nhân loại. Do đó, tính sáng tạo từ những nguyên lý
chung cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam luôn
được vận dụng vào mọi lúc, mọi nơi trong quá trình xây dựng và phát triển
13
Đảng. Sáng tạo là đạt điểm nổi bật trong văn hoá xây dựng và phát triển Đảng
của Hồ Chí Minh. Chính từ tư duy sáng tạo này mà Hồ Chí Minh đã vận dụng
rất thành công những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin, hiện thực
hoá, cụ thể hoá các nguyên tắc chung đối với sự hình thành, phát triển của
Đảng Cộng sản.
1.1.2 Những vấn đề phương pháp luận cơ bản của Mác, Ăngghen, Lênin
về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản.
Tiếp cận những vấn đề triết học của các nhà kinh điển về xây dựng đảng
kiểu mới của giai cấp vô sản khác với những vấn đề cụ thể mà các nhà kinh
điển đề cập đến công tác xây dựng đảng. Do vậy, yêu cầu sự tiếp cận này cần
làm rõ những quy luật chung rút ra được các nguyên lý chung trong xây dựng
Đảng cách mạng.
Lịch sử vận động và phát triển của giai cấp công nhân hiện đại đã chứng
minh rằng, không có chính Đảng của giai cấp mình thì giai cấp vô sản không
thể tiến hành cuộc cách mạng vô sản nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng
xã hội cộng sản. Đó là tính tất yếu, là quy luật phát triển chung của lịch sử
nhân loại.
Trong tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", Mác và Ăngghen
đã nhấn mạnh rằng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là người đào huyệt
chôn chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, sứ mệnh đó phải được biểu hiện trong
mối quan hệ biện chứng giữa lý luận triết học và giai cấp vô sản. Chỉ khi
nó mà Mác và Ăngghen phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản cách
mạng, hai ông chỉ rõ: "Như vậy là sự phát triển của đại công nghiệp đã phá
sập, dưới chân của giai cấp tư sản, chính ngay cái nền tảng trên đó giai cấp tư
sản xây dựng nên chế độ sản xuất và chiếm hữu của nó. Trước hết, giai cấp tư
sản tạo ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư
sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau"[7,557]. Tính tất yếu
khách quan và yêu cầu thực tế của cuộc đấu tranh đặc biệt đó đưa đến nhu cầu
khách quan trong xây dựng Bộ Tham mưu cho cuộc đấu tranh lịch sử đó.
Quy luật hình thành Đảng Cộng sản đã được Mác và Ăngghen chỉ ra
rằng, đó là sự kết hợp giữa lý luận cách mạng và phong trào đấu tranh của
giai cấp vô sản. Mối quan hệ giữa những người cộng sản và giai cấp vô sản đã
được Mác và Ăngghen xem xét trong mối quan hệ biện chứng, thống nhất
trong sự khác biệt. Các vấn đề có tính nguyên tắc chung để phân biệt đội tiền
phong và giai cấp vô sản có ý nghĩa chỉ đạo cụ thể đối với các Đảng Cộng sản
cụ thể.
15
Nguyên tắc phương pháp luận đó vừa đòi hỏi nhận thức đúng sự thống
nhất, vừa không thừa nhận không có sự khác biệt trong quá trình hình thành
và phát triển của các Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế.
Sự thống nhất giữa những người Cộng sản và giai cấp vô sản biểu hiện
trước hết ở sự thống nhất về lợi ích và mục đích cuối cùng của cuộc đấu
tranh, đó là lật đổ chế độ tư sản. "Mục đích trước mắt của những người cộng
sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các Đảng vô sản khác, tổ chức
những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai
cấp vô sản giành lấy chính quyền"[7,558].
Sự khác nhau có ý nghĩa rất căn bản giữa những người Cộng sản và giai
cấp vô sản chính là những người Cộng sản luôn nắm vững quy luật vận động,
phát triển của lịch sử xã hội, nắm được mục đích cuối cùng của phong trào vô
thống trị run sợ khi nghĩ đến một cuộc cách mạng Cộng sản chủ nghĩa! Trong
cuộc cách mạng ấy, họ giành được cả một thế giới cho mình" [7,586]. Thực
hiện được mục tiêu trên, chỉ có thể thống nhất trong toàn bộ giai cấp vô sản
toàn thế giới. Đoàn kết là cơ sở, là động lực để khẳng định sức mạnh bản chất
của những người Cộng sản và giai cấp vô sản. "Vô sản tất cả các nước, đoàn
kết lại" là khẩu hiệu nổi tiếng của Mác và Ăngghen nhằm thống nhất sức
mạnh của giai cấp vô sản toàn thế giới để thực hiện mục đích cuối cùng: xây
dựng một xã hội mới - xã hội Cộng sản chủ nghĩa.
Như vậy, tiêu đề về tư tưởng triết học của Mác và Ăngghen nói về quy
luật phát triển Đảng có thể tóm tắt trong các yếu tố sau đây:
Thứ nhất, sự ra đời của Đảng Cộng sản là một tất yếu lịch sử, do sự vận
động thông qua đấu tranh giai cấp, sự phát triển của nền đại công nghiệp tư
bản chủ nghĩa.
Thứ hai, giai cấp vô sản có vai trò sứ mệnh lịch sử hết sức lớn lao, là đào
huyệt chôn chủ nghĩa tư bản. Đó là giai cấp triệt để cách mạng, xoá bỏ xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới.
Thứ ba, sự ra đời của Đảng Cộng sản là kết quả tất yếu của mối quan
hệ kết hợp giữa lý luận cách mạng với phong trào công nhân trong các
nước tư bản.
Thứ tư, Đảng Cộng sản là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, là tập
hợp đội ngũ trung kiên nhất, kiên quyết cách mạng nhất, nhằm mục đích
hướng tới xoá bỏ chế độ tư hữu, xây dựng xã hội Cộng sản chủ nghĩa.
Thứ năm, Đảng Cộng sản, trong toàn bộ hoạt động của mình, phải trải
qua các giai đoạn khác nhau mà trước hết đó là giành lấy chính quyền về tay
17
giai cấp vô sản, để tiếp tục thực hiện cách mạng triệt để trên tất cả mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Lịch sử bước sang thời kỳ mới, là người kế tục sự nghiệp của Mác và
mình tới một mức độ nào đó với quần chúng lao động rộng rãi nhất, trước hết
là với quần chúng vô sản, nhưng cũng cả với quần chúng lao động không phải
là vô sản"[97,421]. Tư tưởng này là cơ sở cho sự gắn bó máu thịt giữa Đảng
19
Cộng sản và quần chúng nhân dân, là nhân tố đoàn kết, tạo nên sức mạnh vô
địch để giành thắng lợi. Đó cũng là cơ sở để phát huy vai trò dân chủ của
quần chúng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống bọn áp bức và bọn bóc lột.
"Thứ ba, là sự lãnh đạo chính trị đúng đắn mà đội tiên phong ấy đã thực
hiện được, chiến lược và sách lược chính trị đúng đắn của nó, nhưng điều cần
thiết là quảng đại quần chúng, do kinh nghiệm bản thân tin tưởng vững chắc
vào sự đúng đắn ấy". [97,421]. Vấn đề đường lối chính trị chiến lược và sách
lược đúng đắn là yếu tố có ý nghĩa quyết định nhất để thể hiện tầm vóc, sức
mạnh và uy tín đi lên của một Đảng cách mạng.
Tất cả những điều kiện trên, theo Lênin là một thực tế thống nhất biện
chứng, tác động lẫn nhau nhằm bảo đảm cho mọi thắng lợi của một chính
Đảng vô sản. Lênin đã khẳng định rằng: "Thiếu những điều kiện đó thì không
thể thực hiện được kỷ luật trong một Đảng cách mạng, thật sự có khả năng là
Đảng của giai cấp tiên phong, giai cấp có sức mạnh đánh đổ giai cấp tư sản và
cải tạo toàn thể xã hội. Thiếu những điều kiện đó, thì mọi ý đồ thiết lập ra kỷ
luật ấy không khỏi biến thành những câu nói rỗng, những điều gian dối, giả
tạo".[97,421]
Lênin cũng nhấn mạnh rằng, không phải tất cả mọi điều đều xuất hiện
một cách dễ dàng từ trên trời rơi xuống, mà trải qua một quá trình hoạt động
thực tiễn lâu dài, bao khó khăn thử thách, gắn bó một cách chặt chẽ với phong
trào cách mạng của quần chúng nhân dân, vì nhân dân là người làm nên lịch
sử. "Những điều kiện nói trên không thể xuất hiện ngay tức khắc chỉ có trải
qua một công tác lâu dài, một kinh nghiệm gian khổ, mới tạo ra những điều
kiện ấy; nhờ có một lý luận cách mạng đúng đắn, không phải là giáo điều và
thực tiễn nữa. Trước khi chúng ta chiến thắng bằng phương pháp trấn áp thì
sau này chúng ta sẽ có thể chiến thắng bằng phương pháp quản lý"[102,209].
Bước chuyển từ nhiệm vụ chiến đấu giành chính quyền sang nhiệm vụ
xây dựng một xã hội mới là một sự nhảy vọt về chất trong vai trò vị trí lịch
sử, cũng như trong thực tiễn phong phú sinh động mới nhiệm vụ của Đảng
Cộng sản. Đây là sự thử thách toàn diện những người cộng sản cả về đường
lối chiến lược, mục tiêu của cách mạng, về lòng dũng cảm hy sinh trên mặt
trận mới - mặt trận tổ chức xây dựng. Hơn bao giờ hết sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn đã được Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích chuyển hoá vào quá
trình xây dựng một xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa, dù mới chỉ là
những bước đi chập chững ban đầu.
Trong điều kiện mới của Đảng Cộng sản không chỉ lãnh đạo chính
quyền, lãnh đạo đất nước bằng quyết tâm, bằng lòng nhiệt tình cách mạng và
21
trước hết phải bằng trí tuệ, bằng sự học vấn, sự hiểu biết cao đối với tất cả
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Lênin đã đề ra yêu cầu đối với người cộng
sản là phải học tập cách làm kinh tế của chủ nghĩa tư bản, phải học cách buôn
bán, học cách làm thương nghiệp. Người cộng sản không được kiêu ngạo, tự
mãn về sự hiểu biết của mình mà phải luôn lắng nghe, luôn luôn khiêm tốn
học hỏi. Lênin đã yêu cầu tất cả mọi người cộng sản: "Một là, chúng ta phải
học, hai là chúng ta phải học tập nữa, ba là chúng ta phải học tập mãi". Tư
tưởng đó là động lực phát triển cho trí tuệ, cho nhận thức của những người
đảng viên cộng sản để làm tròn nhiệm vụ người chiến sĩ tiên phong.
Nguy cơ của một Đảng cầm quyền là quan liêu, mệnh lệnh xa rời quần
chúng nhân dân. Đó là bản chất trái hoàn toàn với mục tiêu và bản chất tốt
đẹp của Đảng. Lênin đã chỉ ra rằng: "Những người quan liêu là những nhân
vật có đặc quyền thoát ly quần chúng và đúng trên quần chúng, đem lợi ích
của sự nghiệp phục tùng lợi ích của tư tưởng thăn quan tiến chức, tức là hết
và nhân dân yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, với sự truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin vào Việt Nam của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các lực lượng
cách mạng khác cùng với nhân tố chủ quan là các điều kiện tiên quyết cho
sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là kết quả của quân nhân, song
công lao trước hết thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội Đảng lần thứ
IX của Đảng đã khẳng định: "Thắng lợi to lớn của sự nghiệp chống Mỹ,
cứu nước cũng như những trang sử chói lọi của cách mạng Việt Nam ngót
thế kỷ nay mãi mãi gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người
sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai sinh ra nền cộng hoà dân chủ
Việt Nam, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực
lượng vũ trang cách mạng, vĩ lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và
nhân dân ta, người anh hùng dân tộc vĩ đại, người chiến sĩ lỗi lạc của
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế".
Vào thời điểm lịch sử của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ có nhiều
phong trào yêu nước xuất hiện, nhưng không có một phong trào nào của
các sĩ phu phong kiến hoặc theo khuynh hướng tư sản đi đến thành công.
Các phong trào đó lần lượt bị thực dân Pháp đàn áp và thất bại. Trong
các nguyên nhân đó có nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ quốc tế quốc gia; lý luận - thực tiễn, lãnh tụ - quần chúng hạn chế, không đáp
ứng yêu cầu khách quan.
Với nhãn quan chiến lược rộng lớn, tầm nhìn thời đại sâu sắc, Nguyễn
Ái Quốc rất trân trọng tinh thần yêu nước nhưng không đi theo lối mòn của
các nhà yêu nước tiền bối, mà đã có cuộc cách mạng trong nhận thức, tư
duy theo phương pháp mác xít. Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng đắn học
thuyết Mác-Lênin là lý thuyết có tính khoa học cách mạng cao, là lý luận
soi đường của cuộc đấu tranh giải phóng báp bức, bóc lột, giành độc lập
24
dân tộc và phát triển một xã hội phù hợp với quy luật phát triển của thời đại
mới. Về thực tiễn Người đã trực tiếp tổ chức lực lượng và phong trào cách
25