Tư tưởng hồ chí minh về cán bộ và việc vận dụng trong hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở việt nam hiện nay - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH VÂN

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ VÀ VIỆC VẬN
DỤNG TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH VÂN

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ VÀ VIỆC VẬN
DỤNG TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật
Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế

Hà Nội – 2015


1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
...........................................................................................................................
8
1.1.3. Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề cán bộ.............10
1.2. Vị trí, vai trò của cán bộ theo Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh......................13
1.3. Tiêu chuẩn của ngƣời cán bộ theo Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.............18
1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức của người cán bộ.............................. 18
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tài của người cán bộ................................ 26
1.3.3. Người cán bộ phải có trình độ lý luận.................................................34
1.3.4. Các tiêu chuẩn khác theo tư tưởng Hồ Chí Minh.............................. 35
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
TRONG VIỆC VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY.................................................................................................................42
2.1. Thực trạng về hệ thống pháp luật và đội ngũ cán bộ, công chức ở
Việt Nam hiện nay.........................................................................................42
2.1.1. Thực trạng về hệ thống pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện
nay...................................................................................................................42
2.1. 2. Thực trạng về việc thi hành pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam


hiện nay...........................................................................................................52
2.1.3. Thực trạng về đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay........54


2.2. Nguyên nhân........................................................................................... 60
2.3. Quan điểm và phƣơng hƣớng của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam trên cơ sở vận
dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh....................................................................... 61
2.3.1. Quan điểm của Đảng về cán bộ trong thời kỳ mới............................. 62

phú, trong đó vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề được Người quan tâm
hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng một khi
đã có đường lối cách mạng đúng thì cán bộ là khâu quyết định. Người coi
“cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “là dây chuyền của bộ máy” và “là
tiền vốn của Đoàn thể” do đó “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán
bộ tốt hay kém”. Trong sự phát triển của đất nước ta hiện nay, vai trò của cán
bộ lại càng được nhấn mạnh và đề cao. Bởi cán bộ vừa là người đề xuất ra các
chủ trương, các chính sách vừa là người trực tiếp tổ chức, thực hiện, bày ra
các cách để cho nhân dân làm theo, làm cho các đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước được đi đúng hướng và hoạt động có hiệu quả.
Kế thừa tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất
coi trọng công tác cán bộ, luôn quan tâm xây dựng, phát triển và nâng cao
1


chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan, tổ chức của mình.
Vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức theo tư tưởng Hồ
Chí Minh đã được thể hiện rõ trong nhiều văn kiện của Đảng và văn bản pháp
luật của Nhà nước như Luật cán bộ, công chức năm 2008; Nghị định số
24/2010/NĐ-CP của Chính Phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức,
Nghị định số 21/2010/NĐ-CP về quản lý biên chế công chức, Nghị định
18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức…Những văn bản này tạo
tiền đề cho việc hình thành đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch vững mạnh,
vừa hồng, vừa chuyên, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đến
thắng lợi cuối cùng theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hiện nay, cùng với những nỗ lực cải cách để phát triển, dân chủ và nhân
quyền, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng đã đang được ngày
càng hoàn thiện. Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng, bên cạnh những
mặt đã đạt được, công tác cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay đang gặp phải
nhiều vấn đề lớn mang tính chất lực cản cho sự phát triển chung của xã hội,

Với đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và việc vận dụng trong
hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay”, tác giả đi sâu
vào phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ với mục tiêu cuối
cùng là chỉ ra những thiếu sót về mặt luật pháp, những thực trạng cụ thể khi
thi hành pháp luật cán bộ, công chức, từ đó đưa ra những kiến nghị và giải
pháp nhằm cải thiện những thực trạng đã nêu.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể:
Với mục tiêu tổng quát như trên, luận văn của tôi muốn đạt tới một số
mục tiêu cụ thể sau:
Một là, làm rõ những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ trong đó
có nêu ra khái niệm cán bộ; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng
3


sản Việt Nam về cán bộ; vị trí, vai trò của cán bộ; về tiêu chuẩn của cán bộ và
phẩm chất cơ bản của cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hai là, phân tích làm rõ thực trạng quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh trong việc hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức hiện nay ở Việt NamNhững ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
Ba là, đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cán bộ,
công chức ở nước ta hiện nay đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa, chuyên
nghiệp hóa, minh bạch hóa và hiệu quả, xây dựng một đội ngũ cán bộ, công
chức vừa hồng vừa chuyên phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và
thực tiễn hiện nay của Việt Nam.
1.3. Tính mới và đóng góp của luận văn
Đề tài tôi lựa chọn là đề tài có tinh mới và đóng góp của luận văn, cụ thể:
-

Góp phần nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và

quá trình vận dụng tư tưởng đó trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cán

cán bộ.
-

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những nội dung cơ bản của tư tưởng

Hồ Chí Minh về cán bộ và hệ thống pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam
hiện nay.
1.5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bọ, đồng thời
tác giả có tham khảo thêm các công trình nghiên cứu của một số tác giả có
liên quan đến luận văn.
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các biện pháp phân
tích, tổng hợp, phương pháp logic- lịch sử, phương pháp so sánh, đối chiều,
phương pháp chuyên gia để luận giải các vấn đề.
1.6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu,kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài
liệu tham khảo, để giải quyết vấn đề trên, luận văn gồm 02 chương, cụ thể:
Chƣơng 1: Nội dung cơ bản Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức và việc vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam
hiện nay.

5


CHƢƠNG 1: NỘI DUNG CƠ BẢN TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ CÁN BỘ
1.1. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt


(như cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị).
2.

Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân

biệt với người thường không có chức vụ. [41,5]
Theo từ điển Hành chính “Cán bộ là người có đủ các điều kiện được
tuyển dụng vào làm việc ở các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị- xã hội, tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập, tổ chức lực lượng vũ
trang; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, có trình độ
chuyên môn từ trung cấp trở lên. Từ cán bộ được sử dụng rộng rãi trong các
nước Xã hội chủ nghĩa trước đây (cán bộ, công nhân). Cán bộ, công chức khi
thi hành nhiệm vụ, công vụ được pháp luật và nhân dân bảo vệ”. [ 39,46]
Theo Khoản 1 và khoản 3 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 có
hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định:
“1. Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
2.

Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân

Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy, người đứng
đầy tổ chức chính trị- xã hội….”
Như vậy, quan niệm về cán bộ có rất nhiều ý kiến khác nhau. Các ý kiến

1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
Ngay từ khi bắt gặp ánh sáng cách mạng của Chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ
Chí Minh đã sớm nhận thức được vị trí, vai trò của người cán bộ trong sự
nghiệp cách mạng. Tháng 6 năm 1923, Người rời nước Pháp đi đến Liên Xô
dự Đại hội V Quốc tế cộng sản. Chuyến đi này Người mang theo một khát
vọng muốn hiểu biết thực tiễn chủ nghĩa xã hội như thế nào để truyền bá nó
vào Việt Nam, đồng thời Người cũng muốn thông qua một đại hội của Quốc
tế Cộng sản để trình bày thực tế của sự đàn áp của chủ nghĩa đế quốc ở thuộc
8


địa với mong muốn giúp cho những người cộng sản trên thế giới hiểu được
tình trạng khổ cực của nhân dân lao động các nước này.
Ngay từ những năm đầu đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, Người đã có một
suy nghĩ là “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh hộ, tổ chức họ, đoàn
kết hộ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” [20,192]
Trong một thời gian ngắn sống ở nước Nga Xô viết, được chứng kiến
những thay đổi to lớn của nhân dân Liên Xô do cách mạng xã hội chủ nghĩa
đem lại, Người đã có một dự định cho công tác tuyên truyền, tổ chức lực
lượng cho cách mạng Việt Nam:
“1. Xuất bản một tờ báo nhỏ Tiếng Việt
2.

Tập hợp những phần tử dân tộc cách mạng.

3.

Cố gắng đưa những thanh niên người bản xứ đi Matxcova

4.

Bác Hồ trong suốt cuộc đời cách mạng của mình rất mực quan tâm đến
cán bộ. Cán bộ mà chúng ta bàn tới đây theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là những người làm trong các cơ quan, đoàn thể, công sở, lực lượng vũ
trang. Họ có thể giữ chức vụ chỉ huy, phụ trách, quản lý, lãnh đạo hoặc làm
công tác nghiệp vụ chuyên môn đơn thuần.
Tóm lại, cán bộ là những người hoạt động trong những thời kỳ cách
mạng, thoát ly, có hưởng lương hoặc phụ cấp để phân biệt nhân dân và là đầy
tớ của nhân dân. Tuy nhiên, trong các bài viết của mình, Hồ Chí Minh nhấn
mạnh nhiều đến cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, những người chịu trách
nhiệm trực tiếp và to lớn, nặng nề trước nhân dân và toàn dân tộc.
1.1.3. Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề cán bộ
“Cán bộ là nhận tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với
vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ”. [44,66] Trong quá trình lãnh
đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ và coi đây là một
trong những vấn đề có vai trò quyết định đối với toàn sự nghiệp cách mạng.
Trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa
10


VIII đã khẳng định: “Trong công cuộc đổi mới đất nước, cán bộ cũng có vai
trò cực kỳ quan trọng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đất nước….”
[44,24] Trong lãnh đạo, quản lý Nhà nước, cán bộ có ý nghĩa nghĩa quan
trọng và là khâu then chốt. Nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí của cán bộ,
Đảng ta đã đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối đúng đắn và tổ chức thực
hiện thắng lợi đường lối chính trị đó. Đây là vấn đề quyết định bảo đảm cho
giai cấp vô sản giành chính quyền, xây dựng và bảo vệ chính quyền. Có
đường lối đúng đắn, có phương pháp tổ chức thực hiện đường lối có hiệu quả
vẫn chưa đủ mà Đảng và giai cấp vô sản phải có đội ngũ cán bộ có đủ phẩm
chất và năng lực, trí tuệ đáp ứng được đòi hỏi của mỗi thời kỳ phát triển đất
nước, vì cán bộ chính là người xây dựng đường lối của Đảng và cũng là người

được tầm quan trọng của công tác cán bộ, vai trò của cán bộ, ngày 26/02/2008
Quốc Hội đã ban hành Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực thi hành ngày
01/01/2010 mà trước đó là Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi bổ sung năm
2003. Việc ban hành Luật này đã thể hiện sự quan tâm thích đáng của Nhà
nước tới công tác cán bộ, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bọ, công
chức từ việc thể chế hóa những tiêu chuẩn, quy định về công việc, hành vi,
trách nhiệm…của từng cán bộ, công chức trong hoạt động công tác.
Tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã xác định những đối
tượng được công nhận là cán bộ, công chức như sau:
“1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
12


2.

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào

ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối

nói “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”
[11,240], nghĩa là khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại
của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và
nơi kiểm tra…cả ba điều ấy đều rất quan trọng và quyết định ở người cán bộ.
Hồ Chí Minh cho rằng “cán bộ là gốc của mọi công việc” [11,269] nên
người cán bộ không phải là “ông quan cách mạng”, càng không phải là người
có “quyền sinh, quyền sát” như vua chúa thời phong kiến, mà chỉ là người đầy
tớ của nhân dân, người đại diện, đại biểu cho lợi ích, nguyện vọng của nhân
dân, có trách nhiệm thi hành nhiệm vị mà nhân dân giao phó. Người cán bộ
không được cho mình đứng ở vị trí lãnh đạo, chỉ tay năm ngón điều hành
công việc mà phải sâu sát cơ sở, bám sát quần chúng nhân dân, xây dựng mối
quan hệ gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân.
Đối với Hồ Chí Minh, cán bộ các cấp đều có vị trí quan trọng và có liên
hệ chặt chẽ với nhau trong tổ chức của Đảng. Nếu cán bộ lãnh đạo ở cấp
Trung ương là những cán bộ cấp chiến lược có trách nhiệm hoạch định hoặc
gắn với việc hoạch định chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, thì cán
bộ lãnh đạo cấp cơ sở lại có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng tổ chức Đảng và
hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, trực tiếp lãnh đạo các tầng lớp nhân dân
thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. Họ là những người hội tụ đầy đủ
các yếu tố: gần dân nhất, trực tiếp nhất, công việc nhiều nhất nên sự nghiệp
14


cách mạng có thành công hay không phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ này.
Người khẳng định “Cấp xã là người gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành
chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi” [11,371].
Mở rộng quan điểm về vị trí, vai trò của người cán bộ, Hồ Chí Minh
đồng thời cũng khẳng định vai trò, vị trí của người Đảng viên. Theo quan
điểm của Hồ Chí Minh thì mỗi đảng viên của Đảng cũng là cán bộ, họ vẫn là
những người lãnh đạo, mặc dù họ chỉ là những đảng viên bình thường, không

đặt ra khẩu hiện và chỉ thị luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh
nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và địa phương”.
2.

Cán bộ là người đưa đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào

trong cuộc sống. Muốn để người dân tiếp nhận những đường lối chính sách
của Đảng cũng như chính sách pháp luật của Nhà nước, đòi hỏi người cán bộ
phải có phẩm chất đạo đức sao cho để cho dân tin, dân mến, dân làm theo.
Nếu dân không tin thì cán bộ không thể tiếp cận được với dân để tìm hiểu về
dân. Muốn dân hiểu, dân làm thì người tuyên truyền phải biết cách tuyên
truyền, do đó người cán bộ tuyên truyền phải hiểu đường lối đó một cách thấu
đáo, phải có tài trong tuyên truyền, thuyết phục nhân dân một cách có lý, có
tình, làm cho họ hiểu rõ “thì việc gì khó mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy
họ cũng không sợ” [14,241]
3.

Cán bộ là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của

Nhà nước và là người bày cách cho dân làm. Cán bộ không chỉ là người tổ
chức thực hiện đường lối cho nhân dân trong thời kỳ đấu tranh giành chính
quyền mà ngay cả trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, Vì: đấu tranh
giành chính quyền đã khó nhưng xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa trên
các lĩnh vực lại không hề đơn giản. Quá trình xây dựng xã hội mới là một quá
trình khó khăn, phức tạp, lâu dài, gian khổ bởi: Việt Nam từ một nước sản
xuất nhỏ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa lại càng
khó khăn hơn các nước khác, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn,
16





xấu. Song đã là người cán bộ cách mạng thì phải cố gắng phát triển những
tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì “tính xấu của một người thường chỉ có
hại cho người đó, còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ thì sẽ có hại
đến Đảng, có hại đến nhân dân” [14,254]
Nhấn mạnh vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, song Người
không cho rằng “cán bộ quyết định tất cả” mà “cách mạng là sự nghiệp của
quân chúng nhân dân, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng
nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã có tổ chức và phát huy lực
lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới
lá cờ tất thắng của Chủ nghĩa Mác- Lênin” [19,197]. Do đó, Người luôn đề
cao vai trò của quần chúng nhân dân và đặt người cán bộ trong mối quan hệ
với nhân dân “dân như nước, cán bộ như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhở ở
dân hết”. Người khẳng định “nước lấy dân làm gốc” còn “cán bộ quyết định
mọi việc” [18,480]. Sự “quyết định” ở đây là cán bộ phải đi trước, làm gương
về tư tưởng đạo đức, thái độ, lề lối làm việc. Muốn phát huy được đầy đủ tính
sáng tạo của hàng triệu quần chúng nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì
Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao
động sáng tạo của hàng chục triệu người, thì cán bộ phải đi trước, tự cải tạo
mình, tự nâng cao mình. Cán bộ phải có lập trường giai cấp vô sản vững chắc,
giác ngộ về Chủ nghĩa xã hội cao; phải rửa sạch ảnh hưởng của những tư
tưởng của giai cấp bóc lột, rửa sạch chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện tinh thần và
ý thức tập thể.
1.3. Tiêu chuẩn của ngƣời cán bộ theo Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức của người cán bộ
1.3.1.1. Người cán bộ phải có phẩm chất đạo đức cách mạng
Đây là một trong những phẩm chất hàng đầu và quan trọng bậc nhất đối
với người cán bộ làm cách mạng. Trong thời đại Hồ Chí Minh, đất nước ra,
18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status