Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN SỸ HÙNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGOẠI GIAO
VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ


Mã số: 603127 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HOÀNG VĂN TUỆ
HÀ NỘI – 2011
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………… 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6. Những đóng góp của luận văn 6
7. Kết cấu của luận văn 6


2.1 Tình hình thế giới và trong nước……………………………………………78
2.1.1 Xu thế, đặc điểm tình hình thế giới………………….………………………78
2.1.2 Tình hình trong nước……………………………………………………… 82
2.2 Vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay ….86
2.2.1. Những thành tựu của ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn đất nước đổi
mới…………………………………………………………………………………86

2.2.2 Một số tồn tại, khó khăn, thách thức của ngoại giao Việt Nam hiện nay
(nguyên nhân của nó)………………………………………………………… ….99
2.2.3 Những giải pháp để ngoại giao Việt Nam đáp ứng được yêu cầu phát triển đất
nước…………………………………………………………………………….….91
a. Xây dựng đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết
cùng với tăng cường đoàn kết mở rộng hợp tác quốc tế, phát huy tinh thần quốc tế
trong sáng thuỷ chung…………………………………………………………… 91
b. Ngoại giao phải biết đánh giá đúng tình hình trong nước và quốc tế, nắm được
xu thế vận động và động cơ của đối tác; tạo khuôn khổ ổn định, lâu dài và ngày
càng đi vào chiều sâu quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng chung biên
giới. kết hợp giữa tư duy biện chứng với thực tiễn……………………………… 95
c. Phối hợp chặt chẽ giữa các mặt trận chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối
ngoại. Đặc biệt ngoại giao Việt Nam phải chuyển mạnh sang ngoại giao kinh tế và
tiến hành ngoại giao kinh tế một cách hiệu quả………………………………… 98
d. Đẩy mạnh ngoại giao văn hóa…………………………………………………101
đ. Yêu cầu thích nghi với sự đa dạng về đối tác trong bối cảnh hội nhập và đẩy
mạnh hơn nữa các hình thức ngoại giao khác……………………………………102
e. Phải thích nghi với sự phát triển của các lực lượng trong nước tham gia hoạt
động đối ngoại……………………………………………………………………104
g. Ngoại giao phải hoàn thiện những năng lực mới…………………………… 104


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam,
là anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới. Người chèo lái
con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hồ
Chí Minh không chỉ là người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, Quân đội nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Người còn là nhà
hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trên lĩnh vực
ngoại giao, Hồ Chí Minh là nhà ngoại giao kiệt xuất, người sáng lập ra nền
ngoại giao Việt Nam hiện đại.
Đại hội VII của Đảng 1991 đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
mọi hành động”. Đảng đã nhận thức được những giá trị có ý nghĩa chiến lược,
đúng đắn và phù hợp với thực tế cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí
Minh nói chung và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh nói riêng. Thực tế đã

nói riêng là mảng đề tài được học tập, nghiên cứu, vận dụng phát triển mạnh
mẽ và rộng khắp trong nhân dân, giới học giả và các nhà nghiên cứu. Việc
nghiên cứu và bàn luận về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu như:
Công trình nghiên cứu “phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh”
của giáo sư Đặng Xuân Kỳ, NXB LLCT, 2004 cũng đã trình bày một số vấn
đề có liên quan đến khái niệm “ phương pháp” và “phong cách” Hồ Chí
Minh, từ khái niệm tác giả xây dựng hệ thống các phương pháp cách mạng
Hồ Chí Minh và hệ thống các phong cách đặc trưng tiêu biểu của Người, từ
đó tác giả cũng khẳng định tầm quan trọng của việc nghiên cứu và vận dụng
sáng tạo phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh.
Công trình nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận
dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới” của Tiến sĩ Đinh Xuân Lý, NXB
CTQG, 2007, tác giả đã đi sâu vào việc tìm hiểu những nội dung tư tưởng Hồ
3
Chí Minh về đối ngoại, thành tựu của hoạt động đối ngoại Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Hồ Chí Minh, quá trình Đảng ta nhận thức và vận dụng tư tưởng
đối ngoại của Người trong thời kỳ đổi mới.
Công trình nghiên cứu “Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh” của
nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, NXB CTQG, 2002 tác
giả đã đi sâu vào việc phân tích một số vấn đề về nguồn gốc hình thành tư
tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, lý giải những luận điểm và quan điểm của Hồ
Chí Minh về các vấn đề thế giới, thời đại, quan hệ quốc tế, chính sách đối
ngoại của Đảng và nhà nước Việt Nam, ngoại giao Việt Nam, tác giả còn đưa
ra một số phương pháp, phong cách và nghệ thuật đặc sắc trong hoạt động
quốc tế và ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời đưa ra ý kiến về
vận dụng tư tưởng, khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống lý

Nhiệm vụ:
- Làm rõ các khái niệm: “ngoại giao”. “công tác đối ngoại”, “hoạt động
ngoại giao”, “quan hệ quốc tế”, “chính sách đối ngoại Hồ Chí Minh”.
- Cơ sở hình thành và nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
- Sự vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng ta trong
quan hệ quốc tế hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng:
Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng ta trong
quan hệ quốc tế hiện nay.
Phạm vi:
Trên cơ sở các nguồn tài liệu tản mạn, có phần hạn hẹp, tác giả luận
văn cố gắng tập hợp, khái quát, đánh giá, một cách có hệ thống tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta trong quan hệ quốc tế hiện
nay. Trọng tâm của đề tài là nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Cơ sở hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
- Những nội dung cơ bản trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
5
- Sự vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng ta trong
quan hệ quốc tế hiện nay.
Từ đó, luận văn đề xuất một số giải pháp trong đường lối đối ngoại của
Đảng ta hiện nay. Đây là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, sự vận dụng còn đang
tiếp diễn; luận văn chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ quốc tế ( từ
1986 đến nay).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Chương 1
NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG
TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH

1. 1. Khái quát chung về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
1. 1. 1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
Khi đề cập đến khái niệm tư tưởng không nên hiểu chỉ là một tập hợp
giản đơn những ý tưởng, những suy nghĩ cụ thể trong những hoàn cảnh cụ thể
của một con người cụ thể, mà chúng ta muốn nói đến một hàm nghĩa lớn, một
hệ thống quan điểm, lý luận mang giá trị như một học thuyết được xây dựng
trên một thế giới quan và phương pháp luận nhất định, đại biểu cho ý chí,
7
nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, phù hợp với nhu cầu tiến hóa
của thực tiễn nhất định, trở lại chỉ đạo và cải tạo thực tiễn đó.
Về khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng cần được hiểu như vậy.
Đúng như Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là
một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của
cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển
các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại”[15,
tr. 83;84].

giao là thuật ngữ chỉ sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi quốc
gia mình và góp phần vào việc giải quyết những vấn đề quốc tế chung. Chỉ sự
giao thiệp với bên ngoài, người ngoài”. Ở đây chúng tôi đề cập đến một số
khái niệm có liên quan đến khái niệm ngoại giao.
“Công tác ngoại giao”: là thuật ngữ dùng để chỉ việc cần phải làm để
thực hiện chính sách đối ngoại. Công tác ngoại giao là phương tiện để thực
hiện chính sách đối ngoại. Nó bao gồm: vận động ngoại giao, thăm viếng,
đàm phán, kí kết hiệp định, hiệp ước…Công tác ngoại giao phải luôn luôn
nhằm mục tiêu thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước và
chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước phải đặt lợi ích dân tộc chân
chính lên hàng đầu.[24, tr.5]
“Hoạt động ngoại giao”: Là thuật ngữ để chỉ việc làm cụ thể của các
vị lãnh đạo, các chính khách, các nhà ngoại giao chuyên nghiệp để thực hiện
công tác ngoại giao.[24, tr. 7]
“Quan hệ quốc tế”: Là thuật ngữ để chỉ một dạng đặc thù của quan hệ
xã hội. Quan hệ quốc tế bao gồm quan hệ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học giữa các quốc gia-dân tộc và các tổ
chức chính trị xã hội khác nhau và các cá nhân cụ thể.[24, tr. 6]
“Hợp tác quốc tế” là mối quan hệ qua lại giữa các quốc gia bao gồm
nhiều lĩnh vực, các công việc, những vấn đề cụ thể, được tiến hành theo
9
những nguyên tắc đã thống nhất trên cơ sở giúp đỡ lẫn nhau, đồng thuận về
mục đích và lợi ích.[62, tr.11]
“Chính sách đối ngoại”: Là thuật ngữ chỉ toàn bộ phương hướng, mục
tiêu, nhiệm vụ, nội dung, và phương pháp hoạt động của mọi quốc gia trong
quan hệ quốc tế tức là quan hệ với các nước khác, các chủ thể khác nhằm tạo
điều kiện bên ngoài để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ

sử văn hóa của dân tộc cũng như trách nhiệm và quyền lợi chung của tất cả
các thành viên của cộng đồng dân tộc.
Ngay từ thời kỳ nhà nước Văn Lang, ý thức cộng đồng dân tộc của cha
ông ta đã nảy nở. Sự tích con Rồng cháu Tiên, sự tích về bọc trăm trứng nhằm
khẳng định một tổ tiên chung, một nguồn gốc chung, đó cũng là bằng chứng
hùng hồn nhất về ý thức cộng đồng dân tộc, đó cũng là biểu hiện của tinh thần
yêu nước nồng nàn:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
Vì vậy: “Không thể nói yêu đất nước mà lại không yêu con người, yêu
đồng bào với những truyền thống lịch sử hào hùng. Ngược lại, không thể nói
yêu con người, đồng bào, dân tộc Việt Nam lại không yêu non sông đất nước.
Yêu nước Việt Nam cũng có nghĩa là yêu non sông, đất nước, yêu dân tộc,
con người, nhân dân Việt Nam, yêu đồng bào, yêu quê hương, quốc gia, Tổ
quốc, yêu những truyền thống văn hóa hào hùng của dân tộc”. [29, tr. 11]
Chủ nghĩa yêu nước cũng biểu hiện ở các cuộc chiến âm ỉ nhưng cũng
quyết liệt của nhân dân ta chống lại chính sách đồng hóa của ngoại bang.
Chính vì đó, dân tộc ta tránh được sự đồng hóa qua hơn 1000 năm Bắc thuộc.
Chủ nghĩa yêu nước còn thể hiện rất rõ ở bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành đã định ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”
11
Đến thời Trần, đất nước phải liên tiếp chống lại các cuộc tiến công
mạnh mẽ như vũ bão của quân xâm lược Nguyên Mông thì tinh thần yêu nước
được thể hiện rõ trong hào khí Đông A, ý chí quyết tâm đánh giặc của toàn

sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó
nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước. Lịch sử ta đã có nhiều cuộc
kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Chúng ta có
quyền tự hào vì những trang lịch sử vẽ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu,
Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v. Các vị ấy là tiêu biểu của một dân
tộc anh hùng”.[49, tr.171;172]
Như vậy chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam là sự biểu hiện của tự ý thức
dân tộc dưới dạng hệ thống quan điểm tư tưởng lý luận và hệ giá trị của dân
tộc. Đó là ý thức hệ dân tộc hoặc chủ nghĩa dân tộc - yêu nước. Ý thức hệ đó
bắt đầu từ lòng tự hào về : Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người
tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời. Tiếp đó là ý
thức về quyền độc lập dân tộc, bắt đầu từ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” cho
đến quyết tâm "Sát Thát” ở đời Trần, tinh thần quyết chiến của Nguyễn Huệ
"Đánh cho phiến giáp bất hoàn, đánh cho Nam quốc sơn hà chi hữu chủ”, từ
triết lý "Nước là của chung chứ không phải của một dòng họ nào" (Nguyễn
Bỉnh Khiêm) đến nhà nước của dân vì dân, do dân và "lòng căm ghét bọn
xâm lược". cai trị, can thiệp dưới các chiêu bài khác nhau; chống lại chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi.
Chủ nghĩa yêu nước ấy đã được phát huy cao độ trong thời đại Hồ Chí
Minh. Ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa
quốc tế trong sáng thể hiện việc chống lại các tư tưởng áp bức, thống trị, can
thiệp dưới các chiêu bài khác nhau, chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, ích
kỷ; chống lại sự áp đặt xâm hại lợi ích các dân tộc khác dưới các hình thức
khác nhau…Hồ Chí Minh suốt đời đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc
mình và phấn đấu vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại.
b. Truyền thống văn hóa và truyền thống ngoại giao Việt Nam
13
14
nay, nhất là thế hệ trẻ nhập cuộc với đổi mới để phát triển, đổi mới trong
nội tại của đất nước, con người và dân tộc mình đồng thời hội nhập với bên
ngoài để phát triển và hiện đại hóa.
Việt Nam là quốc gia có khí hậu và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho
sự phát triển nông nghiệp, đặc biệt rất phù hợp cho việc trồng cây lúa nước.
Từ xa xưa cây lúa nước đã trở thành cây trồng chủ yếu nuôi sống con người
Việt từ thế hệ này đến thế hệ khác, cây lúa luôn gắn liền với hoạt động sản
xuất của cư dân Việt. Vì vậy cũng có thể khẳng định rằng nền văn minh của
người Việt là nền văn minh lúa nước. Việc phát triển nền nông nghiệp lúa
nước không thể là việc của một số ít người mà đòi hỏi sự chung sức của số
đông, của cả cộng đồng. Do đó, từ rất sớm những cư dân Việt đã sớm ý thức
được rằng họ không thể sống biệt lập mà phải cố kết lại với nhau để cùng tồn
tại, phát triển. Cốt cách Việt Nam định hình trong thử thách khắc nghiệt
chống thiên tai và chống ngoại xâm, đoàn kết và cố kết cộng đồng, nương tựa
vào nhau để tồn tại và phát triển, bởi sức mạnh của hợp tác và đồng thuận.
Sức mạnh ấy chẳng những được quy định thành văn mà còn được tổng kết
thành triết lý sống và thành phương châm ứng xử, chỉ dẫn hành động, sự
khẳng định các giá trị. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống có trong
mối liên kết giữa Nhà với Làng với Nước, là liên kết cộng đồng, lấy sức mạnh
ở tổng thể, trong đó từng cái riêng, đơn lẻ và cá thể được tập hợp và hòa đồng
trong cái chung của cộng đồng rộng lớn, lấy tương đồng, cố kết cộng đồng để
khắc phục những khác biệt và những xung đột.
Từ bao đời nay, sức sống của nền văn hóa truyền thống Việt Nam được
lưu giữ và thể hiện mạnh mẽ nhất ở văn hóa làng. Làng là đơn vị cư trú cơ
bản của nông thôn người Việt và đã hình thành từ rất sớm ( trước khi có nhà
nước). Làng xã là kết quả của một chế độ xã hội riêng của Việt Nam, một chế
độ thống nhất trên cả nước, nảy sinh trên nền tảng sinh hoạt của con người

trên cơ sở phân hóa xã hội nhất định đã ra đời như một tổ chức đại diện cho
cộng đồng người Việt, đáp ứng những yêu cầu khách quan của công cuộc trị
thủy và chống ngoại xâm. Lịch sử Việt Nam đã trải qua một thời kì đặc biệt
có một không hai trong lịch sử thế giới. Người Việt bị mất độc lập chủ quyền
và phải sống dưới ách cai trị của chính quyền ngoại bang hơn mười thế kỷ.
16
Trải qua thời kỳ dài hàng thiên niên kỷ với một hoàn cảnh lịch sử như vậy
nên trong công cuộc dựng nước và giữ nước, đã biểu hiện nền văn hóa chính
trị mà nội dung chủ yếu là coi trọng độc lập, tự chủ và nhân dân, đề cao tư
tưởng nhân nghĩa, hòa mục trong việc trị quốc yên dân.
Nếu ở phương Tây lối sống du cư du mục đã hình thành nên lối văn hóa
với đặc trưng là chinh phục tự nhiên thì ở phương Đông nói chung và Việt
Nam nói riêng con người lại thuận với tự nhiên “ chung sống với lũ”. Nước có
một sức mạnh ghê ghớm không gì cản nỗi và là nổi sợ của con người khi “ tức
nước vỡ bờ” và là thế lực ghê sợ nhất “ nhất thủy, nhì hỏa”. Tuy nhiên nước
cũng rất mềm mại, uyển chuyển và dể thấm hòa đồng như tính cách con người
Việt vậy. Người Việt vừa đắp đê ngăn lũ, vừa đào kênh, mương dẫn nước vào
đồng cạn để chống hạn, tháo úng. Vì vậy trong văn hóa ứng xử của người
Việt vừa cương lại vừa nhu, rất uyển chuyển và linh hoạt.
Việt Nam là quốc gia mà khởi nguyên là nhỏ và nghèo, chính quyền
trung ương qua bao đời vẫn chỉ là cai quản một cộng đồng được thống nhất
bởi một biển làng xã. Trong cộng đồng chung đó có sự chia nhỏ và tự trị riêng
lẽ của từng đơn vị làng. Sự chia nhỏ đó không cầu kì nhưng cẩn thận, không
hoành tráng nhưng rất chu đáo. Điều đó làm cho văn hóa Việt Nam mang tính
khiêm tốn, giản dị mà hài hòa, để cân bằng mà không cực đoan.Việt Nam
nằm ở vị trí trung tâm của Đông Nam Á, lại giáp biển Đông với đường biển
kéo dài hơn ba nghìn hai trăm cây số vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức

nhiều giá trị của nền văn minh lúa nước, văn minh phương Đông. Đó là nền
văn hóa của những cư dân nông nghiệp luôn mong sống hòa hợp với thiên
nhiên, trọng tĩnh và sự cân bằng. Đó là nền văn hóa thấm nhuần tính nhân văn
và nhân đạo cao cả; là nền văn hóa mà trọng tình “ Một trăm cái lí không
bằng tí cái tình”; là nền văn hóa tinh tế, giản dị, bao dung và mang tính cộng
đồng cao.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt mạnh thì nền văn hóa ấy cũng chứa
đựng những khuyết điểm, yếu kém tác động đến cách sống và ứng xử của con
người Việt. Với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp mang tính tự cung, tự cấp
đã kìm hãm sự phát triển của công nghiệp và thương nghiệp. Chính sách trọng
18
nông làm cho người nông dân tự thỏa mãn mà không vươn lên. Cùng với đó
là chính sách ức thương “ Bế quan tỏa cảng” trong những giai đoạn lịch sử
nhất định đã làm giảm khả năng thích nghi và đề kháng của Việt Nam khi chủ
nghĩa tư bản phương Tây tìm kiếm thị trường. Với địa hình là bán đảo có
đường bờ biển kéo dài mà chúng ta không sớm vươn ra xa đã ảnh hưởng đến
cách ứng xử của người Việt đó là bó hẹp ở trong phạm vi nhỏ và manh mún.
Bên cạnh đó với nền giáo dục Nho học lâu đời với cách học tầm chương, mê
muội, chủ yếu chú trọng các môn học xã hội mà không chú ý đến khoa học tự
nhiên và kỹ thuật đã làm tê liệt sức sáng tạo của con người, làm mất đi sức
mạnh quật khởi dám xóa bỏ cái cũ để cách tân hiện đại hóa đất nước phù hợp
với xu thế phát triển của thời đại.
Tất cả những yếu kém và hạn chế đó của nền văn hóa Việt Nam được
nhiều nhà văn hóa lỗi lạc của dân tộc khắc phục và vượt lên trên thời đại
mình. Họ đã tạo được những ảnh hưởng sâu, rộng và ghi đậm dấu ấn trong
nền văn hóa dân tộc và nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người như
vậy khi phát huy những nét đẹp và hạn chế một cách có hiệu quả những yếu

tiên ta. Mỗi một hành động nội trị, ngoại giao đều thể hiện tinh thần đó. Ví
như khi Ngô Quyền xây dựng triều đình theo thể chế của một vương triều độc
lập, định phẩm phục, nghi lễ riêng là tỏ rõ ý thức dân tộc mạnh mẽ, độc lập
với “thiên triều”. Hay câu nói của Lê Thánh Tông khi dặn dò sứ giả: “Một
thước núi, một tấc sông của ta không nên vất bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ
lấn dần, nếu họ không nghe còn có thể sai quan sang sứ Bắc triều bày tỏ phải
trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho
giặc thì tội phải tru di”… Đó là những dẫn chứng tiêu biểu cho thái độ cứng
rắn, không khoan nhượng của tổ tiên ta đối với quyền lợi tối cao của đất nước.
Đó là nền ngoại giao được hướng đạo bằng những tư tưởng lớn mang tính
chiến lược lớn đã được tổ tiên ta tổng kết như “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”
(Lý Thường Kiệt), hay đó là tư tưởng của Nguyễn Trãi: “Lấy đại nghĩa để
thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” và “Ta mưu đánh vào lòng,
không chiến mà cũng thắng”…(Bình Ngô đại cáo).
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam thì bang giao với Trung Quốc đóng
một vai trò quan trọng. Với tư cách là nước lớn các thế lực cầm quyền ở

Trích đoạn Tình hình trong nước Xây dựng đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết Ngoại giao phải biết đánh giá đúng tình hình trong nước và quốc tế, nắm được Phối hợp chặt chẽ giữa các mặt trận chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đố Đẩy mạnh ngoại giao văn hóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status