VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------
NGUYỄN THỊ HẢO
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI VÀ ỔN ĐỊNH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------
NGUYỄN THỊ HẢO
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI VÀ ỔN ĐỊNH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 9.22.90.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
u
u
tru
u
ở
tr
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Hảo
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1
Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN ............................................................................................................................. 6
1.1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến một số vấn đề lý luận về mối quan
hệ giữa đổi mới và ổn định .............................................................................................. 6
1.1.1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan niệm về đổi mới, ổn định ..... 6
1.1.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ giữa đổi mới và
ổn định ......................................................................................................................... 11
1.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến thực trạng giải quyết mối quan hệ
giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới .......................................... 16
1.2.1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến việc đánh giá những thành tựu
giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam ..................................... 16
1.2.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến việc đánh giá những hạn chế
trường thúc đẩy quá trình đổi mới thành công ............................................................ 68
3.1.2. Tăng cường đổi mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội - tiền đề cho sự
ổn định vững chắc, lâu dài........................................................................................... 77
3.2. Một số hạn chế trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định
ở Việt Nam thời kỳ đổi mới ........................................................................................... 89
3.2.1. Đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện - hệ quả dẫn đến sự thiếu vững chắc
trong ổn định xã hội .................................................................................................... 90
3.2.2. Sự mất ổn định trong các lĩnh vực - một yếu tố cản trở đổi mới ...................... 95
3.3. Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và một số vấn đề đặt ra trong quá
trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam ................................. 101
3.3.1. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế ............................................... 101
3.3.2. Một số vấn đề đặt ra trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và
ổn định ở Việt Nam ................................................................................................... 108
Chƣơng 4 PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT CÓ HIỆU
QUẢ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI VÀ ỔN ĐỊNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 117
4.1. Phương hướng nhằm giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới và ổn
định ở Việt Nam hiện nay ............................................................................................ 117
4.1.1. Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình giải
quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định .............................................................. 117
4.1.2. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình giải quyết mối quan
hệ giữa đổi mới và ổn định ........................................................................................ 120
4.2. Một số giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới và ổn
định ở Việt Nam hiện nay ............................................................................................ 124
4.2.1. Nâng cao nhận thức của Đảng, Nhà nước và nhân dân về mối quan hệ giữa
đổi mới và ổn định..................................................................................................... 124
4.2.2. Kết hợp giữa đổi mới và ổn định vì sự phát triển toàn diện, hài hoà trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ........................................................................... 128
ộ lên ch
ĩ
ơ
ĩ
ội (Bổ sung và phát
2011) của Đảng nhấn mạnh “phải đặc biệt chú trọng nắm vững
và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn”; trong đó, giải quyết m i quan h
gi
ổi mới, ổ
ịnh và phát triển đóng vai trò nền tảng cho việc giải
quyết các mối quan hệ khác.
Trên thực tế, sau hơn 30 năm kiên trì đường lối đổi mới, đất nước ta
đã thu được “nh ng thành t u to lớ ,
ý
ĩ
ịch s ”[34, tr.16]. Nhờ
đường lối, chính sách đúng đắn trong quá trình đổi mới, chúng ta đã vực dậy
vẫn ra sức thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” và nhiều hoạt động chống
phá sự nghiệp cách mạng của nước ta với các hình thức, “chiêu bài” ngày
càng tinh vi… Tất cả những vấn đề đó, ở mức độ này hay mức độ khác đều
sẽ là lực cản cho công cuộc đổi mới và phát triển ở nước ta.
Hiện nay, quá trình xây dựng và phát triển đất nước vẫn đang đặt ra yêu
cầu, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vừa phải tiến hành đổi mới để đạt
được mục tiêu phát triển trên mọi mặt của đời sống xã hội, phù hợp với xu thế
phát triển chung của thời đại; vừa phải giữ vững ổn định chính trị - xã hội để
đảm bảo sự phát triển một cách bền vững, không phá vỡ những quy luật
chung. Do đó, vấn đề đặt ra là chúng ta phải tiếp tục đổi mới như thế nào để
vừa đạt được mục tiêu phát triển, vừa không phá vỡ sự ổn định chung của xã
2
hội. Chúng ta phải làm sao để sự ổn định của xã hội hiện thời không trở thành
yếu tố cản trở, kìm hãm quá trình đổi mới, phát triển trong tương lai. Chúng ta
nên đổi mới theo chiều rộng hay theo chiều sâu, đổi mới trên những lĩnh vực
nào, với mức độ ra sao thì phù hợp; giữ vững ổn định đến đâu thì không làm
cho đất nước rơi vào trì trệ? Kết hợp đổi mới với ổn định như thế nào thì
tránh được mâu thuẫn, đối lập; đổi mới như thế nào thì tạo được sự phát
triển?... Đó là hàng loạt câu hỏi, hàng loạt vấn đề đang đặt ra cho công cuộc
đổi mới ở nước ta hiện nay. Và những câu hỏi, những vấn đề này cần phải
được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và tìm ra hướng giải quyết trong thời gian
tới.
Với tính cấp thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn của vấn đề như trên, chúng
tôi lựa chọn “M i quan h gi
ổi mới và ổ
ịnh ở Vi t Nam hi
ổn định ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Phạm vi nghiên c u về không gian của đề tài luận án là ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên c u về thời gian của đề tài luận án là trong thời kỳ đổi mới ở
Việt Nam (từ năm 1986 đến nay).
Phạm vi nghiên c u về nội dung của đề tài luận án là mối quan hệ giữa đổi
mới và ổn định trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội như lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hoá.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
- Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cụ thể là vận dụng phép biện chứng duy vật, quan
niệm duy vật về lịch sử làm cơ sở giải quyết những vấn đề nghiên cứu trong luận
án.
- Luận án xuất phát từ quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam để phân tích, luận giải về thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới
và ổn định ở Việt Nam qua hơn 30 năm đổi mới.
- Ngoài ra, luận án còn kế thừa các thành tựu nghiên cứu khoa học trong
và ngoài nước đã được công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu và thực
hiện, luận án sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, như phương pháp
4
phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp khái quát hoá, phương
pháp tiếp cận liên ngành trong việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa đổi
mới và ổn định ở Việt Nam hiện nay.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Tầm quan trọng của đổi mới và ổn định từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta
quan tâm, xác định là một trong các nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đã chính thức
đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Cùng với đó, Đảng cũng coi ổn định
xã hội là nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát “trong những năm còn lại của
chặng đường đầu tiên”. Kể từ đó đến nay, nhận thức về đổi mới và ổn định ở Việt
Nam cũng không ngừng được hoàn thiện trong sự phát triển chung của đất nước.
Trên lĩnh vực nghiên cứu, trong những năm qua (từ 1986 đến nay, đặc biệt là
15 năm trở lại đây), đã có nhiều công trình bàn đến vấn đề đổi mới, ổn định nói
chung, đổi mới và ổn định ở Việt Nam nói riêng từ những góc độ với mức độ khác
nhau. Trước những nghiên cứu đa dạng như vậy, chúng tôi tiếp cận các tài liệu có
liên quan đế đề tài chủ yếu theo các nhóm vấn đề chính sau:
1.1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến một số vấn đề lý luận về mối
quan hệ giữa đổi mới và ổn định
Đổi mới và ổn định là vấn đề của nhiều ngành nghiên cứu như triết học,
chính trị học, giáo dục học… Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, các vấn đề
lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam ngày càng trở nên rõ
nét. Trước hết, phải kể đến các công trình nghiên cứu đề cập đến quan niệm về đổi
mới, ổn định.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan niệm về đổi mới, ổn
định
* Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan niệm về đổi mới
Trong cuốn Tri t h c và v
ề ổi mới xã hội, tác giả Nguyễn Thế Nghĩa
khi đưa ra quan niệm về hi
ại hóa đã cho rằng, ở những nước đang phát triển,
hiện đại hóa thực chất là quá trình ổi mới toàn di n, sâu sắc và tri t ể mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển lên một trạng thái mới về
chất[99]. Trong khi đó, tác giả Trần Nhâm, với cuốn Đổi mới và phát triển bền v ng
ới ng n cờ t t ởng c a giai c p công nhân [101] lại đưa ra quan niệm cụ thể về
Về vấn đề đổi mới ở nước ta, tác giả Nguyễn Trọng Phúc, trong cuốn Một s
kinh nghi m c Đảng Cộng sản Vi t N
tr
qu tr
ạo s nghi p ổi
mới khẳng định, đến thời điểm chuẩn bị Đại hội VI của Đảng, từ “đổi mới” được
dùng nhiều trong một số bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng ta để chỉ
cuộc cải cách lớn về đường lối, chính sách, về cách nghĩ, cách làm của Đảng lãnh
đạo và nhân dân để đưa đất nước vượt qua khó khăn, tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã
hội. Đổi mới ở đây không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là làm cho
m c tiêu
ợc th c hi n có hi u quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ
nghĩa xã hội [109].
Nói đến đổi mới, khi phân tích vai trò của ổn định chính trị - xã hội, cuốn Ổn
ịnh chính trị - xã hội trong công cuộ ổi mới ở Vi t Nam, tác giả Nguyễn Văn Cư
cho rằng, ổi mới là một quá trình vận động của những mâu thuẫ
e
a cái
ũv
ới, gi a cái bảo th , trì tr với cái ti n bộ, vă
,
as
ều
và sáng tạo. Đây cũng là quá trình đấu tranh gay go, lâu dài, phức tạp nhằm đem lại
7
thắng lợi cho cái mới, cái tiến bộ…, là sự thay đổi có ý nghĩa hệ thống từ nhận thức,
chủ trương đến tổ chức và hành động [Xem: 18, tr.46].
Trong cuốn Về các m i quan h lớn cầ
ợc giải quy t t t trong quá trình
ổi mớ
ĩ
ội ở ớc ta do GS.TS. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên),
các tác giả khẳng định rằng, khó có thể có một định nghĩa duy nhất, chính xác tuyệt
đối về đổi mới. Đổi mới chính là quá trình nhằm làm cho h th
t
ổi từ trạng
t
ũs
trạng thái mới, ti n bộ ơ . Đó là một cuộc đấu tranh giữa cái mới tiến
bộ hơn với cái cũ lạc hậu, giữa năng động, sáng tạo với bảo thủ, trì trệ [Xem: 139,
tr.9-15]. Cụ thể hơn, trong cuốn Giả p
, ổi mới, phát triển vì ch
ĩ
ội
8
nhấn mạnh, thực chất của đổi mới là tạo sự thay đổi cho căn bản phù hợp với những
điều kiện, hoàn cảnh mới, làm cho thích nghi với những điều kiện, hoàn cảnh mới
để tiếp tục tồn tại và phát triển. Đổi mới cũng là định hướng và vươn tới cái mới.
Các tác giả cũng lý giải thêm về các khái niệm có như “canh tân”, “cách tân” hay
“cải cách” và cho rằng đó đều là những nội dung quan trọng của đổi mới khi hiểu
đổi mới theo nghĩa rộng, nghĩa là mang tính tổng thể và trên một quy mô lớn. Còn
canh tân, cách tân, cải cách thường đề cập đến đổi mới các lĩnh vực cụ thể và trong
phạm vi hẹp hơn [62].
Liên quan đến khái niệm đổi mới, còn có khái niệm “kế thừa”. Tác giả
t ớc (Nguyễn Duy Quý,
9
1998), làm rõ năm bước chuyển tư duy trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất
nước; bài Đổi mới - linh hồn c t t ởng Hồ Chí Minh (Tạp chí Triết học, số 6,
2003), tác giả Đỗ Huy đã trình bày tư tưởng của Hồ Chí Minh về đổi mới…
* Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan niệm về ổn định
Tác giả Vũ Văn Hiền, trong bài Ổn ịnh xã hội và vai trò c
i với s
nghi p công nghi p hoá - hi n ạ
t ớc (Tạp chí Triết học, số 2/1997) đã
nêu ra một số vai trò củaổn định xã hội đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói
riêng và đối với sự phát triển xã hội nói chung. Các vai trò như: 1/ Tạo điều kiện
cho xã hội tự khẳng định bản chất của mình; 2/ tạo điều kiện tốt hơn cho quá trình
đổi mới, phát triển tiếp theo; 3/ kế thừa, bảo vệ được những giá trị tích cực của
truyền thống; 4/ tạo điều kiện tốt hơn cho sự xuất hiện những mối quan hệ quốc tế...
[46].
Cuốn Tri t lý phát triển: M , P Ă
e , VIL
, Hồ Chí Minh của
Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) phân tích quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen,
V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về triết lý phát triển; trong đó, khi nói về vận động trong
cân bằng, tác giả cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng đều ở trong quá trình vận động
không ngừng và quá trình đó bao hàm cả sự đứng im tương đối. Thiếu sự đứng im
tương đối này, mọi sự vật, hiện tượng sẽ không thể tồn tại và phát triển [60].
Trong cuốn Một s giải pháp góp phần ổ ịnh và phát triển ở Tây Nguyên
hi n nay, các tác giả đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn về ổn định chính trị;
những nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị và những vấn đề đặt ra trong quá
người và xã hội; nó tồn tại trên cơ sở bảo đảm vững chắc các mối quan hệ xã hội, bảo
đảm công bằng, bình đẳng, kỷ cương, kỷ luật và tâm lý xã hội cùng phát triển theo
luật pháp. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng, không bao giờ được xem nhẹ vai trò, giá
trị của ổn định trong phát triển. Ổn định mang cả giá trị kinh tế lẫn giá trị chính trị,
xã hội. Ổn định cũng chỉ có được trong điều kiện dân chủ và kỷ cương, từ đó giữ
vững niềm tin của nhân dân vào những người lãnh đạo, quản lý. Đó chính là điều
kiện cho sự ổn định bền vững [Xem: 142, tr.16-18].
Bài Về quan h gi a ổ ịnh và phát triển trong thời k ổi mới, PGS.TS.
Bùi Tất Thắng (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016) xem xét ổn định hiểu theo
nghĩa rộng, toàn diện, bao gồm cả ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô và ổn
định xã hội; bài Một s v
ề về ổ ị v p t tr ể ề v
ộ í trị
của GS.TS.Trần Văn Phòng (2017) phân tích mối quan hệ giữa ổn định xã hội và
phát triển bền vững của chế độ chính trị, đưa ra tiêu chí xác định và điều kiện đảm
bảo ổn định và phát triển bền vững của chế độ chính trị. Theo tác giả, “ổn định của
chế độ chính trị là trạng thái hài hoà, cân đối giữa các yếu tố, bộ phận trong chế độ
chính trị và giữa chế độ chính trị với chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội, v.v của một
quốc gia trong những điều kiện lịch sử - cụ thể nhất định” [Xem: 131, tr.69-76].
1.1.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ giữa đổi mới và
ổn định
Trong Một s v
ề về m i quan h gi a ổ ịnh xã hội và công nghi p
hóa, hi
ại hóa ở ớc ta hi n nay, tác giả Vũ Văn Hiền phân tích mối quan hệ
giữa ổn định và phát triển, rằng đổi mới - ổn định - phát triển thống nhất biện chứng
với nhau và là những mắt khâu trong sự vận động, tiến bộ xã hội, phù hợp với xu
hướng của thời đại: Hòa bình - hữu nghị - ổn định - hợp tác cùng phát triển. Theo
tác giả, trạng thái ổn định xã hội cũng là kết quả của sự kết hợp giữa nhân tố chủ
quan và quy luật khách quan trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Nếu hoạt
ợc giải quy t t t tr
qu tr
ổi
mớ
ên ch
ĩ
ội ở ớc ta (Nguyễn Phú Trọng (chủ biên), đã làm rõ mối
quan hệ cần giải quyết ở Việt Nam hiện nay, trong đó có mối quan hệ giữa đổi mới,
ổn định và phát triển. Các tác giả phân tích mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và
phát triển với tư cách mối quan hệ giữa phương thức, điều kiện và mục tiêu. Theo
các tác giả, đổi mới dẫn đến phát triển, mà có phát triển mới tạo ra được ổn định
tích cực và bền vững. Các tác giả cho rằng, ngay cả trong ổn định (theo nghĩa tích
cực) cũng tiềm ẩn một cách tất yếu, tự nhiên sự bất ổn định. Đổi mới tạo sự ổn định
tương đối và trong sự ổn định tương đối đó lại chứa đựng yêu cầu phải đổi mới để
phát triển cao hơn [Xem: 142, tr.40-43].
Các tác giả trong Giả p
, ổi mới, phát triển vì ch
ĩ
ội chỉ ra
mối quan hệ giữa giải phóng, đổi mới và phát triển. Theo các tác giả, đổi mới và
phát triển có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, từ nhiều góc độ như: Từ góc độ động
lực và mục tiêu, đổi mới là động lực, còn phát triển là mục tiêu của đổi mới. Từ góc
độ mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, đổi mới chủ yếu tạo ra số lượng và
12
tăng trưởng, còn phát triển phản ánh chất lượng. Sự tăng trưởng về số lượng phải
đến quy mô nhất định mới chuyển thành chất. Xét trong tiến trình vận động của lịch
sử xã hội, ở mức độ nhất định, mối quan hệ giữa giải phóng, đổi mới và phát triển là
, Hồ Chí Minh, đã làm rõ
lý thuyết phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó khẳng định phát triển là
quy luật vốn có của tự nhiên; con đường tất yếu của xã hội; các chuẩn mực, yếu tố,
điều kiện, động lực của sự phát triển…; làm rõ triết lý của Hồ Chí Minh về một đất
nước phát triển và những giải pháp có tính nguyên tắc với việc thực hiện phát triển
đất nước [Xem: 60]. Cùng với đó, cuốn Tri t lý phát triển ở Vi t Nam - m y v
ề
c t y u cũng khái quát những vấn đề lý luận về triết lý phát triển như quan niệm về
13
triết lý, triết lý phát triển; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về triết lý phát triển và triết lý phát triển thể hiện trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội [Xem: 93].
Đinh Văn Ân (chủ biên), trong Quan ni m và th c tiễn phát triển kinh t , xã
hội t
ộ nhanh, bền v ng ch t ợng cao ở Vi t Nam, đã phân tích quan niệm và
thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao trên
thế giới; quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội tốc độ nhanh, bền vững
và chất lượng cao ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp để phát triển nhanh, bền
vững và chất lượng cao. Tác giả phân tích sự phát triển quan niệm về phát triển kinh
tế - xã hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao ở Việt Nam sau 20 năm đổi
mới từ 1986-2006. Theo tác giả, lúc đầu, quan niệm phát triển bền vững nhấn mạnh
việc giữ gìn môi trường trong tăng trưởng kinh tế còn về sau, vấn đề công bằng xã
hội mới được nhắc tới. Cũng theo tác giả, quan niệm phổ biến về phát triển bền
vững trên thế giới lúc đó nhấn mạnh ba chiều cạnh là tăng trưởng kinh tế, gìn giữ
môi trường và công bằng xã hội[Xem: 4, tr.9-10].
PGS.TS Bùi Tất Thắng trong bài Về qu
ổ ị v p t tr ể
vai trò của hộ kinh tế gia đình, vai trò của đạo đức, thị trường lao động...[156].
14
Martin Rama - Trưởng nhóm chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Thế giới tại
Việt Nam, trong tiểu luận N
qu t s
ă :V tN
tr
ạ
u ể ổ năm 2008, đã khái quát về quá trình đổi mới ở Việt Nam thông qua
những sự kiện quan trọng từ những năm 1976 (trước đổi mới). Các cuộc thử nghiệm
“phá rào” trong nông nghiệp (việc giao đất cho nông dân và ký kết hợp đồng mua
bán trực tiếp với giá cao hơn giá quy định) chính là mầm mống của tư duy phải đổi
mới, trước hết là tư duy kinh tế trên quy mô lớn đã được thông qua trong Đại
hội Đảng VI (1986). Tác giả đánh giá tầm quan trọng của các quyết sách đổi mới và
kết quả mà Việt Nam đạt được thông qua các quyết sách đó[172]. Tác giả cho rằng,
chương trình cải cách chính sách ở Việt Nam hiện nay đang chuyển từ các cuộc cải
cách cơ cấu (cần thiết cho việc chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ
chế thị trường), sang các cuộc cải cách thể chế, cần thiết để duy trì tốc độ tăng
trưởng. Tuy nhiên, tác giả cũng đề cập đến vấn đề đáng lo ngại cho công cuộc đổi
mới ở Việt Nam đó là cải cách hành chính công, cụ thể là vấn đề chống tham
nhũng, hối lộ… đang trở thành rào cản khó kiểm soát.
Tiến sĩ Giáp Văn Dương (Đại học Liverpool, Anh) trong loạt bài bàn về mô
hình phát triển phù hợp cho Việt Nam có bài viết Vi t Nam và l a ch n mô hình
phát triển khác Trung Qu c. Trong mối quan hệ giữa ổn định và phát triển, nếu như
Trung Quốc lựa chọn mô hình ổn định để phát triển thì Việt Nam lựa chọn mô hình
phát triển để ổn định, tức là phát triển được ưu tiên, làm tiền đề cho ổn định. Tác
giả cho rằng, mô hình cải cách của Trung Quốc là cải cách từ trên xuống, trong đó
chính sách giá; vấn đề dân số; vấn đề chính sách tiền lương, chính sách bảo đảm xã
hội… [92].
Hai tác giả Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Hồng trong cuốn Xu ớ
ổi
mới trong lịch s Vi t Nam lại có cách tiếp cận khác về vấn đề đổi mới. Từ góc độ
nghiên cứu lịch sử, qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống và mang tính chất
tổng kết khách quan, toàn diện về xu hướng đổi mới trong một giai đoạn lịch sử dân
tộc, các tác giả giúp người đọc hiểu thêm giá trị của công cuộc đổi mới hiện nay.
Theo các tác giả, với những khó khăn, thách thức của hành trình phát triển đất nước,
chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây, vấn đề duy tân, cải cách
đã xuất hiện ở nước ta như một đòi hỏi khách quan của lịch sử, một xu hướng tất
yếu của sự phát triển. Nội dung cuốn sách phản ánh quá trình vươn lên không
ngừng của dân tộc Việt Nam tới độc lập, tự do trong một thế giới hòa bình và hữu
nghị giữa các dân tộc[69].
Trong cuốn Đổi mới - B ớc phát triển t t y u
ĩ
ội ở Vi t
Nam, tác giả Nguyễn Khánh cũng đã dẫn chứng một số sự kiện, tư liệu cụ thể nhằm
chứng minh cho sự đúng đắn của chủ trương, đường lối đổi mới và tính hợp quy
luật của tiến trình đổi mới[64]. Tác giả Phạm Như Cương, trong Đổi mới phong
t u lại làm rõ những vấn đề lý luận đổi mới phong cách tư duy, đổi mới
nhận thức về chủ nghĩa xã hội; vấn đề đổi mới tư duy trong các lĩnh vực cụ thể như
nông nghiệp, văn hóa, tôn giáo, đạo đức; vấn đề xây dựng con người mới; lý giải
bản chất, nguyên nhân của các hiện tượng tiêu cực trong thời kỳ quá độ…Tác giả
khẳng định, quá trình đổi mới mà chúng ta đang thực hiện đòi hỏi có một sự đột phá
lớn. Cho nên, đổi mới tư duy lúc này không chỉ là trở lại với C.Mác, Ph.Ăngghen,
V.I.Lênin, bởi như vậy, khác nào thay thế hình thức giáo điều này bằng một hình
16
mới, cuốn Về các m i quan h lớn cầ
ợc giải quy t t t tr
qu tr
ổi mới
ĩ
ội ở ớc ta và Từ th c tiễ ổi mớ n nh n th c lý lu n mới
về ch
ĩ
ội ở Vi t Nam (1986-2011) khẳng định: Qua 25 năm đổi mới,
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được nhiều thành tựu to lớn: Chính
trị - xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng, tiến bộ và công bằng xã hội từng bước được
thực hiện, đại đoàn kết dân tộc, đồng thuận xã hội được phát huy, tiềm lực quốc
phòng và an ninh quốc gia được giữ vững, đường lối đối ngoại và chính sách ngoại
giao hòa bình, hợp tác, hữu nghị với các nước được thực hiện nhất quán, hội nhập
17
quốc tế được đẩy mạnh và đi vào chiều sâu, thế và lực cách mạng của nước ta, nhờ
đó không ngừng lớn mạnh[Xem: 142, tr.47-48].
Hai tác giả Phan Thanh Khôi viết về Quan h gi a phát triển kinh t , ti n bộ
và công bằng xã hội, xây d ng và phát huy kh
ạ
t dân tộc (2009), tác giả
Nguyễn Ngọc Thư phân tích M i quan h bi n ch ng gi a kinh t vớ vă
trong s phát triển xã hội (2012). Tuy đứng ở góc độ khác nhau, nhưng các tác giả
này có điểm chung là đều nhìn thấy mối quan hệ biện chứng của việc phát triển kinh
tế thị trường với việc giải quyết các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội hiện nay.
Tiếp đó, trong cuốn Giải phóng, ổi mới, phát triển vì ch
ĩ
chung của đất nước [Xem: 171].
W.Neil Adger, Living With Environmental Change: Social Vulnerability and
Resilience in Vietnam (Global Environmental Change) ( u s
vớ
ổ
18
tr ờ :
ộ v
ả ă p
ồ ở V t N ), 2001. Cuốn
sách để cập đến việc Việt Nam và các nước láng giềng trong khu vực Đông Nam Á
đang phải đối mặt với những thách thức đa dạng do sự phát triển nhanh của nền
kinh tế xã hội làm cho hệ thống môi trường, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá
tải. Từ góc độ liên ngành, cuốn sách cung cấp đánh giá toàn diện về tình hình phát
triển hiện nay của Việt Nam, từ đó xác định các yếu tố hình thành xã hội dễ bị tổn
thương, khả năng đàn hồi để thay đổi môi trường và xem xét triển vọng cho phát
triển bền vững. Tác giả đi sâu vào phân tích các khái niệm về môi trường và phát
triển, các tổ chức và quản lý tài nguyên: Các tài nguyên ven biển theo quan niệm
mới; vấn đề quy hoạch rừng, người dân tộc thiểu số [168].
Ma Gainsborough, Changing Political Economy of Vietnam: The Case of Ho
Chi Minh City (S chuyể ổi kinh t chính trị ở Vi t Nam: Tr ờng hợp c a Hồ Chí
Minh và Hà Nội, (Routledgecurzon Research on Southeastasia), 2003. Cuốn sách
phân tích vai trò của Đảng, chính phủ trong quá trình thương mại hóa ở Việt Nam
mà cụ thể là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tác giả cho rằng, trong quá trình
đổi mới ở Việt Nam Nhà nước trung ương giữ vai trò rất quan trọng, vai trò này
được thể hiện thông qua việc ban hành chính sách cải cách khác nhau, quá trình
thực thi các chính sách; quá trình giải quyết tham nhũng; bên cạnh đó ông cũng