BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
SENGDEUANE VANSILALOM
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH GIỮA PHÁP LUẬT
LÀO VÀ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành
: Luật Kinh tế
Mã số
: 60.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ THỊ HỒNG VÂN
HÀ NỘI- NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường
Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa
Luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường.
: Cộng hòa dân chủ nhân dân
DN
: Doanh nghiệp
DNNN
: Doanh nghiệp nhà nước
Đảng NDCM Lào
: Đảng nhân dân cách mạng Lào
HĐQT
: Hội đồng quản trị
HĐTV
: Hội đồng thành viên
KTTT
: Kinh tế Thị trường
NSNN
: Ngân sách nhà nước
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
8. Bố cục (các chương) của luận văn
1
1
1
3
3
3
3
4
4
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ
5
1.1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhà nước
5
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước
5
1.1.2. Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của doanh nghiệp nhà nước
10
1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung và các yếu tố chi phối đến địa vị pháp lý
của doanh nghiệp nhà nước
16
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung về địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà
nước
16
1.2.2. Các yếu tố chi phối đến địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước
50
50
52
60
2.3.4. Về nghĩa vụ công bố thông tin
2.4. Về tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp nhà nước
2.4.1. Tổ chức lại doanh nghiệp Nhà nước
2.4.2. Về giải thể doanh nghiệp Nhà nước
2.4.3. Về phá sản doanh nghiệp nhà nước
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
64
65
65
72
76
79
CHƯƠNG 3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC
80
3.1. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc so sánh địa vị pháp lý của
doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật doanh nghiệp hiện hành của Lào và
Việt Nam
80
3.2. Định hướng và giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà
nước ở nước CHDCND Lào
đóng góp tỷ lệ không nhỏ vào ngân sách quốc gia, tạo công ăn việc làm cho nhiều
người lao động. Các doanh nghiệp này, ngoài việc hướng tới mục tiêu lợi nhuận, còn
thể hiện vai trò trong việc phục vụ lợi ích công cộng, điều tiết nền kinh tế vĩ mô, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần đưa nền kinh tế Lào phát triển theo định hướng đã
đề ra. Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng này mà việc quy định về địa vị pháp lý
của doanh nghiệp nhà nước được đặt ra đối với khoa học pháp lý nước CHDCND Lào.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của DNNN, xuất phát từ
những nguyên nhân chủ quan và khách quan, vẫn chưa được chú trọng.
Từ thực tiễn cấp thiết trên và vốn kiến thức có được trong quá trình học tập,
làm việc, tác giả nhận thấy cần tiếp tục nghiên cứu về địa vị pháp lý của DNNN, trên
cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, trong đó có Việt Nam. Đó cũng chính là
lý do mà tác giả chọn đề tài: “Địa vị pháp lý của Doanh nghiệp nhà nước dưới góc độ
so sánh pháp luật của Lào và Việt Nam” để hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật
học tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của DNNN không phải là vấn đề
mới, có thể kể đến một số công trình sau: Cao Đăng Vân (1997), Một số vấn đề về địa
vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội; Dương Hồng
Hạnh (1997), Tìm hiểu địa vị pháp lý của doanh nghiệp Nhà nước độc lập hoạt động
kinh doanh, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội; Lê Bảo Trang (1996), Một số vấn đề cơ
bản về địa vị pháp lý của doanh nghiệp Nhà nước độc lập hoạt động kinh doanh, Khóa
luận tốt nghiệp, Hà Nội; Nguyễn Trung Nghĩa (1996), Địa vị pháp lý của doanh
nghiệp Nhà nước theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà
8
Nội; Lê Danh Tuy (2003), Địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước hoạt động công
ích phục vụ quốc phòng an ninh, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội; Nguyễn Phước
Thọ (1997), Địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước trong hoạt động kinh doanh,
vọng sẽ lấp đầy lỗ hổng khoa học pháp lý đó.
9
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật hiện hành của
CHDCND Lào và nước CHXHCN Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà
nước dưới góc độ luật học so sánh.
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của
pháp luật Việt Nam và pháp luật Lào trong mối tương quan so sánh các quy định về
địa vị pháp lý DNNN, trong đó, trọng tâm là nghiên cứu các quy định của Luật Doanh
nghiệp 2014 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành của Việt Nam và Luật
Doanh nghiệp 2013 của Lào. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ rõ những khác biệt cơ bản
trong quy định của pháp luật Việt Nam về loại hình Doanh nghiệp này này để rút ra
bài học kinh nghiệm cho Lào trong quá trình hoàn thiện pháp luật liên quan tới thành
phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân này.
4. Mục tiêu nghiên cứu luận văn
Vấn đề hoàn thiện quy định pháp luật của nước CHDCND Lào về DNNN đang
là nhu cầu cấp thiết. Do đó, nghiên cứu đề tài này, trên cơ sở so sánh và rút ra những
bài học kinh nghiệm từ những quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của
DNNN, tác giả muốn đóng góp một số kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định
pháp luật Lào liên quan đến địa vị pháp lý DNNN trong thời gian tới.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện mục tiêu của đề tài, nội dung luận văn trả lời những câu hỏi sau:
(1) Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về DNNN bao gồm những nội dung như
khái niệm, đặc điểm, phân loại DNNN, quá trình hình thành phát triển của DNNN trên
bình diện thế giới và tại nước CHDCND Lào. Từ đó, luận văn có nhiệm vụ tập trung
nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về địa vị pháp lý của DNNN trên các
phương diện khái niệm, đặc điểm, nội dung, các yếu tố chi phối địa vị pháp lý DNNN;
- Luận văn đã triển khai nghiên cứu và đưa ra cái nhìn sâu sắc về những điểm
tương đồng và khác biệt trong các quy định của pháp luật hiện hành giữa hai nước về
địa vị pháp lý DNNN trên các phương diện: Thành lập DNNN; Cơ cấu, tổ chức và quản
lý DNNN; Quyền và nghĩa vụ của DNNN; Tổ chức lại, giải thể, phá sản DNNN. Đây là
công trình nghiên cứu địa vị pháp lý của DNNN dưới góc nhìn luật học so sánh, nhưng vẫn
đảm bảo việc nghiên cứu địa vị pháp lý của DNNN một cách toàn diện nhất.
- Luận văn đã rút ra những bài học kinh nghiệm từ việc so sánh địa vị pháp lý của
DNNN theo pháp luật hiện hành giữa hai nước. Từ đó, luận văn đã xác định được những
định hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của DNNN theo quan điểm của Đảng và Nhà nước
Lào. Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra được một số giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý
của DNNN ở nước CHDCND Lào.
Đây là những đóng góp mới của luận văn mà chưa có một công trình khoa học
nào làm được.
8. Bố cục (các chương) của luận văn
Bên cạnh phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo. Để bảo
đảm về kết cấu, tính hợp lý, liên tục của nội dung, luận văn được chia làm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Doanh nghiệp Nhà nước và địa vị pháp lý
của Doanh nghiệp nhà nước;
Chương 2: So sánh địa các quy định về vị pháp lý của Doanh nghiệp Nhà nước
theo pháp luật doanh nghiệp hiện hành của Lào và Việt Nam.
Chương 3: Bài học kinh nghiệm và giải pháp hoàn thiện các quy định về địa vị
pháp lý của Doanh nghiệp Nhà nước ở nước CHDCND Lào.
11
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhà nước
1 Si Vi Xay Pa San Phonne (2009), Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật của nước Cộng hoà
dân chủ nhân dân Lào - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật
Hà Nội, Hà Nội., tr.8.
12
nhất định quá trình ra quyết định của doanh nghiệp”. Ở định nghĩa này, Liên hợp
quốc đã sử dụng hai tiêu chí để định nghĩa về DNNN đó là: (i) Tiêu chí về sở hữu của
Nhà nước trong doanh nghiệp đó là sở toàn phần hoặc một phần; (ii) Tiêu chí về sự
kiểm soát hay nói cách khác là Nhà nước có vị trí quyết định trong quá trình quản lý,
điều hành doanh nghiệp đó2. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau trong việc
sử dụng các tiêu chí để định nghĩa về DNNN. Có quốc gia lựa chọn tiêu chí về mục đích,
hình thức; có quốc gia lại lựa chọn tiêu chí về lý do thành lập, cơ cấu tổ chức; có quốc gia
lại lựa chọn tiêu chí quyền sở hữu của Nhà nước để định nghĩa về DNNN.
Ở nước CHDCND Lào, DNNN hình thành khá sớm và giữ vai trò quan trọng
trong các giai đoạn lịch sử của đất nước. Theo quan niệm của Luật doanh nghiệp hiện
hành, Lào có bốn loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp tư nhân, DNNN, doanh
nghiệp hỗn hợp và doanh nghiệp tập thể. Định nghĩa DNNN được đề cập đến lần đầu
tiên trong trong Sắc lệnh số 92/SL năm 1954 của Chủ tịch nước. Trong Sắc lệnh này,
DNNN ở Lào được gọi tên là “Xí nghiệp quốc doanh” và được định nghĩa: “Xí nghiệp
quốc doanh là xí nghiệp thuộc quyền sở hữu của quốc gia, do Chính phủ quản lý. Sau
đó, định nghĩa về DNNN được quy định tại Điều 191 của Luật Doanh nghiệp do Quốc
hội Lào ban hành ngày 09/ 11/2005 và được kế thừa tại Điều 196 Luật Doanh nghiệp do
Quốc hội Lào ban hành ngày 26/12/ 2013: “Doanh nghiệp nhà nước là một đơn vị kinh
doanh của Nhà nước được thành lập và đầu tư hoặc liên doanh với các thành phần kinh
tế khác, với số vốn của Nhà nước trên 50% trở lên”. Định nghĩa này đã có sự thay đổi
rất lớn và cụ thể so với định nghĩa về DNNN trong Sắc lệnh số 92/SL năm 1954 của
Chủ tịch nước. Sự thay đổi ở đây là định nghĩa về DNNN trong Luật Doanh nghiệp
2013 đã liệt kê hai hình thức tồn tại của DNNN dựa vào tiêu chí về quyền sở hữu vốn
định nghĩa về DNNN của pháp luật Việt Nam cũng sử dụng tiêu chí về quyền sở hữu
của Nhà nước để định nghĩa về DNNN. Tuy nhiên, định nghĩa về DNNN theo pháp luật
hiện hành của Việt Nam chỉ thừa nhận là DNNN khi Nhà nước năm 100% vốn điều lệ
trong doanh nghiệp đó. Trong khi đó, pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào coi
DNNN là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm từ trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp
đó. Ngoài ra, định nghĩa về DNNN của cả hai quốc gia đều không đề cập đến các vấn đề
về mục đích hoạt động, lý do thành lập, quyền quản lý và điều hành của Nhà nước trong
DNNN do hai định nghĩa này chỉ sử dụng tiêu chí về sở hữu vốn của Nhà nước để định
nghĩa về DNNN4.
Như vậy, ta có thể hiểu DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ
vốn điều lệ hoặc toàn bộ số cổ phần, được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH. Đây
là một điểm mới trong quy định pháp luật DNNN so với Luật DNNN 2003. Ở Luật
DNNN 2003, một doanh nghiệp được gọi là DNNN khi sở hữu 50% vốn điều lệ trở lên,
do đó, DNNN có thể được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần. Tuy nhiên, đến Luật
doanh nghiệp 2014 đã có sự thay đổi, DNNN phải nắm giữ 100% vốn điều lệ của công
ty. DNNN sẽ chỉ do Nhà nước nắm giữ quyền sở hữu, DNNN chỉ có thể được tổ chức
dưới dạng công ty TNHH.
Nhà nước giao vốn cho DNNN và DNNN phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước
về việc bảo toàn và phát triển số vốn mà Nhà nước giao cho để duy trì khả năng kinh
doanh của doanh nghiệp. Tất cả các DNNN đều chịu sự quản lý trực tiếp của một cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền theo sự phân cấp của Chính phủ. Vấn đề vốn và việc sử
dụng vốn của DNNN, vốn Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng là vốn
ngân sách cấp, vốn có nguồn gốc NSNN và vốn của DNNN tự tích luỹ.
4 Võ Thị Thùy Dương (2003), Cổ phần hóa- Hình thức chủ đạo trong việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước ở
Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 11.
14
1.1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước
độc lập về kinh tế đối với Nhà nước.
5 Daochay Haophommaseng (2013), Tổ chức quản lý công ty nhà nước theo pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 9.
6 Hữu Hạnh (1998), Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - Những vấn đề đặt ra, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr. 10.
15
Thứ năm, về hình thức tồn tại của DNNN. DNNN theo quy định của Luật
Doanh nghiệp 2013 nước CHDCND Lào được tổ chức dưới nhiều hình thức khác
nhau, trong đó, trường hợp DNNN được thành lập và hoạt động kinh doanh theo
nguyên tắc lọai hình công ty gọi là “công ty nhà nước”. Theo đó, DNNN đó có thể là
Công ty cổ phần nhà nước; Công ty TNHH nhà nước một thành viên; Công ty TNHH
nhà nước hai thành viên trở lên.
Trên đây là những đặc điểm nổi bật nhất của DNNN theo quy định của Luật
Doanh nghiệp 2013 nước CHDCND Lào. Trong đó, đặc điểm về hình thức sở hữu là
đặc điểm quan trọng nhất giúp phân biệt DNNN với các loại hình doanh nghiệp khác ở
khu vực kinh tế tư nhân.
1.1.1.3. Phân loại doanh nghiệp nhà nước
Việc phân loại DNNN ở các quốc gia được thực hiện dựa trên rất nhiều các tiêu
chí khác nhau. Nếu xét ở cơ cấu thành phần sở hữu thì có: (i) DNNN một chủ sở hữu DNNN do Nhà nước làm chủ sở hữu duy nhất; (ii) DNNN đa chủ sở hữu - DNNN có
nhiều chủ sở hữu, trong đó Nhà nước là chủ sở hữu nắm quyền chi phối về quản lý, điều
hành dựa trên cơ sở vốn góp của Nhà nước vượt trội hơn các chủ sở hữu khác;…
Ở nước CHDCND Lào, các nhà làm luật thường sử dụng tiêu chí về tính chất
của sở hữu, trách nhiệm pháp lý, quy mô, ngành nghề và tính chất sản phẩm để phân
loại DNNN. Cụ thể như sau:
- Thứ nhất, dựa theo tính chất sở hữu. Theo tính chất này thì DNNN được chia làm
hai loại là: (i) DNNN đơn chủ, tức là Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất, nắm 100% số vốn
công ty8.
- Công ty TNHH nhà nước một thành viên. Cũng như Công ty cổ phần nhà nước
thì Công ty TNHH nhà nước một thành viên chưa được định nghĩa. Dựa vào quy định
của Luật Doanh nghiệp 2013 về Công ty TNHH một thành viên có thể định nghĩa về
Công ty TNHH nhà nước một thành viên như sau: Công ty TNHH do Nhà nước nắm
toàn bộ vốn điều lệ, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp.
- Công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên. Hiện tại vẫn chưa có định
nghĩa về Công ty TNHH nhà nước hai thành viên trong các văn bản pháp luật hiện
hành của CHDCND Lào. Do vậy, dựa vào quy định của Luật Doanh nghiệp 2013 của
nước CHDCND Lào về Công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể định nghĩa về
Công ty TNHH nhà nước hai thành viên như sau: Công ty TNHH có số lượng từ hai
đến không quá năm mươi thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. Ngoài Nhà nước,
thành viên của công ty là các tổ chức, cá nhân. Công ty TNHH nhà nước hai thành
viên được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
1.1.2. Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của doanh nghiệp nhà nước
1.1.2.1. Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của doanh nghiệp nhà nước
trên bình diện thế giới
Mặc dù, khu vực kinh tế Nhà nước được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa
nhận nhưng DNNN là loại hình doanh nghiệp đặc trưng của nền kinh tế các nước
XHCN. Tuy nhiên, lịch sử hình thành và phát triển của DNNN không xuất phát từ nền
kinh tế của các nước XHCN mà nó là sản phẩm của nền kinh tế các nước TBCN. Do
vậy, DNNN là loại hình doanh nghiệp tồn tại một cách khách quan trong nền kinh tế
của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, việc nhìn nhận về vị trí, vai trò của loại hình DNNN ở các quốc gia
là hoàn toàn khác nhau. Điều đó dẫn đến tỷ trọng của DNNN trong nền kinh tế các
8 Daochay Haophommaseng (2013), Tổ chức quản lý công ty nhà nước theo pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 16.
17
quốc gia đang phát triển, thì DNNN lại có một vị trí hết sức quan trọng, bởi lẽ các
DNNN vẫn nắm trong tay hầu hết các lĩnh vực kinh tế then chốt trong nền kinh tế quốc
dân như: Khai thác khoáng sản, năng lượng, nhiên liệu, cơ khí chế tạo… Hoạt động
của DNNN trong các lĩnh vực then chốt này không chỉ đóng góp lớn cho GDP quốc
gia mà còn là công cụ để Nhà nước quản lý các lĩnh vực kinh tế then chốt này.
9 Xaykham Vannaxay (2007), Những vấn đề pháp lý cơ bản về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 21-22.
18
Đối với các nước XHCN, vai trò của DNNN càng đặc biệt quan trọng khi mà ở
các quốc gia này, khu vực kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân. Do vậy, vai trò của DNNN rất quan trọng, nó vừa là trụ cột của nền kinh tế,
quyết định sức mạnh chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của các quốc gia
này, giải quyết các vấn đề xã hội như: an sinh xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa… Chính
vì vậy, khi mà các Nhà nước CHDCND Lào được thành lập cũng là thời điểm các
DNNN được thành lập ở nước CHDCND Lào, để đưa khu vực kinh tế nhà nước lên vị
trí chủ đạo trong nền kinh tế của nước CHDCND Lào. Các DNNN được thành lập và
hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế then chốt trong nền kinh tế của nước
CHDCND Lào10.
Vậy thì sự hình thành của DNNN trong nền kinh tế quốc dân ở các quốc gia trên
thế giới đến từ những lý do nào? Một điểm chung cho sự ra đời và phát triển của DNNN ở
các quốc gia là đều đến từ những đòi hỏi khách quan trong quá trình thực hiện chức năng
điều tiết nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Tuy nhiên, sự ra đời và phát triển của DNNN
còn xuất phát từ các lý do sau đây:
- Một là, sau chiến tranh nền kinh tế - xã hội của hầu hết các quốc gia đều bị tàn
phá, nguồn lực tư nhân trong xã hội không đủ sức để khôi phục nền kinh tế - xã hội,
chỉ có Nhà nước với tiềm lực vốn lớn, chỉ có Nhà nước mới có chức năng để khôi
Như đã biết, DNNN là loại hình doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong các loại
hình doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào. Sở dĩ DNNN xuất hiện sớm như vậy một
phần là do chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội của nước CHDCND Lào chi
phối. Là một nước thuộc địa của Pháp trước đây, năm 1945 sau khi giành độc lập dân
tộc, cơ sở vật chất của chính quyền mới hầu như chưa có gì. Để nhanh chóng có lực
lượng vật chất nhằm củng cố và xây dựng chính quyền mới đồng thời xóa bỏ sức
mạnh kinh tế của giai cấp bóc lột đã bị đánh đổ, Nhà nước đã tiếp quản một loạt các xí
nghiệp của chính quyền cũ, quốc hữu hóa các xí nghiệp của bọn thực dân, tư sản mại
bản, hình thành nên xí nghiệp quốc gia. Những năm 1950-1954 có rất nhiều các
DNNN được thành lập ở Lào. Các DNNN này chủ yếu tập trung hoạt động trong lĩnh
vực khai khoáng, lương thực - thực phẩm, cung ứng nguyên liệu - nhiên liệu… Tuy
nhiên, trong thời điểm đó, các DNNN của Lào hoạt động theo cơ chế quản lý tập
trung, bao cấp, nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong lĩnh vực
mà DNNN đó hoạt động. Cũng như thực hiện các chức năng của Nhà nước về kinh tếxã hội. Do vậy, hiệu quả hoạt động của các DNNN ở nước CHDCND Lào trong suốt
một thời gian dài không được thể hiện một cách rõ nét. Bên cạnh đó, còn làm thất
thoát một nguồn lực rất lớn từ NSNN11. Việc phát triển nhanh của các DNNN ở nước
CHDCND Lào thời điểm đó là do đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước Lào khi
coi trọng nền kinh tế quốc doanh, ưu tiên nguồn lực cho việc phát triển các DNNN.
Khi Đảng, Nhà nước Lào đưa ra và thực hiện chủ trương chuyển nền kinh tế tập
trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường định hướng XHCN. Đây là cơ hội để cho các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh phát triển. Nhưng xuất phát từ vai trò của DNNN đối với nền kinh tế còn đang
được coi là kém phát triển nên Đảng, Nhà nước Lào vẫn xác định kinh tế nhà nước,
DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Lào. Tuy nhiên, nhận thức về kinh tế nhà
nước, DNNN của Đảng, Nhà nước Lào đã có sự thay đổi mạnh mẽ về chất. Đó là quản
lý chặt chẽ và hiệu quả đối với khu vực kinh tế nhà nước, DNNN theo hướng cổ phần
hóa, giảm số lượng DNNN, để các DNNN hoạt động hiệu quả hơn. DNNN bên cạnh
11 Sengnilack Kongchai (chủ biên, 2003), Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào, Nxb. Viêng Chăn, tr. 22-23.
sung cho NSNN phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước Lào. Như đã
biết, trong giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh chưa vươn lên để chiếm được vai trò nhất định trong nền
kinh tế. Chính vì thế, đã tạo cho DNNN một sứ mệnh hết sức quan trọng là phát triển
để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng theo đúng định hướng của Nhà nước cũng như tạo
chỗ dựa, tiền để cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển, dựa trên cơ sở hạ tầng mà các
DNNN xây dựng trong quá trình hoạt động của nó.
Vậy thì sứ mệnh đó của DNNN ở nước CHDCND Lào là do những yếu tố nào
chi phối? Trong quá trình tồn tại và phát triển DNNN ở nước CHDCND Lào có thể
thấy sứ mệnh đó của DNNN được chi phối bởi các yếu tố sau đây:
21
Một là, sau thời gian dài là thuộc địa, kinh tế Lào không phát triển; cơ sở hạ
tầng không những không phát triển mà còn bị tàn phá nặng nề. Việc đầu tư cho xây
dựng cơ sở hạ tầng (đầu tư xây dựng cơ bản) tạo tiền đề cho kinh tế - xã hội phát triển
ở nước CHDCND Lào cần một nguồn lực rất lớn mà chỉ Nhà nước mới có thể thực
hiện được. Chính vì vậy, các DNNN ra đời để thực hiện sứ mệnh xây dựng cơ sở vật
chất trong các lĩnh vực kinh tế như: Giao thông vận tải; thông tin - liên lạc; công
nghiệp khai khoáng; cung ứng nguyên, nhiên liệu….
Hai là, để Nhà nước có thể tồn tại và phát triển, Nhà nước luôn luôn phải tiến
hành dựa trữ quốc gia. Việc dự trữ quốc gia, đặc biệt về lương thực - thực phẩm;
nguyên, nhiên liệu được Nhà nước thực hiện thông qua các DNNN mà không thể
chuyển giao nhiệm vụ đó cho các thành phần kinh tế tư nhân vì các thành phần đó
không đủ tiềm lực.
Ba là, một trong những nhiệm vụ quan trọng của DNNN ở gần như tất cả các
quốc gia đều phải thực hiện đó là giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội, nhiệm vụ này
không phát sinh lợi nhuận nên các thành phần kinh tế tư nhân không muốn tham gia
vào. Do vậy, các DNNN ở nước CHDCND Lào ra đời để thực hiện nhiệm vụ đó và thể
Thứ tư, DNNN trong quản lý, sản xuất và kinh doanh phải vừa hợp tác, bổ
sung, hỗ trợ nhau, vừa cạnh tranh bình đẳng trên cơ sở pháp luật.
Thứ năm, DNNN trong quá trình sản xuất, kinh doanh phải quan tâm đến vấn
đề bảo vệ môi trường và tích cực đầu tư trang thiết bị để sản xuất giảm thiểu tác động
xấu lên môi trường.
Thứ sáu, DNNN phải coi trọng chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Đây vừa là cơ sở
để bảo đảm sự phát triển của chính DNNN, vừa là cơ sở để tạo dựng uy tín của Nhà
nước đối với xã hội.
Thứ bảy, trong quá trình hoạt động DNNN phải chấp hành nghiêm đường lối,
chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Như vậy, cũng như nhiều quốc gia khác, đặc biệt là các nước XHCN, DNNN ở
Lào có vai trò rất lớn trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN mà Lào đang xây dựng thì DNNN vẫn giữ được những vai trò đó nhưng phải
tiến hành tổ chức, sắp xếp lại DNNN, đặc biệt là cổ phần hóa thì DNNN ở Lào mới
giữ vững và phát huy những vai trò đó.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung và các yếu tố chi phối đến địa vị pháp lý
của doanh nghiệp nhà nước
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung về địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước
1.2.1.1. Khái niệm địa vị pháp lý của Doanh nghiệp Nhà nước
Cho đến nay, khoa học pháp lý các nước vẫn chưa có khái niệm thống nhất về
địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật nói chung, của doanh nghiệp và DNNN nói riêng.
Có thể nêu ra đây là một số quan điểm về địa vị pháp lý của doanh nghiệp: (i) Pháp
nhân là khái niệm pháp lý phản ánh địa vị pháp lý của một tổ chức; (ii) Địa vị pháp lý
của DNNN được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định quyền, nghĩa vụ và
trách nhiệm của Doanh nghiệp trong nền kinh tế và trong quản lý Nhà nước; (iii) Địa
vị pháp lý của DNNN là tổng hợp những quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm mà pháp
luật xác định cho nó phù hợp với vị trí vai trò và chức năng mà nó được Nhà nước
giao phó trong quá trình tái sản xuất nền kinh tế quốc dân và những quyền hạn, nghĩa
vụ, trách nhiệm mà nó tự đảm nhận trên cơ sở tận dụng những khả năng mà pháp luật
cho phép khi tham gia vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động. Nhưng dù
giới hạn hoạt động của nó trong nền kinh tế mà nó là một bộ phận cấu thành.
(2) Tổng hợp các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Doanh nghiệp do pháp luật
xác định cho nó phù hợp với vị trí, vai trò và chức năng được Nhà nước giao và những
quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm mà Doanh nghiệp tự đảm nhận trên cơ sở vận
dụng những khả năng mà pháp luật cho phép khi tham gia vào các quan hệ pháp luật
trong quá trình hoạt động.
(3) Quy chế về thành lập, giải thể, tổ chức lại hay phá sản của các loại hình
Doanh nghiệp. Đây là một bộ phận quan trọng thể hiện địa vị pháp lý của Doanh
nghiệp. Nó thể hiện về mặt pháp lý con đường dẫn đến việc xuất hiện hay chấm dứt tư
13 Nguyễn Trung Nghĩa (1996), Địa vị pháp lý của doanh nghiệp Nhà nước theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước,
Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 14.
24
cách chủ thể pháp luật của các doanh nghiệp, bởi vì trước khi có hệ thống thẩm quyền,
có quy định pháp lý về vị trí, vai trò của Doanh nghiệp, thì Doanh nghiệp phải được
pháp luật khẳng định về sự tồn tại với tư cách là chủ thể pháp lý độc lập.
Từ các nội dung cấu thành địa vị pháp lý của doanh nghiệp, có thể thấy, Địa vị
pháp lý của DNNN được quy định theo pháp luật hiện hành, mà tập trung nhất trong
Luật doanh nghiệp 2013 của CHDCND Lào, gồm những bộ phận chính sau:
Những quy định thể hiện vị trí, vai trò và tính chất đặc thù của DNNN trong nền
kinh tế quốc dân: đó là những quy định liên quan đến việc thành lập, tổ chức lại, giải
thể DNNN;
Những quy định thể hiện cơ cấu, tổ chức, quản lý cuả DNNN. Cơ cấu tổ chức,
quản lý DNNN xuất phát từ chính vai trò, đặc điểm của DNNN trong nền kinh tế quốc
dân, đòi hỏi DNNN phải có một câu cơ tổ chức quản lý phù hợp để thực hiện hiệu quả
các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra;
Bộ phận chủ yếu trong địa vị pháp lý của DNNN là hệ thống quyền và nghĩa vụ
của DNNN. Bao gồm: Các quyền và nghĩa vụ về quyền về tổ chức, quản lý tổ chức
1.2.2. Các yếu tố chi phối đến địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước
1.2.2.1. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Một điểm chung của nền kinh tế quốc dân của Việt Nam và Lào đó là nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, được chuyển đổi từ hình thức kinh tế tự cung tự cấp.
Trong nền kinh tế thị trường, mọi thành phần kinh tế đều được khuyến khích để phát
huy tiềm năng, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, hội nhập với kinh tế trong khu vực và thế giới,
góp phần tạo sự ổn định và phát triển liên tục, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho nhân dân.
Pháp luật của Việt Nam và Lào đều đã khẳng định rõ: mọi thành phần kinh tế
đều bình đẳng trước pháp luật và hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường, vừa cạnh
tranh và vừa hợp tác phát triển sản xuất kinh doanh dưới sự điều chỉnh của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát mà
Đảng và Nhà nước cả hai nước đã lựa chọn trong thời kỳ đổi mới. Nó vừa mang tính
chất chung của kinh tế thị trường, vừa có những đặc thù, được quyết định bởi các
nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đây là sự vận dụng sáng tạo những kinh
nghiệm trong nước và thế giới về phát triển kinh tế thị trường, là sự kết tinh trí tuệ của
toàn Đảng trong quá trình lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước. Nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được nhất quán là nền kinh tế nhiều thành
phần, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Vì vậy, việc xác định một cách
rõ ràng và nhất quán vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước trong quá trình hoạch định
đường lối, chính sách phát triển kinh tế đất nước là rất cần thiết.
* Về mặt lý luận
Tất cả các lý thuyết hiện đại về hệ thống kinh tế thị trường đều coi sự có mặt của
khu vực các DNNN cần thiết trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước,
Nhà nước là chủ thể đại diện cho sự vững bền và ổn định của một quốc gia có chức
năng hoạch định “luật chơi” cho toàn hệ thống. Thực hiện chức năng này, ngoài việc
ra các chính sách, thể lệ về thuế, về nguyên tắc cạnh tranh các điều kiện làm ăn… Nhà
nước còn ban hành những chính sách khuyến khích hoặc hạn chế nhằm định hướng