Nguyên tắc chứng minh trong tố tụng dân sự (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận
văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN
GIẢNG DẠY

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

PGS. TS. NGUYỄN MINH HẰNG

PHẠM THỊ THANH NGA


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS
BLTTDS 2004
BLTTDS 2015
HĐXX
KSV
PLTTGQCVADS 1989

:
:
:
:
:


Tòa án nhân dân tối cao
Tố tụng dân sự
Tố tụng hình sự
Vụ án dân sự
Vụ việc dân sự
Viện kiểm sát

MỤC LỤC


Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Mục lục
Phần mở đầu………………………………………………....................
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUYÊN
TẮC CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ……..
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của nguyên tắc chứng minh trong
tố tụng dân sự………………………………………………..............
1.2. Mối quan hệ giữa nguyên tắc chứng minh và các nguyên tắc
khác trong tố tụng dân sự………………………………….………..
1.3. Cơ sở của việc pháp luật ghi nhận nguyên tắc chứng minh
trong tố tụng dân sự……………………………………….………..
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……………………………………….……..
Chương 2. NỘI DUNG NGUYÊN TẮC CHỨNG MINH THEO
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH…………………………..……………..
2.1. Quy định chung về nguyên tắc chứng minh trong tố tụng dân sự
2.2. Quy định cụ thể về việc thực hiện Nnguyên tắc chứng minh trong
thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án

72
89
90


PHỤ LỤC


5

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tố tụng dân sự là một hoạt động bao gồm nhiều giai đoạn với những trình
tự, thủ tục để Tòa án giải quyết các VADS. Trong suốt quá trình tố tụng, ở mỗi
giai đoạn, pháp luật TTDS đều có những quy định riêng, cụ thể nhằm đảm bảo
tính khách quan, chính xác trong việc giải quyết từng vụ việc.
Chứng minh là hoạt động TTDS cơ bản, có ý nghĩa rất quan trọng, xuyên
suốt quá trình tố tụng. Theo đó, các chủ thể tố tụng (đương sự, Tòa án,
VKS…) bằng những biện pháp thu thập chứng cứ do luật định thực hiện nghĩa
vụ, trách nhiệm chứng minh nhằm làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của
VADS. Trong quá trình tố tụng này, nguyên tắc chứng minh là một trong
những nguyên tắc cơ bản, đặc trưng nhất của TTDS so với các loại hình tố
tụng khác.
Về phương diện pháp lý, nguyên tắc chứng minh được hoàn thiện dần
qua từng thời kỳ với lần lượt các văn bản: Từ PLTTGQCVADS 1989 tới
PLTTGQCVAKT 1994, PLTTGQTCLĐ 1996 và được hệ thống một cách
tổng quát hơn trong BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và BLTTDS
2015. Dù quy định dưới góc độ là nghĩa vụ, quyền hay là một nguyên tắc thì
trong các quy định liên quan đến quá trình tố tụng dân sự, nguyên tắc chứng
minh giữ vai trò quan trọng, chi phối việc giải quyết đúng đắn, chính xác các

của tác giả Vũ Trọng Hiếu (Luận văn thạc sỹ luật học, bảo vệ tại trường đại
học luật Hà Nội năm 1998). Luận văn giải quyết các vấn đề lý luận về chứng
cứ và chứng minh trong TTDS; phân tích một cách hệ thống các quy định
trong BLTTDS về hoạt động chứng minh của các chủ thể trong TTDS. Từ đó,
kiến nghị một số vấn đề nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về hoạt động
chứng minh.
- Luận văn Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng
dân sự của tác giả Tăng Hoàng My (Luận văn thạc sỹ luật học, bảo vệ tại
trường đại học luật Hà Nội năm 2012). Luận văn giải quyết các vấn đề lý luận
về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS. Tiếp cận nghiên
cứu với hai chủ thể là đương sự và Tòa án, trong đó đương sự có nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ và chứng minh, còn Tòa án hỗ trợ đương sự trong việc thực
hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh. Kết quả nghiên cứu luận văn
đã phần nào đánh giá thực tiễn áp dụng nguyên tắc cung cấp chứng cứ và
chứng minh trong TTDS, từ đó đưa ra những yêu cầu cơ bản để hoàn thiện và
thực hiện pháp luật về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh.


7

- Luận án “Chế định chứng minh trong TTDS Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Minh Hằng (Luận án tiến sỹ luật học, bảo vệ tại trường Đại học luật
Hà Nội năm 2007). Luận án đã luận giải sâu sắc những vấn đề lý luận cơ bản
về chế định chứng minh, cũng như tiếp cận vấn đề nghiên cứu sự hình thành,
phát triển của các quy định điều chỉnh về hoạt động chứng minh dưới góc nhìn
lịch sử hình thành và phát triển của Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, từ đó
chỉ ra được sự kế thừa và phát triển trong các quy định điều chỉnh về hoạt động
chứng minh của Bộ luật tố tụng dân sự; Bên cạnh đó, luận án tìm ra được cơ sở
lý luận của việc hình thành chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt
Nam xuất phát từ lý luận triết học Mác – Lênin và chủ nghĩa duy vật biện

Thỉnh, tạp chí luật học năm 2004 – Đặc san góp ý dự thảo BLTTDS; Bài viết
“Bàn về chế định chứng cứ và chứng minh trong TTDS” của tác giả Phạm
Thái Quý, tạp chí dân chủ và pháp luật của Bộ Tư pháp, số 12/2008; Bài viết
“Một số khó khăn, vướng mắc qua thực tiễn áp dụng các quy định của
BLTTDS về giám định, chi phí giám đinh, định giá, án phí cùng một số kiến
nghị” của tác giả Phạm Minh Tuyên, tạp chí Tòa án nhân dân, số 8/2008; Bài
viết “Phân định ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh và trách nhiệm chứng
minh trong TTDS” của tác giả Nguyễn Minh Hằng, tạp chí kiểm sát, số
20/2012…
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy, các công
tình này mới dừng lại ở việc nghiên cứu một khía cạnh trong nguyên tắc chứng
minh trong TTDS, như: quyền, nghĩa vụ, hoạt động, thời hạn chứng minh...
Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu hệ thống, toàn diện về
nguyên tắc chứng minh trong TTDS. Những nội dung nghiên cứu trong Luận
văn này không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào đã
được công bố trước đây.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về chứng minh
và nguyên tắc chứng minh trong TTDS, thực tiễn thực hiện các quy định của
pháp luật Việt Nam về những quy định này. Liên quan đến đề tài, có nhiều nội
dung khác nhau, trong phạm vi của một luận văn thạc sỹ tác giả không thể xem
xét giải quyết hết mọi vấn đề mà chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu các nội
dung sau:


9

- Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc chứng minh trong tố tụng dân sự
như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở các quy định về chứng minh để hình


10

định pháp luật về nguyên tắc chứng minh trong trong tố tụng dân sự. Kết quả
nghiên cứu nhằm đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc
chứng minh, cũng như việc áp dụng quy định pháp luật về nguyên tắc chứng
minh trong tố tụng dân sự trên thực tế đạt được hiệu quả hơn.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc chứng minh trong
tố tụng dân sự.
- Nghiên cứu nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện
hành về nguyên tắc chứng minh.
- Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của Pháp luật TTDS trong
BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) về nguyên tắc chứng minh. Từ đó,
phân tích nguyên nhân dẫn tới sự những thay đổi trong quy định về nguyên tắc
chứng minh trong BLTTDS 2015, đồng thời đánh giá khả năng hiện thực của các
quy định đó trong thực tế hoạt động tố tụng dân sự và đề xuất giải pháp nhằm
đảm bảo thực thi các quy định pháp luật về nguyên tắc chứng minh.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, luận văn phải trả lời được các câu hỏi
sau đây:
- Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, ý nghĩa của nguyên tắc chứng minh và mối
quan hệ của nguyên tắc chứng minh với các nguyên tắc khác trong TTDS là
gì?
- Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về nguyên tắc chứng minh ra
sao? Có những điểm tương thích và khác biệt với nguyên tắc chứng minh trong
quy định TTDS của một số quốc gia trên thế giới như thế nào?
- Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật TTDS về nguyên tắc chứng
minh trong năm 2015 ra sao? Có những ưu điểm, hạn chế vướng mắc gì?
Nguyên nhân của thực trang đó là gì?

Thứ ba, Nghiên cứu thực trạng áp dụng nguyên tắc chứng minh trong
thực tiễn xét xử hiện nay, đánh giá khách quan khả năng hiện thực hóa của quy
định pháp luật về nguyên tắc chứng minh trong BLTTDS 2015. Phát hiện các
vấn đề và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp góp phần bảo đảm thực hiện
pháp luật TTDS Việt Nam về nguyên tắc chứng minh.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy,
tham khảo ở bậc Đại học, các trường đào tạo nghề trong lĩnh vực tư pháp và là tư
liệu có giá trị để các nhà khoa học, những người làm công tác thực tiễn tham khảo
trong nghiên cứu khoa học TTDS.


12

7. Bố cục luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục;
Luận văn này gồm 3 chương như sau:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc chứng minh
trong TTDS.
- Chương 2. Nội dung nguyên tắc chứng minh theo quy định pháp luật
TTDS Việt Nam hiện hành.
- Chương 3. Thực trạng áp dụng nguyên tắc chứng minh trong hoạt động
TTDS hiện hành và kiến nghị.

CHƯƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUYÊN TẮC CHỨNG
MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của nguyên tắc chứng minh trong
tố tụng dân sự



việc có khách quan nhưng đứng ở góc độ mỗi người tại những hoàn cảnh khác
1
Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.8.
2 Từ điển Tiếng Việt (2003). Nxb. Đà Nẵng, tr. 694.


14

nhau, việc định ra nguyên tắc cũng có những điểm khác biệt. Hai là, tư tưởng
chỉ đạo, định hướng chung mà toàn bộ hoạt động trong một lĩnh vực phải tuân
theo – tính bắt buộc. Với cách hiểu này, nguyên tắc của ngành luật là tư tưởng
chính trị, pháp lý cơ bản được định ra để định hướng chung cho toàn bộ các
quy định cụ thể điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định.
“Nguyên tắc của luật TTDS là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định
hướng cho việc xây dựng và thực hiện Pháp luật TTDS và được ghi nhận trong
các văn bản pháp luật TTDS”.3 Các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS là
những quy tắc xử sự cơ bản có hiệu lực pháp luật bao trùm nhất, đối với việc
xây dựng và thực hiện pháp luật TTDS, được thừa nhận rộng rãi, hay là những
quy phạm chung với mục đích chỉ đạo, mang tính chất cơ sở, nền tảng cho toàn
bộ quy trình TTDS. Vì vậy, các nguyên tắc này sẽ không ghi nhận những mệnh
lệnh cụ thể như: cho phép, bắt buộc, cấm đoán, … mà thể hiện một cách cô
đọng nhất bản chất, những đặc trưng cơ bản của TTDS. Nội dung của các
nguyên tắc cơ bản được triển khai, phát triển cụ thể trong toàn bộ các quy
phạm của pháp luật TTDS và vì vậy các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS
quyết định toàn bộ kết cấu của quy trình TTDS.
Các nguyên tắc cơ bản trong BLTTDS 2015 được hoàn thiện trên cơ sở
kế thừa và phát triển các nguyên tắc cơ bản đã được thừa nhận trong BLTTDS
năm 2004, sửa đổi năm 2011 trong đó có nguyên tắc cung cấp chứng cứ và
chứng minh trong TTDS. Theo Từ điển Tiếng Việt, chứng minh là “làm cho

nó và các tình tiết, sự kiện khác có ý nghĩa cho việc giải quyết VVDS. Các
tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong VVDS bao gồm: tình tiết,
sự kiện rõ rang mà mọi người đều biết; những tình tiết, sự kiện đã được
xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật, những tình tiết,
sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp
pháp.5
Chứng minh là hoạt động chi phối kết quả kết quả giải quyết VVDS. Quá
trình chứng minh kéo dài trong suốt quát trình giải quyết vụ việc dân sự. Hoạt
động chứng minh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự bao gồm nhiều hoạt
động khác nhau của các chủ thể tố tụng, nhưng chủ yếu và mang tính quyết
định là các hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ.
Tính thiết yếu của các hoạt động này cũng được khẳng định trong nhiều công
trình nghiên cứu liên quan đến “chứng minh trong TTDS”. Theo đó, chứng
minh trong TTDS là “tổng thể các hoạt động của Tòa án và các chủ thể tham
5 Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Nxb. Tư pháp. Hà Nội, tr. 166.


16

gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ …
nhằm mục đích sử dụng chứng cứ để xác định sự thật khách quan của VVDS”6
, hay cụ thể hơn, “chứng minh trong TTDS là hoạt động tố tụng của các chủ
thể tố tụng trong việc cung cấp, thu thập nghiên cứu, đánh giá và sử dụng
chứng cứ để xác định sự thật khách quan của VVDS”7. Ở một số giáo trình,
khái niệm chứng minh được ghi nhận là“một quá trình bao gồm hoạt động của
Tòa án và những người tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên
cứu và đánh giá chứng cứ nhằm mục đích xác định sự thật khách quan của vụ
án”8…
Có thể nói, tất cả các định nghĩa trên đều khẳng định chứng minh trong

trong các thời kỳ có sự khác biệt.
Có thể hiểu, nguyên tắc chứng minh trong TTDS là những tư tưởng chỉ
đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật để giải quyết VVDS,
chi phối mọi hành vi tố tụng dân sự của các chủ thể chứng minh thực hiện hoạt
động chứng minh trong tố tụng dân sự.
Theo đó, nguyên tắc chứng minh đề ra hai tư tưởng chỉ đạo, định hướng
cho việc xây dựng một loạt các quy định cụ thể về việc chứng minh để giải
quyết VVDS, cũng như chi phối mọi hành vi tố tụng của các chủ thể chứng
minh, bao gồm:
Thứ nhất, đương sự chứng minh cho yêu cầu, phản yêu cầu của mình.
Đây là định hướng đương nhiên của nguyên tắc chứng minh, xuất phát từ
chính nền tảng của quan hệ dân sự là quan hệ giữa các bên, việc đề xuất định
hướng này tạo cơ hội cho các bên đương sự tham gia giải quyết vụ việc của
mình một cách khuôn khổ, là nền tảng cho hoạt động chứng minh của chính
các đương sự trong toàn bộ quá trình TTDS. Đồng thời, chi phối giản tiếp hoạt
động của các chủ thể tố tụng dân sự khác liên quan tới hoạt động chứng minh
của đương sự. Hoạt động chứng minh không thể tách rời chủ thể chứng minh
là đương sự. Định hướng, đích cuối cùng của hoạt động chứng minh chính là
“yêu cầu” và “phản yêu cầu” của đương sự.
Thứ hai, Tòa án hỗ trợ đương sự chứng minh. Đây là tư tưởng chỉ đạo
hoàn toàn mới trong nguyên tắc chứng minh, Xét về mối quan hệ, thì đây là tư
tưởng chỉ đạo có tính chất bổ trợ cho tư tưởng chỉ đạo trên, đồng thời nó cũng
khẳng định tầm quan trọng, vai trò của Tòa án – một trong những chủ thể
chứng minh trong TTDS là “hỗ trợ” hoạt động chứng minh của đương sự. Với
việc khẳng định tư tưởng chỉ đạo này, các quy định pháp luật về hoạt động
chứng minh, về các hoạt động của Tòa án phải có mối liên kết nhất định, ràng
buộc lẫn nhau, để đảm bảo việc “hỗ trợ” chứng minh cho đương sự.


18

cạnh: (i) Nguồn gốc hình thành của các nguyên tắc này là từ các quan hệ của
các chủ thể chứng minh trong TTDS, sự biến động của nguyên tắc chứng minh


19

trong TTDS phụ thuộc vào biến động của các quan hệ đó. Các quan hệ được
điều chỉnh trong luật thường là các quan hệ chung có tính ổn định cao. (ii) Khi
tiến hành xây dựng các nguyên tắc cơ bản trong TTDS, các nhà làm luật phải
tiếp cận ở khả năng thực thi của quy định đó trong một giai đoạn, một thời kỳ
nhất định, đặc biệt quy định được xây dựng phải phụ thuộc vào các chính sách
của nhà nước, mà các chính sách này luôn có định hướng theo từng giai đoạn.
(iii) Tính ổn định của nguyên tắc chứng minh trong TTDS bị chi phối bởi giai
cấp thống trị, mà xét trong hoàn cảnh lịch sử, phát triển của đất nước ta, sự ổn
định về giai cấp thống trị cũng là một trong những yếu tố dẫn đến ổn định của
nguyên tắc chứng minh trong TTDS.
Hai là, Nguyên tắc chứng minh có những đặc thù riêng so với các nguyên
tắc khác, tính chất đặc thù được thể hiện ở các đặc trưng cơ bản sau:
- Nguyên tắc chứng minh gắn liền với và là bộ phận không tách rời của
nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự (Điều 6
BLTTDS 2015). Nguyên tắc này là một nguyên tắc đặc trưng áp dụng riêng biệt
trong tố tụng dân sự. Đây là một nguyên tắc chi phối toàn bộ hoạt động TTDS,
có ảnh hưởng quyết định làm cơ sở để Tòa án xem xét bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự trong VVDS. “Việc thực hiện nguyên tắc này là biểu
hiện của việc thực hiện quyền quyết định và định đoạt của đương sự trong tố
tụng dân sự”.9
- Chủ thể thực hiện nguyên tắc chứng minh:
Chủ thể thực hiện nguyên tắc chứng minh bao gồm:
(i) Nhóm chủ thể thực hiện nguyên tắc chứng minh với tư cách là những
người tiến hành tố tụng – nhân danh quyền lực nhà nước, căn cứ vào vị trí,

biệt họ có thể chính là người nắm giữ những chứng cứ quan trọng nhất.
“Quyền chứng minh là khả năng của các chủ thể chứng minh, bằng hành
vi tố tụng của mình tham gia vào hoạt động chứng minh. Việc thực hiện quyền
chứng minh do các chủ thể chứng minh quyết định”10. Theo từ điển luật học,
“quyền” được giải thích là:
Chủ thể có thể lựa chọn giữa việc xử sự theo cách thức mà nó được
phép tiến hành hoặc không xử sự như vậy (hành động hoặc không hành
động)… Quyền chủ thể có 3 thuộc tính là: khả năng của chủ thể xử sự
theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép; khả năng yêu cầu các
chủ thể khác chấm dứt các hành động cản trở nó thực hiện quyền và
nghĩa vụ, hoặc yêu cầu chúng tôn trọng các nghĩa vụ tương ứng phát sinh
10 Nguyễn Minh Hằng (2012), “Phân định ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh và trách nhiệm chứng minh
trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát (số 20) tại địa chỉ: />ngày truy cập 05/8/2016.


21

từ quyền và nghĩa vụ; khả năng của chủ thể có thể yêu cầu các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền can thiệt để bảo vệ lợi ích của minh. Các thuộc
tính này là một thể thống nhất không thể tách rời trong cấu thành của
quyền chủ thể. 11
Theo đó, đương sự có quyền: chứng minh; yêu cầu các chủ thể khác chấm
dứt các hành động cản trở mình thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh; yêu
cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệt để bảo vệ lợi ích trong việc
thực hiện chứng minh của mình.
Đối lập với quyền chứng minh, “nghĩa vụ chứng minh bao gồm những
hành vi tố tụng nhất định trong hoạt động chứng minh mà các chủ thể chứng
minh bắt buộc phải tiến hành hoặc không được tiến hành theo quy định của
pháp luật”12. Khi đặt chủ thể chứng minh vào vị trí phải thực hiện nghĩa vụ
chứng minh thì việc chứng minh khi đó mang tính bắt buộc, mệnh lệnh của

có quyền lựa chọn hỗ trợ chứng minh hoặc không. Nhưng nếu người yêu cầu là
người tiến hành tố tụng thì họ phải hỗ trợ, vì khi đó, yêu cầu này có mang theo
tính mệnh lệnh, bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước.
- Đặc trưng về đối tượng nguyên tắc chứng minh trong TTDS hướng tới
là tất cả các tình tiết, sự kiện phải chứng minh để làm sáng tỏ sự thật khách
quan của vụ việc dân sự, trừ các trường hợp không cần phải chứng minh:
Thứ nhất, các tình tiết, sự kiện phải chứng minh để làm sáng tỏ sự thật
khách quan của vụ việc dân sự là các tình tiết có mối quan hệ trực tiếp tới
VVDS. Theo quy định tại Điều 91 BLTTDS 2015 (Điều 79 BLTTDS 2004) thì
đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải
đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự
phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra được các căn cứ để chứng minh. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà
nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh
cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Thứ hai, các trường hợp không cần phải chứng minh. Bao gồm:
(i) Các trường hợp chủ thể có quyền và nghĩa vụ chứng minh không cần
phải chứng minh theo quy định của BLTTDS 2015: Người tiêu dùng khởi
kiện… theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Đương sự là
người lao động trong vụ án lao động mà tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử
dụng lao động quản lý… Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được


23

thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp
không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của


24

đối này phụ thuộc vào ý chí chủ quan của đương sự (hoặc người đại diện theo
ủy quyền của đương sự), chỉ các tình tiết, sự kiện, kết quả ghi nhận trong văn
bản, kết luận của cơ quan chuyên môn đó đúng sự thật quan trọng hơn cả là
phải trong phạm vi chấp nhận của đương sự mới không cần phải chứng minh
lại. Khi thực hiện chứng minh lại không thể do các đương sự
tự do lựa chọn tổ chức thực hiện, mà theo chỉ định của Tòa án.
- Đặc trưng về cách thức thực hiện nguyên tắc chứng minh:
Cách thức thực hiện nguyên tắc chứng minh bao gồm:
(i) Thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ:
Thu thập tài liệu, chứng cứ trong TTDS là hành vi tìm kiếm, lưu giữ tài
liệu, chứng cứ. Điều 93 BLTTDS 2015 quy định “Chứng cứ trong VVDS là
những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp,
xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được
theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn
cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu
hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”. Cung cấp tài liệu,
chứng cứ trong TTDS là hành vi chuyển, giao nộp những tài liệu, chứng cứ của
người lưu giữ hoặc thu thập tài liệu, chứng cứ cho Tòa án hoặc những đương
sự khác. Những chứng cứ để chứng minh được cho sự thật khách quan của vụ
án phải hội tụ đủ ba thuộc tính: Tính khách quan: chứng cứ gắn liền với vụ
tranh chấp, tồn tại độc lập ngoài ý chí của đương sự; Tính liên quan: chứng cứ
đó phải liên quan tới nội dung vụ án có quan hệ với yêu cầu hay phản yêu cầu
của đương sự; Tính hợp pháp: các chứng cứ của vụ kiện phải được thu thập
theo trình tự và thủ tục, có hình thức, thẩm quyền người cấp đúng pháp luật.14
(ii) Tranh luận, tranh tụng:
Theo khoản 1 Điều 247 BLTTDS 2015 “Tranh tụng tại phiên tòa bao
gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, trả lời và phát biểu tranh luận về chứng cứ,

chứng cứ. Từ đó, quyết định giá trị sử dụng của tài liệu, chứng cứ đối với vụ
án đó. Việc xem xét, đánh giá tài liệu, chứng cứ luôn thực hiện xen lẫn cùng
với các hoạt động chứng minh khác, nhưng luôn phải tiến hành sau thời điểm
thời điểm thụ lý.
(iv) Điều hành hoạt động chứng minh:
Tổ chức, điều hành hoạt động chứng minh là việc đưa ra các quyết định
liên quan đến việc chứng minh (yêu cầu cung cấp chứng cứ, bổ sung chứng
cứ…) hoặc hành vi tạo điều kiện về thời gian, địa điểm, cơ sở vật chất cho các

15 Nguyễn Thị Thu Hà (4/2004), “Một số vấn đề về phiên tòa sơ thẩm”, Đặc san góp ý dự thảo BLTTDS, Tạp
chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 33.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status