Những giải pháp pháp lý trong bộ luật dân sự năm 2015 góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ MINH CHI

NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁP LÝ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ
NĂM 2015 GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT - KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ MINH CHI

NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁP LÝ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ
NĂM 2015 GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT - KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế


LỜI CAM ĐOAN
Để thực hiện luận văn “Những giải pháp pháp lý trong Bộ luật dân sự
năm 2015 góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của
doanh nghiệp” tôi đã tự mình nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, vận dụng các kiến
thức đã học và trao đổi với giảng viên hướng dẫn là PGS.TS Dương Đăng
Huệ.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi,
hoàn toàn không sao chép từ tác phẩm nào khác. Các số liệu và kết quả nêu
trong luận văn là trung thực và chính xác. Các số liệu trích dẫn trong quá
trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Tác giả luận văn

Lê Minh Chi


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1
Chương 1. VAI TRÒ CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG SẢN XUẤT – KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
6
1.1. Khái quát về doanh nghiệp
6
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
6
1.1.2. Phân loại doanh nghiệp
8
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất – kinh

trong giao kết hợp đồng
46
2.2.3. Bộ luật dân sự 2015 bổ sung quy định về điều kiện giao dịch
chung
47
2.2.4. Bộ luật dân sự 2015 hạn chế các trường hợp tuyên bố hợp đồng vô
hiệu do vi phạm hình thức
48
2.2.5. Bộ luật dân sự 2015 bổ sung quy định mới về điều chỉnh hợp đồng
khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
51
2.2.6. Bộ luật dân sự 2015 bổ sung quy định về đại diện của pháp nhân
trong giao kết và thực hiện hợp đồng
54
2.3. Bộ luật dân sự 2015 tăng cường cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các doanh nghiệp
55


2.3.1. Bộ luật dân sự 2015 khẳng định nguyên tắc mọi quyền dân sự đều
được Nhà nước công nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện
55
2.3.2. Bộ luật dân sự 2015 tăng cường phương thức và biện pháp bảo vệ
quyền dân sự
56
2.3.3. Bộ luật dân sự 2015 quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm
quyền không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự với lý do chưa có điều
luật để áp dụng
58
2.3.4. Bộ luật dân sự 2015 sửa đổi quy định về thời hiệu

83


7

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hơn 30 năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương đẩy mạnh
việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
có sự quản lí của Nhà nước. Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, Việt Nam đã tiến
hành đổi mới kinh tế bằng nhiều chính sách nhằm khuyến khích các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển. Điều này đã thúc đẩy sự gia
tăng không ngừng về số lượng cũng như quy mô của các doanh nghiệp.
Để có thể tác động một cách có hiệu quả đến hoạt động sản xuất - kinh
doanh của các doanh nghiệp, Nhà nước đã sử dụng nhiều công cụ, trong đó
pháp luật được coi là công cụ hiệu quả và hiệu lực nhất. Bên cạnh Hiến pháp
cũng như các luật chuyên ngành, Bộ luật dân sự 2015 ra đời đã ghi nhận
nhiều giải pháp pháp lý mới chưa từng có trong pháp luật dân sự nước nhà và
sự áp dụng các quy định mới này chắc chắn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Xét về tổng thể, Bộ luật dân sự 2015 đã thể chế hóa nhiều nội dung
trong Hiến pháp 2013, phù hợp với chiến lược phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế
của đất nước.
Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017, tức là hiện nay
chưa được áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, việc nghiên cứu ngay từ bây
giờ với mục đích nắm bắt, nhận diện và tìm các biện pháp để áp dụng các quy
định mới trong Bộ luật dân sự này là hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với giới
doanh nhân. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Những giải pháp pháp lý trong Bộ
luật dân sự năm 2015 góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

10-17).
Nhìn chung, những bài viết, sách tham khảo nên trên đều tập trung
nghiên cứu vai trò, những điểm mới cơ bản của Bộ luật dân sự 2015, nhưng
chưa có công trình nào đề cập đến nội dung những quy định mới của Bộ luật
dân sự 2015 góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của
doanh nghiệp.
Vì vậy, có thể nói đây là đề tài thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về những
giải pháp pháp lý trong Bộ luật dân sự 2015 liên quan đến hoạt động của
doanh nghiệp và đã chứng minh rằng các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai.


9

3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nhận diện và phân tích
những điểm mới cơ bản của Bộ luật dân sự 2015 so với Bộ luật dân sự 2005,
tác giả muốn khẳng định rằng, Bộ luật dân sự 2015 là bộ luật của nền kinh tế
thị trường, có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
b. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ mục đích nêu trên, luận văn tập trung vào việc nghiên cứu
hai đối tượng chủ yếu:
Thứ nhất, nghiên cứu để làm rõ có những yếu tố gì ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Qua việc nghiên cứu
các yếu tố này, tác giả muốn khẳng định rằng, trong các yếu tố đó thì pháp
luật có vai trò cực kỳ quan trọng nếu không nói là quyết định.
Thứ hai, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định mới của Bộ luật
dân sự 2015 có liên quan đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh
nghiệp như chế định về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản (các

sự 2015 đã chấm dứt quan điểm lạc hậu tồn tại lâu nay trong khoa học pháp lý
Việt Nam nói chung và khoa học pháp lý dân sự nói riêng về việc đối với
quyền trên tài sản thì chỉ có một loại quyền duy nhất là quyền sở hữu mà
không có thêm loại quyền nào khác (các nước phương Tây gọi là vật quyền
hạn chế). Quan điểm mới của Bộ luật dân sự 2015 đã làm cho Bộ luật dân sự
Việt Nam đến gần hơn với thế giới trong lĩnh vực vật quyền.
3. Luận văn cũng khẳng định rằng, do có vai trò rất quan trọng đối với
hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nên muốn nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp thì Nhà
nước ta phải quan tâm hoàn thiện hệ thống pháp luật, không chỉ hoàn thiện
các luật chuyên ngành mà còn phải đặc biệt quan tâm đến Bộ luật dân sự luật gốc của hệ thống luật tư.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng để tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật cho người dân, đặc biệt là cho giới doanh nhân. Hơn ai hết
các doanh nhân là người sẽ có điều kiện nắm vững hơn về các quy định mới
của Bộ luật dân sự, từ đó có thể vận dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất –
kinh doanh của mình. Ngoài ra, luận văn có thể được các sinh viên, những
người nghiên cứu pháp luật sử dụng để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu,


11

giảng dạy của mình.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm ba chương.
Chương 1: Vai trò của Bộ luật dân sự 2015 đối với hoạt động sản
xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Chương 2: Những quy định mới của Bộ luật dân sự 2015 góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.

vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”1. Có thể thấy, khái niệm doanh
nghiệp ở đây có nội hàm hẹp hơn khái niệm chủ thể kinh doanh. Hiểu theo
nghĩa thông thường, chủ thể kinh doanh là tất cả các cá nhân, tổ chức tiến
hành hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhưng không phải tất cả các chủ thể
kinh doanh đều được coi là doanh nghiệp. Bởi lẽ, có những chủ thể kinh
doanh như hộ gia đình, cá nhân và ngay cả các hợp tác xã cũng không thỏa
mãn các điều kiện theo định nghĩa pháp lý về doanh nghiệp, do đó cũng
không được gọi là doanh nghiệp. Trên thực tế, địa vị pháp lý của các chủ thể
1 Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014.


13

kinh doanh là doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh không phải là doanh
nghiệp cũng được quy định khác nhau.
Ở mỗi lĩnh vực, mỗi góc độ lại có những khái niệm riêng về doanh
nghiệp. Do đó, để hiểu sâu hơn về doanh nghiệp, chúng ta cần xem xét khái
niệm doanh nghiệp dưới nhiều quan điểm khác nhau.
- Theo từ điển Tiếng Việt online2: Doanh nghiệp là cơ sở hoạt động
sản xuất để kiếm lời. Và kinh doanh là hoạt động tổ chức buôn bán để thu lời
lãi. Ví dụ: đầu tư vốn để kinh doanh cửa hàng tạp hóa. Với cách hiểu này,
doanh nghiệp là tổ chức và phải tiến hành hoạt động sản xuất, buôn bán để
sinh lợi.
- Theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản
xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những
thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch, có lúc phải ngừng sản
xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được3.
- Theo quan điểm kinh tế - xã hội: Doanh nghiệp là những thực thể xã
hội, được tạo lập với chức năng chủ yếu là hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp được cấu thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm: người lao động,

không được coi là doanh nghiệp. Doanh nghiệp được thành lập để sản xuất
hàng hóa, cung cấp dịch vụ với mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, trong một giai
đoạn hoạt động nào đó, trong một thương vụ nào đó có thể doanh nghiệp
không đạt được mục đích này. Nhưng điều đó không có nghĩa là lúc đó doanh
nghiệp này không được coi là doanh nghiệp. Hay nói cách khác, sự thua lỗ, tự
nó không làm mất đi tư cách doanh nghiệp của chủ thể kinh doanh.
Với những đặc điểm trên, có thể đưa ra khái niệm về doanh nghiệp như
sau: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, thường có tư cách pháp nhân, được
thành lập theo quy định của pháp luật và tiến hành hoạt động sản xuất - kinh
doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
1.1.2. Phân loại doanh nghiệp
1.1.2.1. Căn cứ vào hình thức sở hữu

- Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100%
vốn điều lệ4, tồn tại dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
- Doanh nghiệp tư nhân.
- Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp: (1) do hai bên hoặc nhiều
4 Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014.


15

bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp
định ký giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính
phủ nước ngoài; (2) do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với
doanh nghiệp Việt Nam; (3) do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu
tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh hiện
nay được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần.
1.1.2.2. Căn cứ vào trách nhiệm pháp lý

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được
chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu
cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các
nghĩa vụ tài sản trong phạm vi số vốn mà mình đã góp vào doanh nghiệp.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của
doanh nghiệp
1.1.3.1. Yếu tố khách quan

Thứ nhất, môi trường chính trị.
Môi trường chính trị là yếu tố hàng đầu quyết định chiến lược phát triển
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Môi trường này bao gồm thể chế chính trị, sự
ổn định của Chính phủ, hệ thống các văn bản pháp quy, các chính sách,
đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước... Cơ chế điều hành của Chính
phủ ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chế ban hành luật pháp, tính hiệu lực của luật
pháp và các chính sách kinh tế. Do vậy, doanh nghiệp khi bắt đầu kinh doanh
đòi hỏi phải có sự xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng về hệ thống luật pháp cũng
như các chính sách, định hướng quốc gia về phát triển kinh tế để có thể xây
dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp và hiệu quả.
Yếu tố chính trị là yếu tố rất phức tạp, tuỳ theo điều kiện cụ thể yếu tố
này sẽ tác động tốt hay xấu đến sự phát triển kinh tế trong phạm vi quốc gia.
Môi trường chính trị ổn định luôn luôn là tiền đề cho việc phát triển và mở
rộng các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và
ngoài nước. Các hoạt động đầu tư đó lại tác động trở lại rất lớn tới hiệu quả
sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, khi đất nước rơi vào tình
trạng bất ổn về chính trị, bạo loạn thường xuyên xảy ra, đương nhiên, không
chỉ doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc sản xuất - kinh doanh mà cả người
dân cũng khó khăn trong việc ổn định cuộc sống. Doanh nghiệp không có
điều kiện kinh doanh - sản xuất tất yếu nền kinh tế cũng ngày càng đi xuống
và kém phát triển.
Thứ hai, môi trường kinh tế.

lớn. Đồng thời số lượng các nhà đầu tư có khả năng chấp nhận mạo hiểm đầu
tư vào quốc gia đó cũng rất hạn chế. Pháp luật luôn đưa ra những quy định
cho phép, không cho phép hoặc những đòi hỏi buộc các doanh nghiệp phải
chấp hành. Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong hệ thống luật pháp như chính
sách về thuế, chính sách về đầu tư... cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản


18

xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, việc xây dựng hệ thống pháp
luật có chất lượng là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tối ưu nhất.
Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các văn bản pháp luật có
tác động đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp có thể kể đến
là Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bộ luật dân sự... Các văn bản
này đưa ra những định hướng về thể chế kinh tế (Hiến pháp); những quy định
chung nhất về pháp nhân, về quyền sở hữu, về hợp đồng (Bộ luật dân sự) và
bao gồm cả những quy định chi tiết về thương nhân, về pháp nhân, về hoạt
động kinh doanh (Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư). Tất cả các văn bản này
hợp thành cơ sở pháp lý vững chắc vừa bảo vệ quyền dân sự của doanh
nghiệp, vừa bảo đảm quyền tự do kinh doanh, giúp cho hoạt động của doanh
nghiệp đạt hiệu quả cao.
Thực tế cho thấy, môi trường pháp lý là nhân tố kìm hãm hoặc khuyến
khích sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra đối với các
doanh nghiệp là phải nắm vững tinh thần cũng như nội dung cụ thể của luật
pháp để tận dụng được tối đa các ưu đãi mà luật pháp mang lại và có những
đối sách kịp thời để tránh được các thiệt hại do sự thiếu hiểu biết về pháp lý
của mình có thể gây ra trong kinh doanh.
Thứ tư, môi trường văn hóa - xã hội.
Môi trường văn hóa - xã hội phản ánh trình độ dân trí, phong tục tập
quán của một đất nước, cho thấy nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Các

Ngoài các yếu tố nêu trên, môi trường công nghệ hay môi trường tự
nhiên... cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của
doanh nghiệp. Nếu các yếu tố này đều đạt chuẩn, ngày càng tiệm cận đến
vạch chuẩn thì hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ngày
càng thuận lợi và khởi sắc.
1.1.3.2. Yếu tố chủ quan

Thứ nhất, tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều cần đến tài
sản, do vậy tình hình tài chính tốt hay xấu đều tác động đến quá trình sản xuất
- kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông thường, doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh không những
đảm bảo cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh được diễn ra liên tục mà
còn giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ và áp dụng
kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm làm giảm chi phí, nâng cao năng suất và


20

chất lượng sản phẩm. Ngược lại, nếu khả năng tài chính của doanh nghiệp yếu
thì doanh nghiệp sẽ không đảm bảo cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh
diễn ra bình thường và cũng không có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, áp
dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, do đó không nâng cao được năng suất và
chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng
ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp, tới khả năng chủ động trong
sản xuất - kinh doanh, tới tốc độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Đối với lãnh đạo doanh nghiệp, cần nắm vững tình hình tài chính của
doanh nghiệp mình để cân đối tài chính, biết được lợi nhuận, khả năng thanh
toán, trả nợ của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những định hướng, chiến lược

cao. Do vậy, để doanh nghiệp hoạt động ở mức tối ưu nhất, đòi hỏi bộ máy
quản trị doanh nghiệp phải có năng lực, có trình độ, có tinh thần trách nhiệm
cao và phải xây dựng được các chiến lược kinh doanh, phương án kinh doanh
phù hợp với doanh nghiệp cũng như với từng thời kỳ kinh tế.
Thứ ba, người lao động.
Con người là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động sản xuất - kinh
doanh. Xét trong phạm vi doanh nghiệp, con người được thể hiện cơ bản dưới
góc độ người lao động.
Người lao động là những người trực tiếp làm ra các sản phẩm, hàng
hóa, là đối tượng trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất - kinh doanh của
doanh nghiệp. Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao động
tác động đến tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trình sản xuất - kinh
doanh; tác động đến năng suất, chất lượng sản phẩm, do đó nó ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tuyển dụng,
bố trí, sắp xếp người lao động vào làm việc tại các bộ phận trong doanh
nghiệp cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Người lao động được bố trí
công việc phù hợp với bằng cấp và sức lao động đương nhiên hiệu quả lao
động sẽ cao. Nếu một người lao động học sửa chữa điện tử lại được tuyển
dụng làm kế toán thì hiệu quả lao động không đạt được, ảnh hưởng đến chất
lượng công việc, đến hoạt động của những người lao động khác trong doanh
nghiệp và cũng ảnh hưởng đến tâm lý, thái độ của người lao động đó.
Vì vậy, để hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp có lợi
nhuận thì việc làm không thể thiếu là thường xuyên đào tạo, nâng cao tay
nghề cho người lao động; giúp người lao động tiếp cận, học tập những tiến bộ


22

của khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, thường xuyên quan tâm, chăm lo tới đời
sống vật chất, tinh thần; quyền, nghĩa vụ của người lao động nhằm tạo động


23

có thể kể đến như: Bộ luật Dân sự Nam Kỳ giản yếu (1883), Sắc lệnh ngày
21/7/1925 về chế độ điền thổ được áp dụng tại Nam Kỳ; Bộ Dân luật Bắc Kỳ
(1931) và tại Trung Kỳ là Bộ Dân luật Trung Kỳ (1936)... Sau khi nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, các văn bản này vẫn tiếp tục được áp dụng và
chỉ bị hủy bỏ khi có Chỉ thị số 772/TATC ngày 10/7/1957 của Tòa án tối cao.
Từ thời điểm đó trở đi, tại miền Bắc Việt Nam không tồn tại Bộ luật dân sự
thực thụ. Các vấn đề trong luật dân sự được chia nhỏ và được điều chỉnh bởi
nhiều luật, pháp lệnh khác nhau.
Năm 1959, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam được ban hành. Trong đó chứa đựng nhiều nội dung có ý
nghĩa quan trọng đối với pháp luật dân sự như những quy định về quyền và
nghĩa vụ của công dân. Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình; nhiều Thông
tư, Chỉ thị, Điều lệ về dân sự cũng dần xuất hiện. Nhìn chung, các văn bản
pháp luật dân sự này chủ yếu thể hiện mục tiêu phục vụ công cuộc cải tạo và
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ ở miền
Nam.
Tiếp đó, cùng với sự ra đời của Hiến pháp 1980, Nhà nước đã ban hành
nhiều Nghị định, Quyết định về kinh tế, không có văn bản dưới luật mang tính
dân sự. Các văn bản này chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế kế hoạch hóa
tập trung, quan liêu, bao cấp cao độ. Nhiều lĩnh vực dân sự không được điều
chỉnh trực tiếp như thừa kế, quyền sở hữu trí tuệ... Những quy định về nghĩa
vụ dân sự tuy được quy định nhưng chủ yếu về nhà ở, vàng bạc, kim khí quý,
đá quý và mang nặng tính chất hành chính, làm mất đi yếu tố bình đẳng, thỏa
thuận, tự nguyện và tự định đoạt giữa các chủ thể. Do chưa có một Bộ luật
dân sự thống nhất nên hàng năm Tòa án nhân dân tối cao đã tổng kết kinh
nghiệm xét xử và hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp giải quyết các tranh
chấp dân sự. Trong nhiều trường hợp, Toà án nhân dân tối cao đã giải thích

quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự. Do thiếu
văn bản pháp luật nên Toà án các cấp phải vận dụng các báo cáo tổng kết của
Toà án nhân dân tối cao để giải quyết các vụ việc, những tranh chấp nảy sinh
trong thực tế.
1.2.1.2. Giai đoạn từ năm 1995 đến trước năm 2005

Với nhu cầu cấp thiết kể trên, năm 1980, Nghị quyết về việc xây dựng
Bộ luật dân sự đã được đề cập và đến năm 1995, Bộ luật dân sự đầu tiên đã ra
đời, có hiệu lực từ ngày 01/07/1996. Bộ luật dân sự 1995 đánh dấu một bước
tiến quan trọng trong quá trình lập pháp của Nhà nước ta. Được đánh giá là có


25

vị trí thứ hai sau Hiến pháp, Bộ luật này đã điều chỉnh các quan hệ xã hội đa
dạng, phức tạp, làm nền tảng và định hướng cho việc phát triển các quan hệ
dân sự, kinh tế, hôn nhân gia đình, lao động. Bộ luật dân sự còn được xây
dựng với quy mô lớn nhất trong các bộ luật từ trước đến nay, gồm 838 Điều
được kết cấu bởi 35 Chương, 52 Mục, 7 Phần. Do có phạm vi điều chỉnh rộng
lớn nên một loạt văn bản pháp luật hướng dẫn các quy định của Bộ luật dân
sự 1995 đã ra đời, nhiều nhất là các Nghị định của Chính phủ. Từ khi có Bộ
luật dân sự 1995, hoạt động kinh tế của Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Giai
đoạn này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân cũng
như đầu tư trực tiếp nước ngoài. Dưới sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự, kinh
tế mở rộng cửa, kim ngạch xuất nhập khẩu được cải thiện, hợp tác song
phương và đa phương giữa Việt Nam và nhiều quốc gia khác cũng bắt đầu
khởi sắc.
1.2.1.3. Giai đoạn từ năm 2005 đến trước năm 2015

Từ năm 2001 đến năm 2013 là giai đoạn nền kinh tế có sự tăng trưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status