Quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CAN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành

: Luật Hình sự và Tố Tụng hình sự

Mã số

: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Bùi Kiên Điện

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tiễn,
được sự hướng dẫn, giảng dạy của các thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ cùng với
sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sĩ luật
học. Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Các thầy cô Khoa Pháp luật Hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội đã
tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

1. Tính cấp thiết của đề tài

1

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4

4. Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

5

5. Phương pháp nghiên cứu

6

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

6



2.1. Kết quả thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của bị can
trong tố tụng hình sự

35

2.2. Tồn tại trong việc thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của bị
can trong tố tụng hình sự Việt Nam

43

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……………………………………………...………..….59


CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC
HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CAN TRONG TỐ TỤNG HÌNH
SỰ

60

3.1. Yêu cầu nâng cao chất lượng thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can
trong tố tụng hình sự ở giai đoạn hiện nay

60

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị
can trong Tố tụng hình sự

66


đảm bảo tính nhân đạo cao, phù hợp chuẩn mực đạo đức và pháp lý của một
xã hội công bằng, văn minh là đòi hỏi của pháp luật tố tụng hình sự trong giai
đoạn hiện nay.
Bị can là một trong những chủ thể tham gia tố tụng hình sự. Do đó, việc
quy định và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng
hình sự cũng là một nội dung của nguyên tắc tôn trọng, đảm bảo cho quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, quyền con người trong tố tụng hình sự. Nghị
quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,
định hướng đến năm 2020 chỉ rõ: "Hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước


10

đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ
quan nhà nước, nhất là toà án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm
minh mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; khắc
phục việc xử lý oan, sai”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm
2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra
phương hướng: "hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng
bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”.
Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của
Nhà nước, trong những năm qua, các cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố
gắng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao và đã đạt được nhiều thành
tích đáng khích lệ trong hoạt động bảo vệ việc thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của công dân nói chung và của bị can trong tố tụng hình sự nói riêng, góp
phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân.
Cùng với đó trong thời gian qua Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung và ban

trong các tài liệu chuyên khảo như: “Họ vẫn chưa bị coi là có tội: quyền và
nghĩa vụ của bị can, bị cáo” của tác giả Vũ Đức Khiển, Phạm Xuân Chiến
(Hà Nội năm 1989); “Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội” của
tác giả Phạm Hồng Hải (nxb Chính trị - Hành chính năm 1999).
Đồng thời, có khá nhiều bài viết về một số khía cạnh cụ thể của đề tài
đã được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật như: “Thực trạng thực
hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo” của tác giả Hoàng Thị Sơn (tạp chí
luật học số 05/2000); “Về nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa trong luật tố
tụng hình sự. Việt Nam” của tác giả Nguyễn Trọng Phúc (tạp chí nhà nước và
pháp luật số 02/2008); “Hoàn thiện quy định về bị can, bị cáo trong Bộ luật
Tố tụng hình sự” của tác giả Phạm Hồng Hải (tạp chí kiểm sát số 01/2009);


12

“Quyền bào chữa và việc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong
Tố tụng hình sự” tác giả Nguyễn Văn Trượng (tạp chí dân chủ và pháp luật số
12/2009); “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền và
nghĩa vụ của bị can, bị cáo và cơ chế bảo đảm và cơ chế thực hiện” của tác
giả Chu Thị Trang Vân (Viện nhà nước và pháp luật số 12/2010); “Bất cập về
thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong thực tiễn” của tác
giả Nguyễn Khắc Quang (tạp chí nhà nước và pháp luật số 12/2010)… Tuy
nhiên, các đề tài trên chỉ đề cập đến một số vấn đề nhất định liên quan đến
quyền của bị can, bị cáo nhưng chưa nghiên cứu toàn diện, hệ thống về
quyền, nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự. Khi chọn chọn đề tài
“Quyền và nghĩa vụ của bị can trong Tố tụng hình sự” để nghiên cứu làm
luận văn thạc sỹ, tác giả mong muốn thống nhất nhận thức về các vấn đề
thuộc nội dung của đề tài được nghiên cứu, làm rõ những vấn đề chưa được
nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện quy định của pháp luật và nhất là
đưa ra những giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả nhất những quy định của

4.2. Dựa vào thực trạng các quyền và nghĩa vụ của bị can trong hoàn
cảnh thực tế của Việt Nam xác định:
- Những hạn chế của các quy định của BLTTHS 2003 về các quyền và
nghĩa vụ của bị can?
- Thực tiễn các quyền của bị can được thực hiện trong hoạt động Tố
tụng hình sự?
- Các yêu cầu cơ bản và những điều kiện cần thiết phục vụ cho việc đề
xuất các giải pháp, định hướng góp phần nâng cao việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự.


14

5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm và đường lối của Đảng,
Nhà nước về cải cách tư pháp.
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đã được xác định, đề tài sử
dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể của khoa học pháp lý phù
hợp với yêu cầu của từng vấn đề nghiên cứu như: các phương pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh, thống kê…đối với từng vấn đề cụ thể để làm sáng tỏ nội
dung cần nghiên cứu
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Thứ nhất, đề tài góp phần tạo sự thống nhất trong nhận thức về quyền
và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự.
- Thứ hai, với việc đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật
TTHS về quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự, đề tài đã cơ bản
giải quyết được những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện những quy
định của pháp luật trên thực tế.
- Thứ ba, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu để

tại khoản 1 điều 49 BLTTHS năm 2003 thì “bị can” là người đã bị khởi tố về
hình sự”.
Thuật ngữ “bị can” đã được sử dụng trong Sắc lệnh số 13 ngày 24
tháng 1 năm 1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán và trong nhiều
văn bản pháp luật tố tụng hình sự khác nhưng vẫn chưa có một khái niệm cụ
thể về bị can. Điều 5 Sắc lệnh số 13 quy định như sau: “Khi bắt người trong
hai trường hợp kể trên, ban tư pháp phải lập biên bản hỏi cung và giải bị can
lên ngay Tòa án trên trong thời hạn 24 giờ là cùng”. Điều 41: “Sau khi nghe
các bị can, các người làm chứng, cáo trạng của Chưởng lý, và sau cùng nghe
lời cãi của các bị can, ông Chánh án, hai Hội thẩm, hai Phụ thẩm nhân dân
lui vào phòng nghị xử để cùng quyết nghị về tất cả các vấn đề thuộc về tội
vong, hình phạt, trường hợp tăng tội và trường hợp giảm tội”. Có thể thấy,
trong giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử thì người bị buộc tội đều được gọi
là bị can. Như vậy, vẫn chưa có khái niệm rõ ràng phân biệt được rành mạch
bị can và bị cáo trong thời kỳ này.
Khái niệm bị can được quy định lần đầu tiên tại điều 34 BLTTHS năm
1988. Theo đó, một người chỉ có thể bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án
hình sự khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội3.
Việc xác định một người có tư cách bị can từ khi nào là điều rất quan trọng.
1 Nguyễn Như Ý (chủ biên, 1999), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, tr
156.
2 Viện nghiên cứu Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 55.
3 BLTTHS 1988


17

Bởi vì, khi một người phát sinh tư cách bị can đồng nghĩa với việc người đó
có quyền và nghĩa vụ của bị can. Các CQTHTT sẽ áp dụng các biện pháp tố
tụng được phép tiến hành với bị can theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

chuẩn quyết định khởi tố bị can thì người bị khởi tố mới có tư cách bị can thì
trong khoảng thời gian chờ đợi từ CQĐT ra quyết định khởi tố nhưng Viện
kiểm sát chưa phê chuẩn quyết định đó thì người đó có tư cách gì? Về vấn đề
này pháp luật vẫn chưa có một quy định cụ thể nào.
Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành thì bị can là người bị
khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can. Bị
can sẽ tham gia vào các giai đoạn điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét
xử sơ thẩm. Tư cách tố tụng của bị can sẽ chấm dứt khi CQĐT đình chỉ điều
tra, Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, Tòa án đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn
bị xét xử đối với bị can hoặc Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Khi một người bị
khởi tố hình sự thì họ sẽ trở thành đối tượng bị buộc tội trong vụ án. Tuy
nhiên, điều đó không có nghĩa xác định là họ có tội. Điều 72 Hiến pháp năm
1992, điều 9 BLTTHS năm 2003 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải
chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật”.
Có thể nhận thấy, khái niệm về bị can đã được đề cập nhiều, nhưng
trong BLTTHS năm 2003 vẫn chưa đưa ra được đặc điểm là “người bị tình
nghi” chứ không chỉ đơn giản là người đã bị khởi tố khởi tố hình sự.
Quan điểm thứ ba cho rằng:
Bị can là người bị tình nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
được ghi nhận trong pháp luật hình sự, đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố
và có quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát để điều tra làm rõ hành vi


19

phạm tội, phải chịu sự tác động về mặt pháp lý và có thể bị áp dụng những
biện pháp cưỡng chế cần thiết được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự5.
Từ khái niệm khoa học trên đây, có thể nhận thấy nội hàm của nó bao
gồm các đặc điểm cơ bản sau đây: bị can phải là người bị tình nghi thực hiện

đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng
đồng nhất định. Theo đó, trong khoa học pháp lý quyền “dùng để chỉ những
điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức
để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được
ngăn cản, hạn chế”9, quyền của cá nhân được phát sinh, tăng hay giảm tùy
theo từng thời điểm của quá trình tồn tại và phát triển của xã hội. Đối với cá
nhân, các quyền cơ bản phát sinh khi cá nhân sinh ra và có những quyền cụ
thể khác phát sinh và ghi nhận khi cá nhân phát triển đến một giai đoạn nhất
định, tham gia những quan hệ xã hội, những lĩnh vực hoạt động nhất định.
Quyền phải gắn với phạm vi quyền, nghĩa vụ và năng lực của cá nhân và phải
chịu tác động trong phạm vi giới hạn của pháp luật hay vùng lãnh thổ nhất
định. Quyền của cá nhân chỉ bị tước bỏ bởi pháp luật, chấm dứt khi người đó
chết. Ở nước ta, quyền của công dân được thể chế hóa tại Hiến pháp và luật.
Theo đó, công dân có các loại quyền đương nhiên như quyền làm người,
quyền được sống, quyền tự do; quyền chính trị, văn hóa, kinh tế, tự do dân
chủ, tự do cá nhân….
Quyền là một phạm trù trung tâm trong thực tiễn xây dựng, áp dụng
pháp luật và trong đời sống xã hội. Tôn trọng các quyền của cá nhân và đảm
bảo quyền của cá nhân là nguyên tắc quan trọng của hoạt động tư pháp và là
nội dung quan trọng của quản lý nhà nước.
Học thuyết về quyền tự nhiên của con người khẳng định rằng, con
người từ khi sinh ra đã có quyền tự do từ tạo hóa mà không phụ thuộc vào
8 Viện nghiên cứu Khoa học Pháp lý, tlđd chú thích 2, tr. 560.
9
Viện nghiên cứu Khoa học Pháp lý, tlđd chú thích 2, tr. 648.


21

Nhà nước. Ngược lại, học thuyết về tính Nhà nước của nhân quyền lại cho

hình sự đối với người bị tình nghi phạm tội, nhằm bảo vệ và thực hiện các lợi
ích hợp pháp của họ.
1.2. Cơ sở quy định quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự
Việt Nam và ý nghĩa của việc quy định
* Cơ sở lý luận
Thứ nhất, về vấn đề quyền con người
Quyền con người nói chung là một giá trị nhân loại, đồng thời có tính
lịch sử hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung mới qua các
thời đại khác nhau. Ý thức về nhân quyền và việc thực hiện nhân quyền có
một quá trình lịch sử lâu dài gắn với lịch sử xã hội loài người và giải phóng
con người qua các hình thái kinh tế - xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai
cấp qua đó quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại. Trong mỗi
quốc gia, quyền công dân là một nội dung cơ bản của quyền con người, là sự
thể hiện cụ thể của quyền con người đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc
lập Hoa Kỳ (1776), Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp (1789),
Tuyên ngôn của thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc và Tuyên ngôn
độc lập ngày 2/9/1945 của Việt Nam.
Quyền con người được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm
của mỗi cá nhân đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm bảo lợí ích
xã hội. Bảo đảm quyền con người là bảo đảm dân chủ, bảo đảm hiệu quả, hiệu
lực nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đây là mục
tiêu mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới.
Thứ hai, do yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông
qua ngày 28/11/2013 là Hiến pháp của thời kì đổi mới. So với các bản Hiến
pháp trước, đặc biệt là Hiến pháp năm 1992, 1980 thì phần lớn quyền và


23



Chính vì vậy nó đã trở thành vấn đề có tính toàn cầu. Mỗi quốc gia, mỗi cộng
đồng dân tộc đều phải có trách nhiệm giữ gìn và bảo đảm cho mỗi người một
cuộc sống phù hợp với tự do và nhân phẩm vốn có của họ. Với ý nghĩa ấy,
điều quan trọng trước hết là Hiến pháp, rồi sau đó là mỗi ngành luật của các
quốc gia phải thể chế hóa thành những quy phạm pháp luật và coi đó là cơ sở,
là nền tảng, là kim chỉ nam cho ngành luật của mình. Đấy chính là cơ sở tự
nhiên, xã hội và pháp lý quốc tế để ngành luật tố tụng hình sự Việt Nam xác
định việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị can nói riêng chính là bảo đảm
quyền con người của công dân nói chung là một nguyên tắc quan trọng trong
tố tụng hình sự.
Thứ ba, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm
Việc quy định các quyền và nghĩa vụ của bị can không chỉ là sự thể
hiện cụ thể của quyền con người mà còn do yêu cầu đấu tranh phòng chống
tội phạm trong thực tiễn. Các quy định trong BLTTHS về quyền, nghĩa vụ của
bị can là sự đảm bảo pháp lý cho bị can được thể hiện các quyền, lợi ích hợp
pháp của mình, cũng để đảm bảo cho công tác chống và phòng ngừa tội phạm
được hiệu quả và tạo hành lang pháp lý cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy
tố và xét xử đúng người đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người
vô tội. Hoạt động tố tụng có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do, quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, quyền được thông tin và các quyền khác của bị
can. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nắm vững nội dung,
thẩm quyền, thủ tục đối với bị can khi áp dụng trong thực tiễn sẽ góp phần
vào công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm hiệu quả. Việc hiểu
đúng, hiểu đầy đủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố
tụng hình sự trong thực tiễn áp dụng pháp luật sẽ nâng cao hiệu quả cuộc đấu
tranh chống và phòng ngừa tội phạm.


25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status