Triết Lý Việt Trong Văn Hóa Ẩm Thực(phần 7) - Pdf 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Như trong các bài viết khác về Việt Triết, người viết cố ý không liệt kê thư tịch do
các học gỉa ngoại quốc biên soạn. Không phải vì các tác phẩm của họ không có
gía trị, hay không ảnh hưởng tới bài viết này. Ngược lại, trong qúa trình học tập,
chúng tôi đã học từ nhiều người, nhiều nơi và nhiều văn hóa khác nhau. Những
nghiên cứu của Lévi-Strauss (Le Cru et le cuit), của Clifford Geertz (The
Interpretation of Culture) và nhiều nhà khảo cổ, nhân chủng học có nhiều điểm
đáng chú ý. Bạn đọc có thể thấy trong nhiều chú thích của bài viết. Riêng về
Nhật Bản và Trung Hoa, có khá nhiều tác phẩm bàn về triết lý ăn uống của họ,
trong đó có nhiều điểm tương đồng vớI lối ăn Việt. Việc trích các thư mục học
gỉa Việt biên soạn là do sự tự trọng, và lòng tôn trọng cũng như cổ súy họ.
Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương. Tái bản. Sài Gòn: Nxb Bốn
Phương, 1951.
Toan Ánh, Phong Tục Việt Nam. Tái bản. TphHồ Chí Minh: Nxb Đồng Tháp.
1998.
Vũ Bằng, Miếng Ngon Hà Nội. Nam Chi Tùng Thư, 1966.
Phan Kế Bính, Việt Nam Phong Tục (Đông Dương Tạp Chí, 1914-1915). Tái
bản: Phong Tục Việt Nam. Sài Gòn 1957 (?).
Xuân Huy (sưu tầm và giới thiệu), Văn Hóa Ẩm Thực và Món Ăn Việt Nam, bản
thứ hai. Tph ****: Nxb Trẻ, 2004.
Vũ Ngọc Khánh, Hành Trình vào Thế Giới Folklore Việt Nam, Hà Nội: Nxb
Thanh Niên, 2003.
Thạch Lam, Hà Nội Ba Sáu Phố Phường. Sài Gòn: Phượng Giang, 1959.
Hồng Kim Linh, Người Nhật Dưới Mắt Người Việt. Tokyo-Paris, 1995.
Hồng Kim Linh, Người Việt. California: Hồng Lĩnh, 1997.
Phan Ngọc, Một Cách Tiếp Cận Văn Hóa. Hà Nội: nxb Thanh Niên, 2000.
Vương Hồng Sển, Thú Ăn Chơi. Sài Gòn, 1967 (?)
Trần Ngọc Thêm, Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam. Tph ****: Nxb Đại Học Tổng Hợp,
1995.
Trần Ngọc Thêm, Tìm Về Bản sắc Văn Hóa Việt Nam. Bản thứ ba. Tph ****: Nxb
Tph HCH, 2003.

bản, tr. 338. Sau đây viết tắt là Xuân Huy.
[2] Các từ thông dụng như ăn uống, ăn chơi, ăn nằm, ăn mặc, ăn ỉa, ăn nói, ăn
nghỉ, ăn ngủ… thực ra luôn bao gồm hai động tác: ăn/uống, ăn/chơi, ăn/nằm, ăn/
ỉa, ăn/nói, ăn/nghỉ , ăn/ngủ… Điểm đáng suy nghĩ, đó là tại sao người Việt luôn
bắt đầu với tác động ăn, chứ không ngược lại như nằm ăn, ngủ ăn, ỉa ăn, uống
ăn, chơi ăn, vân vân. Sau nữa, ý nghĩa của ăn nằm, ăn ở … không dừng nơi tác
động ăn và ở, ăn và nằm… nhưng chỉ ra một sinh hoạt mang tính chất toàn diện
hơn. Ăn ở tương đương với to (co)live, ăn nằm (ăn ngủ) với to (co) habitate, to
(inti)mate, ăn uống với to feed, ăn chơi với to enjoy, vân vân.
[3] Xin tkh. Trần Văn Đoàn, Essays on Asian Philosophy and Religions
(Washington, D.C.: The Council for Research in Values and Philosophy, 2005);
Trần Văn Đoàn, Những Suy Tư Về Thần Học Việt Nam (Washington, D.C.:
Vietnam University Press, đương ấn hành); Trần Văn Đoàn, Towards a
Pluralistic Culture. Washington, D.C.: The Councilf for Research in Values and
Philosophy, 2005. Ngoài ra: Trần Văn Đoàn, Việt Triết Luận Tập I (Washington,
D.C.: Vietnam University Press, 2000).
[4] Tác gỉa Lưu Văn, trong bài “Quan Niệm về Miếng Ăn qua Cao Dao Tục Ngữ,”
đăng trên Tạp chí Tiến Thủ, số 15 (Xuân Nhâm Dần 1963), từng viết về “Miếng
Ăn hay là Triết Lý của Cuộc Đời.” Trích từ Xuân Hy, ctr. 68-69.
[5] Đạo nơi đây theo nghĩa nguyên lý, quy tắc và phương thế hay cách thế.
Người Nhật có đạo uống chè (chè đạo), đạo tu tâm (thiền đạo), đạo kiếm (kiếm
đạo). Trong võ thuật, ta có nhu đạo (yếu thắng mạnh), thái cực đạo (vận động
theo theo thái cực), vân vân. Người Tầu hiểu đạo theo nghĩa rộng hơn: Thiên
đạo, Địa đạo, nhân đạo, vật đạo, sư đạo, phụ đạo, quân đạo. Bất cứ cái gì cũng
có đạo lý của nó.
[6] Tất cả những câu ca dao, tục ngữ trích dẫn trong bài này, đều dựa theo Xuân
Huy, Phần Phụ Lục 1, ctr. 775-814.
[7] Thực sự mà nói, trong một xã hội đóng kín, những câu truyện trào phúng,
những nụ cười dí dỏm, vân vân, phản ánh trung thực hơn là những câu văn sáo
ngữ của giới học thức, chỉ biết “dùi mài kinh sử” và luyện tập “văn hay chữ tốt.”

(Tph ****: Nxb Tổng Hợp Đồng Tháp, 1998). Trần Quốc Vượng, Văn Hóa Việt
Nam – Tìm Tòi và Suy Ngẫm, (Hà Nội:Nxb Văn Hóa Dân Tộc, 2000), tr.398.
[12] Rất có thể sẽ có nhiều độc gỉa không đồng ý, phê bình lối nhìn của chúng tôi
như là “lý tưởng hóa nhược điểm.” (Xem bài của Ratzenberg trên Talawas). Tôi
không lý tưởng hóa, nhưng chỉ mô tả cái lối suy tư của người Việt. Những tệ hại,
tệ đoan, cho dù có được lý tưởng hóa tơí đâu, vẫn là tệ hại. Người Việt, y hệt
như bất cứ ai, cũng có rất nhiều tệ hại, nhưng họ không coi chúng là lẽ tất nhiên.
[13] Nạn cướp bóc của Hồng quân Liên Sô khi chiếm đóng Đông Âu, rồi tệ nạn
ăn cướp công khai của đạo quân Lữ Hán khi sang Việt Nam tiếp thu Nhật đầu
hàng, y hệt như nạn mãi dâm tại Âu châu sau thế chiến thứ II, cũng như những
tệ nạn trong vùng chiến tranh, hay nội chiến ở Phi Châu, Nam Mỹ là những ví dụ
điển hình. Người Việt có nạn cắp, nạn trộm. Nhưng người ăn cắp, ăn trộm vẫn
biết mình là đê tiện. Họ vẫn theo cái “đạo” của “đạo chích”: không giết người hay
uy hiếp nạn nhân, không ăn trộm người nghèo, không hãm hiếp phụ nữ, không
tranh dành lẫn nhau, gặp chủ nhả phải tránh, vân vân. Theo nhiều người kể lại,
dân vùng Nam Định, vào thời điểm khốn khổ bị nạn chết đói hoành hành (1945),
những người qúa đói có ăn cắp, dựt đồ ăn cho họ, và cho con cái họ. Nhưng khi
bị đánh, họ nhẫn nhục chịu đòn, không kêu ca, hay không trả đòn. Trong lịch sử
Việt, chúng ta chưa thấy (hay họa hiếm thấy) bọn trộm cắp lên làm vua làm
chúa, hay biến thành những nhân vật quan trọng như bọn Mafia bên Mỹ, bên Ý,
bọn buôn lậu cần sa ở vùng Nam Mỹ, và ngay cả bọn “hắc đạo” ở Hương Cảng,
Đài Loan và Nhật. Bạn đọc có thể nghi ngờ và đặt câu hỏi về “nạn tham nhũng,”
“tham quan ô lại” tức những người có quyền thế ngang nhiên ăn cắp của dân,
mà vào thời đại nào cũng có. Bọn người này không phải là bọn trộm cắp lên làm
quan, mà ngược lại, làm quan rồi mới sinh đạo tặc: No cơm ấm cật dâm dật mọi
nơi. Nhiều người trước khi có quyền hành, rất thanh liêm, rất khiêm nhượng, rất
lý tưởng. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, họ biến thành bạo quân, tham quan
ô lại, đúng như quận tước Acton (Lord Acton) trong một lá thư gửi Giám mục
Mandell Creighton, 1887, từng viết, “Tất cả mọi loại quyền hành đều dễ đưa con
người đến phủ bại. Quyền hành tuyệt đối làm con người phủ bại hoàn toàn.”

trong văn hóa Tây phương, họ cũng có những từ biểu tả hành vi tương thông
như cộng sản (communism) đồng chí (comrade), cộng đoàn (community), cộng
thông (communion), khu tập thể (condominium), vân vân. Nhưng tuyệt không
thấy từ đồng niêu (nồi).
[19] Băng Sơn, bđd., tr. 131.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status