VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THU HẰNG
PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 9 38 01 07
LUẬN ÁN TIỄN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
Hà Nội, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trong
luận án đều được trích dẫn nguồn trung thực. Những kết luận khoa học của Luận án
chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Thị Thu Hằng
MỤC LỤC
BPP
Beneficiary Pay Principle - Nguyên tắc người thụ hưởng phải trả
BVMT
Bảo vệ môi trường
CAC
Command and control - Công cụ mệnh lệnh và kiểm soát
CCKT
Els - Economic Instrument - Công cụ kinh tế
COD
Chemical Oxygen Demand - Nhu cầu oxy hóa học
HĐND
Hội đồng nhân dân
OECD
Organization of Economic Cooperation and Development - Tổ chức
Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Bảng 3. 8 Số thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản ........110
Bảng 4. 1 Đề xuất hệ số K tính phí cố định đôi với nước thải công nghiệp .129
Bảng 4. 2 Lộ trình tính phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản
...............................................................................................................134
DANH MỤC HÌNH
Hình 2. 1 Nguồn kinh phí ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp môi trường ........ 33
DANH MỤC HỘP
Hộp 3. 1 Quan điểm về tính phí đối với số lượng đất đá bốc xúc thải ra ...... 85
Hộp 3. 2 Quan điểm về áp dụng hệ số K đối với công nghệ khai thác .......... 88
Hộp 3. 3 Phản ánh của UBND huyện Hòa Vang về việc về việc thu phí, phân
cấp, quản lí và sử dụng nguồn thu phí BVMT đối với khai thác khoáng sản
...............................................................................................................113
Hộp 3. 4 Phản ánh của UBND quận Liên Chiểu về việc thu phí, phân cấp, quản
lí và sử dụng nguồn thu phí BVMT đối với khai thác khoáng sản...............114
Hộp 3. 5 Phản ánh của UBND xã Hòa Nhơn thuộc huyện Hòa Vang về việc về
việc thu phí, phân cấp, quản lí và sử dụng nguồn thu phí BVMT đối với khai
thác khoáng sản .......................................................................................114
Hộp 4. 1 Công thức tính phí BVMT đối với nước thải công nghiệp............132
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển bền vững là một chiến lược phát triển mới của xã hội loài người, xuất
hiện từ đầu những năm 70 của thế kỉ XX trong phong trào bảo vệ môi trường thế giới.
Đó là sự phát triển đáp ứng được yêu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho
việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền
vững là kinh tế tăng trưởng ổn định; thực hiện tốt công bằng và tiến bộ xã hội; khai
hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của
từng ngành và từng địa phương. Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát
triển bền vững”. Đồng thời, Chính phủ đã có các chương trình quốc gia về BVMT cho
từng giai đoạn và khẳng định “Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các
cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi người dân”[98], “Bảo vệ môi trường
là yêu cầu sống còn của nhân loại”[101].
Để hiện thực hóa các chủ chương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác
BVMT, hệ thống pháp luật về BVMT tại Việt Nam đã được hình thành. Để đạt được
hiệu quả trong việc BVMT, pháp luật Việt Nam đã quy định việc sử dụng đan xen và hỗ
trợ giữa các công cụ hành chính, hình sự, tuyên truyền giáo dục, công cụ kinh tế. Điều
này đã được nhấn mạnh trong Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020 “Đẩy mạnh áp dụng công cụ kinh tế trong quản lí môi trường”. Thuế và
phí BVMT là công cụ kinh tế được sử dụng phổ biến tại Việt Nam.
So với các nước trên thế giới, công cụ phí BVMT ở Việt Nam được áp dụng khá
muộn. Năm 2003, căn cứ Pháp lệnh số 38/2001/PL-UBTVQH10, Chính phủ mới ban
hành Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 về phí BVMT đối với nước thải.
Sau đó, Chính phủ lần lượt ban hành các Nghị định số 137/2005/NĐ-CP ngày
09/11/2005, Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 về phí BVMT đối với
khai thác khoáng sản, đối với chất thải rắn. Trong quá trình thực hiện, pháp luật về
phí BVMT đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn đời sống. Nhìn chung,
các quy định về phí BVMT đã mang lại những hiệu quả nhất định trong việc BVMT,
điều chỉnh hành vi chủ thể xả thải theo hướng có lợi cho môi trường và tạo được
nguồn tài chính đáng kể cho ngân sách trung ương và địa phương trong BVMT. Tuy
nhiên, các văn bản đó cũng dần bộc lộ những hạn chế và bất cập, làm giảm hiệu lực
và hiệu quả của phí BVMT đối với khả năng giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Quy
định về đối tượng chịu phí nước thải công nghiệp chưa đầy đủ, một số trường hợp
không phù hợp với thực tiễn gây khó khăn trong việc thu phí; thông số ô nhiễm tính
phí chưa phù hợp với điều kiện và nguồn lực thu phí của Việt Nam; việc kê khai và
thẩm định tờ khai phí BVMT còn rườm rà gây phiền hà cho doanh nghiệp, chưa có
chế tài đủ mạnh để các doanh nghiệp tự nguyện nộp phí… Quy định về phí BVMT
ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí BVMT là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả
về mặt lí luận và nhận thức.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm góp phần tạo lập những luận cứ khoa học cho
việc điều chỉnh pháp luật về phí BVMT trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống những vấn đề lý
luận của phí BVMT, pháp luật về phí BVMT, đánh giá thực trạng pháp luật về phí BVMT
và thực tiễn thực hiện pháp luật về phí BVMT tại thành phố Đà Nẵng nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật về phí bảo vệ môi trường.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu sinh phải thực hiện các
nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và đưa ra những
nhận xét, quan điểm về những vấn đề đã được các công trình nghiên cứu. Trên cơ sở
đó, khái quát các nội dung chưa được các công trình nghiên cứu đề cập tới để định
hướng các vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết trong luận án.
- Phân tích và làm rõ một số vấn đề lí luận về phí BVMT và pháp luật về phí
BVMT như khái niệm về phí BVMT theo sự điều chỉnh của pháp luật, đặc điểm cơ
bản của phí BVMT, vai trò của phí BVMT, khái niệm và nội hàm của pháp luật về
phí BVMT, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về phí BVMT và điều kiện áp dụng
hiệu quả phí BVMT.
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về phí BVMT tại
Đà Nẵng nhằm chỉ ra được những ưu điểm và bất cập của pháp luật về phí BVMT và
xác định được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện pháp
luật về phí BVMT tại Đà Nẵng.
khoáng sản; v) Phí BVMT đối với khí thải. Tuy nhiên, luận án không nghiên cứu phí
thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án BVMT chi tiết và phí thẩm định
phương án cải tạo, phục hồi môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường bổ
sung bởi vì theo thông lệ thế giới, phí BVMT chỉ bao gồm phí phát thải, phí sử dụng
hoặc phí sản phẩm; trong đó phí phát thải được sử dụng phổ biến.
Trong 3 loại phí phát thải, luận án không nghiên cứu phí BVMT đối với khí thải
vì không có cơ sở pháp lí để nghiên cứu bởi vì ngoài việc phí BVMT đối với khí thải
được xác định là một loại phí BVMT tại mục 1.2 - IX phụ lục số 1 Luật phí và lệ phí
năm 2015, đến nay không có bất kì văn bản quy phạm pháp luật nào quy định chi tiết
về phí BVMT đối với khí thải.
Về thời gian, Luận án nghiên cứu pháp luật về phí BVMT của Việt Nam từ năm
2003 đến nay.
Về không gian, Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật về phí BVMT
của Việt Nam, Về thực tiễn thực hiện pháp luật, Luận án nghiên cứu thực tiễn thực
hiện pháp luật về phí BVMT tại thành phố Đà Nẵng.
5
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, trong luận án tác giả
đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như phương pháp hệ thống, phương pháp
phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp
phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp khảo sát và
điều tra xã hội học, phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia. Tùy từng phần nội dung của
đề tài, tác giả đã lựa chọn những phương pháp nghiên cứu phù hợp để đảm hiệu quả
cao nhất khi tiếp cận vấn đề. Cụ thể:
Chương 1: Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân
tích và tổng hợp để đưa ra đánh giá về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về
phí BVMT.
BVMT và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về phí BVMT tại Đà Nẵng
nhằm thực hiện thành công mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo phát
triển bền vững.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật Việt Nam về
phí BVMT đối với nước thải và khoáng sản. Các kết quả nghiên cứu của luận án góp
phần bổ sung và phát triển những vấn đề lí luận về phí bảo vệ môi trường và pháp
luật về phí bảo vệ môi trường.
Luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để các nhà hoạch định chính sách
và các cơ quan có thẩm quyền tham khảo trong việc ban hành, sửa đổi các quy định
pháp luật về phí bảo vệ môi trường và tổ chức thực hiện pháp luật về phí bảo vệ môi
trường nhằm nâng cao hiệu quả tác động của pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối
với việc điều chỉnh hành vi của chủ thể xả thải theo hướng có lợi cho môi trường.
Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của luận án còn là tài liệu tham khảo có giá trị cho
công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về phí bảo vệ môi trường.
7. Bố cục của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có 4
chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về phí bảo vệ môi trường và pháp luật về phí
bảo vệ môi trường
Chương 3: Thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường
tại thành phố Đà Nẵng
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường.
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
vai trò tích cực trong hoạt động quản lí và BVMT đó là: i) Khuyến khích các cơ sở
8
sản xuất giảm ô nhiễm với chi phí thấp hơn so với chi phí của công cụ mệnh lệnh hành chính; ii) Thúc đẩy sự phát triển công nghệ kiểm soát ô nhiễm trong lĩnh vực tư
nhân; iii) Cung cấp cho chính phủ nguồn tài chính để hỗ trợ các chương trình kiểm
soát ô nhiễm; iv) Đem lại sự linh hoạt trong những công nghệ kiểm soát ô nhiễm; v)
Làm giảm yêu cầu của chính phủ về lượng thông tin chi tiết cần thiết để quyết định
mức độ kiểm soát phù hợp và khả thi cho mỗi nhà máy hoặc sản phẩm [134], [137],
[138], [154].
Tuy nhiên để tránh việc tuyệt đối hóa vai trò của phí BVMT, các nghiên cứu đã
chỉ ra những hạn chế của phí BVMT chủ yếu liên quan đến yếu tố chính trị và
thực tiễn. Cụ thể: i) Các ngành thường ưa thích việc kiểm soát thông qua các tiêu
chuẩn hơn là hệ thống phí bởi vì việc trả phí sẽ làm cho chi phí sản xuất của doanh
nghiệp tăng lên; ii) Phí được các doanh nghiệp tính vào giá thành sản phẩm và điều
này có thể dẫn đến tình trạng phân phối thụt lùi theo lí thuyết của kinh tế học; iii)
Việc quy giá trị bằng tiền cho các thiệt hại gây ra bởi ô nhiễm thường khó được chấp
nhận; iv) Việc định ra mức phí bằng đúng với chi phí biên thiệt hại do ô nhiễm gây
ra sẽ rất phức tạp vì mức độ gây tổn thất phụ thuộc vào địa điểm của các nguồn gây
ô nhiễm và mang tính đơn lẻ, vì vậy đòi hỏi phải có mức phí cho từng công ty cụ thể.
Điều này sẽ khiến cho các khu vực cạnh tranh để phát triển kinh tế bằng cách cắt
giảm mức phí, như vậy làm tổn hại đến nỗ lực cải thiện chất lượng môi trường tại
một số vùng [134], [137], [138], [154].
Ở trong nước, rất ít các công trình nghiên cứu về đặc điểm và vai trò của phí
BVMT, chủ yếu là luận văn Thạc sĩ [85 tr.13 - 18], [122, tr.9 - 10]. Những nghiên cứu
này khi xác định đặc điểm, vai trò của phí BVMT hầu như dựa vào đặc điểm và vai trò
của CCKT trong BVMT, chưa nêu bật được đặc điểm, vai trò riêng của phí BVMT.
Tình hình nghiên cứu về phí bảo vệ môi trường và thuế bảo vệ môi trường
Trên thế giới, nhiều quốc gia không có sự phân biệt rạch ròi giữa phí BVMT và
thuế BVMT. Ở Việt Nam, dưới góc độ pháp lí, phí BVMT và thuế BVMT được xác
được. PPP đòi hỏi người gây ra ô nhiễm phải chịu trách nhiệm về tài chính đối với
việc tuân thủ bất kỳ yêu cầu xử lý ô nhiễm nào phù hợp với quy định luật pháp.
Nguyên tắc PPP đã được Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế công nhận vào
năm 1972. Tuy nguyên tắc PPP đã được chấp nhận rộng rãi trên thế giới nhưng không
phải quốc gia nào cũng hiểu và vận dụng đúng nguyên tắc PPP. Vì thế, trong các
nghiên cứu của thế giới về CCKT và phí BVMT, nguyên tắc PPP luôn là một trong
những nội dung trọng tâm. Một số công trình nghiên cứu đã tập trung phân tích bản
chất của PPP nhằm hướng đến việc vận dụng thống nhất nguyên tắc PPP của các quốc
gia trên thế giới [138], [139], [140], [143], [148], [155.].
PPP là nguyên tắc nền tảng được quốc tế thừa nhận để xây dựng chính sách pháp
luật phí BVMT ở các quốc gia. Tuy nhiên, việc thiết kế một chính sách pháp luật về
phí BVMT còn phụ thuộc vào cách vận dụng nguyên tắc PPP, phụ thuộc vào chế độ
10
kinh tế, thể chế chính trị của từng quốc gia. Để chính sách pháp luật phí BVMT phát
huy hiệu quả thì cần có một sự thiết kế chặt chẽ. Theo nghiên cứu của World Bank
1998 thì việc thực hiện một chương trình thu phí BVMT được thiết kế thiếu chặt chẽ
sẽ không mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế và môi trường [154, tr.160].
Nhóm tác giả của World Bank [154, pp.164 - 165] đã đưa ra khuyến nghị về các bước
để xây dựng chính sách pháp luật phí BVMT: i) Phân tích phạm vi và tầm ảnh hưởng
của sự ô nhiễm, xác định những khu vực và lưu vực sông chính; ii) Xác định những
chất gây ô nhiễm chính có ảnh hưởng lớn tới môi trường sống, sức khỏe con người
cũng như khả năng phá hủy môi trường. Khả năng thay đổi công nghệ, chi phí để thay
đổi công nghệ, khả năng quan trắc và lấy mẫu, mối quan hệ giữa việc dùng sản phẩm
và việc phát thải và việc ảnh hưởng tất yếu của các chất thải đến môi trường là những
nhân tố quyết định việc thiết kế các CCKT/phí BVMT và hiệu quả áp dụng các công
cụ đó trong thực tế đời sống; iii) Xác định các nguồn gây ô nhiễm chính như đơn vị
sản xuất công nghiệp, đơn vị hành chính công, phương tiện giao thông, hộ gia đình;
iv) Cần chú ý đến phạm vị ô nhiễm: địa phương, quốc gia, xuyên quốc gia, vùng, hay
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật phí bảo vệ
môi trường
♦ Tình hình nghiên cứu thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về phí bảo vệ
môi trường đối với nước thải
Về thực trạng pháp luật phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Nghị định số 67/2003/NĐ-CP là Nghị định đầu tiên điều chỉnh về phí BVMT đối
với nước thải tại Việt Nam và được thực hiện trong thời gian dài (gần 10 năm) nên có
nhiều nghiên cứu về pháp luật phí BVMT đối với nước thải theo Nghị định số
67/2003/NĐ-CP hơn các Nghị định khác [76], [85], [86], [98], [113], [124], [125].
Đánh giá về ưu điểm của Nghị định số 67/2003/NĐ-CP, các nghiên cứu đều
khẳng định Nghị định số 67/2003/NĐ-CP đã góp phần hình thành và nâng cao ý thức
của các chủ thể trong việc BVMT, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và từng
bước hạn chế ô nhiễm môi trường. Bên cạnh những kết quả đạt được, Nghị định số
67/2003/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắc cần được sửa đổi, bổ sung. Các
nghiên cứu đã tập trung phân tích chỉ ra các bất cập chính, đó là quy định đối tượng
chịu phí, cách tính phí, mức thu phí, thông số tính phí, quy trình thu phí, quản lí và
sử dụng phí BVMT đối với nước thải công nghiệp.
Các nghiên cứu cũng đưa ra khuyến nghị để xây dựng chính sách pháp luật phí
BVMT đối với nước thải hiệu quả cần phải quán triệt một số nguyên tắc: i) Nước xả
thải phải đạt chuẩn môi trường mới được phép xả thải ra môi trường; ii) Quy định thu
phí phải đơn giản, dễ thực hiện, bảo đảm hiệu quả, chi phí thu phí thấp; iii) Mức thu
phí phải bảo đảm bù đắp chi phí thu và khắc phục tình trạng ô nhiễm.
Năm 2013, Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định số
67/2003/NĐ-CP, có hiệu lực thực hiện trong thời gian hơn 3 năm. Các nghiên cứu về
12
Nghị định số 25/2013/NĐ-CP không nhiều và chủ yếu chỉ nêu lên những điểm mới
của Nghị định số 25/2013/NĐ-CP [72], [162].
Ngày 16/11/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 154/2016/NĐ-CP, có hiệu
Qua tìm hiểu của nghiên cứu sinh, đến nay có rất ít bài báo, công trình khoa học
độc lập nghiên cứu về pháp luật phí BVMT đối với khai thác khoáng sản. Đánh giá
về thực trạng pháp luật phí BVMT đối với khai thác khoáng sản chủ yếu được thực
hiện trong các luận văn Thạc sĩ, Luận án về CCKT trong BVMT hoặc phí BVMT nói
chung [82], [85], [88], [100]. Các bài đăng tạp chí phân tích về thực trạng pháp luật
phí BVMT đối với khai thác khoáng sản chủ yếu được lồng ghép với các vấn đề khác
về khai thác khoáng sản, không đánh giá toàn bộ thực trạng pháp luật mà chỉ là một
khía cạnh của phí BVMT đối với khai thác khoáng sản [101], [105], [160]. Năm 2015
đã có một công trình nghiên cứu riêng về phí BVMT đối với khai thác khoáng sản đó
là báo cáo “Trả lại bản chất phí bảo vệ môi trường nhằm giảm thiểu tác động và hạn
chế xung đột trong lĩnh vực khai thác khoáng sản” của nhóm tác giả thuộc Trung tâm
Con người và Thiên nhiên, Trung tâm phát triển và Hội nhập. Tuy nhiên, nghiên cứu
này chỉ tập trung đánh giá bất cập của pháp luật phí BVMT khai thác khoáng sản về
quản lí, phân bổ, sử dụng phí theo Nghị định số 74/2011/NĐ-CP, không đánh giá các
khía cạnh khác của pháp luật về phí BVMT đối với khai thác khoáng sản [123].
Do đặc thù của các nghiên cứu nên mức độ đánh giá về thực trạng pháp luật
không mang tính hệ thống và toàn diện. Tài liệu đánh giá thực trạng pháp luật về phí
BVMT đối với khai thác khoáng sản chủ yếu là các báo cáo tổng kết của Bộ Tài chính
đối với Nghị định số 74/2011/NĐ-CP. Các nghiên cứu khoa học về pháp luật phí
BVMT đối với khai thác khoáng sản theo Nghị định số 12/2016/NĐ-CP và Nghị định
số 164/2016/NĐ-CP gần như chưa được khai thác.
Để tạo nền tảng cho việc nghiên cứu thực trạng pháp luật về phí BVMT đối với
khai thác khoáng sản, nghiên cứu sinh đã có nghiên cứu về điểm mới của Nghị định
số 12/2016/NĐ-CP [157]. Những khoảng trống chưa được khai thác, nghiên cứu sinh
sẽ nghiên cứu trong luận án để có đánh giá toàn diện đối với pháp luật về phí BVMT
đối với khai thác khoáng sản.
Về thực tiễn thực hiện pháp luật phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản
Nghiên cứu về thực trạng pháp luật không nhiều, do đó, nghiên cứu về thực tiễn
cho Việt Nam trong việc xây dựng hệ thống pháp luật về phí BVMT [108], [109],
[117]. Một số tác giả tập trung phân tích những điểm bất cập, hạn chế của pháp luật
về phí BVMT Việt Nam và đưa ra đề xuất, giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí
BVMT từ những vướng mắc, bất cập của pháp luật [79], [99], [104], [107], [118],
[119], [128], [129].
Nội dung cơ bản của các kiến nghị là: i) Xác định đối tượng chịu phí cho phù hợp
với thực tế; ii) Xây dựng mức thu phí tương xứng với mức độ gây ô nhiễm và tốc độ
lạm phát; iii) Thông số ô nhiễm thu phí phải phù hợp với điều kiện thu phí của Việt
Nam; phương pháp tính phí phải phân biệt theo công nghệ xử lí ô nhiễm hoặc công
nghệ khai thác; iv) Quy trình thu phí phải đơn giản và dễ thực hiện; v) Việc quản lí
và sử dụng phí phải rõ ràng và bảo đảm đúng mục đích BVMT.
15
Tuy nhiên, do đặc thù pháp luật về phí BVMT trong thời gian qua có sự thay đổi,
điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng giai đoạn nên có một
số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí BVMT không còn phù hợp với
quy định của pháp luật hiện hành. Nghiên cứu sinh sẽ kế thừa những nghiên cứu đã
có, phát triển và xây dựng giải pháp hoàn thiện theo quan điểm của nghiên cứu sinh
thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về phí
BVMT tại Đà Nẵng.
1.1.1.4.Tình hình nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới và bài học cho
các nước đang phát triển
Phí BVMT đã đem lại những hiệu quả nhất định trong việc BVMT ở các quốc
gia, đặc biệt là các nước thuộc OECD. Đã có những công trình nghiên cứu đúc kết
kinh nghiệm xây dựng và thực hiện phí BVMT ở các nước phát triển, các nước thuộc
OECD cũng như rút ra những bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển
[138], [143], [146], [151], [152].
Theo báo cáo của OECD (1999), phần lớn các nước thuộc OECD đều có mức phí
khác biệt tùy thuộc vào khối lượng và chất lượng ô nhiễm. Phí BVMT còn phụ thuộc
Ba là, các nghiên cứu đã phân tích một số ưu điểm và bất cập của pháp luật Việt
Nam về phí BVMT cũng như những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện
pháp luật về phí BVMT tại địa phương. Tuy nhiên, pháp luật về phí BVMT đã có sự
thay đổi qua các giai đoạn và các nghiên cứu chủ yếu dựa trên cơ sở pháp lí của các
giai đoạn điều chỉnh pháp luật trước đây; do đó, khi phân tích thực trạng pháp luật và
thực tiễn thực hiện pháp luật hiện hành, nghiên cứu sinh sẽ chọn lọc các kết quả
nghiên cứu đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu nghiên cứu của luận án.
Bốn là, các nghiên cứu về quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí
BVMT đa số được nghiên cứu trong tổng thể với các CCKT khác. Các nghiên cứu về
CCKT trong BVMT có phạm vi điều chỉnh rộng hơn phí BVMT nên các kết quả
nghiên cứu sẽ được nghiên cứu sinh kế thừa có chọn lọc và phát triển nhằm giải quyết
các vấn đề mà luận án đặt ra.
1.1.2.2. Những vấn đề còn bỏ ngỏ, hoặc còn tranh luận, hoặc chưa được nghiên cứu
thấu đáo
Một là, một số vấn đề lí luận về phí BVMT và pháp luật về phí BVMT chưa được
nghiên cứu dưới góc độ pháp lí như khái niệm phí BVMT, khái niệm pháp luật về phí
BVMT, nội dung cơ bản của pháp luật về phí BVMT.
Hai là, do đặc thù pháp luật về phí BVMT ở Việt Nam trong những năm qua
chưa mang tính ổn định, thường xuyên thay đổi nên đến hiện nay chưa có công trình
nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống về thực trạng pháp luật và
thực tiễn thực hiện pháp luật về phí BVMT theo quy định hiện hành, chủ yếu là các
nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật của các giai đoạn
17
trước đó; đặc biệt chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về thực tiễn
thực hiện pháp luật về phí BVMT tại Đà Nẵng,
Thứ ba, các nghiên cứu về quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí
BVMT đa số được nghiên cứu trong tổng thể với các CCKT khác. Hiện nay chưa có
mạnh cưỡng chế, Nhà nước đảm bảo cho các quy định về phân bổ chi phí môi trường
được thực hiện trong thực tiễn.
Phí BVMT là CCKT yêu cầu các cơ sở sản xuất, hộ gia đình trong quá trình sản
xuất kinh doanh hoặc sinh hoạt có hoạt động xả thải gây ô nhiễm thì phải chịu chi phí
môi trường. Để đảm bảo việc thực thi trách nhiệm chịu chi phí môi trường của các
chủ thể xả thải gây ô nhiễm có hiệu quả, Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật về
phí BVMT quy định rõ đối tượng chịu phí; mức phí mà chủ thể xả thải gây ô nhiễm
chi trả phải tương xứng với mức độ gây ô nhiễm; quy định về cách thức quản lí và sử
dụng phí BVMT nhằm đảm bảo phí BVMT được phân bổ hiệu quả và sử dụng đúng
mục đích trong hoạt động quản lí và BVMT.
Thứ ba, các nguyên tắc cơ bản xây dựng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường
Cơ sở lí thuyết của luận án còn dựa trên các nguyên tắc nền tảng để xây dựng các
CCKT trong BVMT, đó là nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả”, nguyên tắc “Kích
thích lợi ích kinh tế”, nguyên tắc “Bảo đảm sự phát triển bền vững”, trong đó nguyên
tắc “Người gây ô nhiễm phải trả” là nguyên tắc trọng tâm, đã được đa số các quốc gia
trên thế giới áp dụng khi xây dựng và ban hành pháp luật về các CCKT trong BVMT.
Việc vận dụng phù hợp các nguyên tắc trong BVMT sẽ đảm bảo được hiệu lực và hiệu
quả của pháp luật về phí BVMT đối với mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án được triển khai với một số câu hỏi nghiên cứu chủ đạo và giả thuyết
nghiên cứu sau:
(1) Về khía cạnh lí luận
• Câu hỏi nghiên cứu: Phí BVMT là gì? Ra đời từ khi nào, quá trình hình thành
và phát triển của phí BVMT như thế nào? Đặc điểm, vai trò của phí BVMT? Phí
BVMT và thuế BVMT có khác nhau không?
Giả thuyết nghiên cứu: Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về phí BVMT;
việc xác định đặc điểm, vai trò của phí BVMT được xác định chung với đặc điểm,
vai trò của các CCKT khác, chưa có cách hiểu thống nhất về đặc điểm và vai trò của