LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại bảo vệ RỪNG NGẬP mặn PHÁP LUẬT VIỆT NAM và THỰC TIỄN tại TỈNH cà MAU - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2007 - 2011
ĐỀ TÀI:
BẢO VỆ RỪNG NGẬP MẶN - PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN TẠI TỈNH CÀ MAU

Giáo viên hướng dẫn:
ThS. Kim Oanh Na
Bộ môn: Luật Thương mại

Sinh viên thực hiện:
Thái Hoàng Chân
MSSV: 5075168
Lớp: Luật tư pháp 2 khóa 33

Cần Thơ
tháng 4 năm 2011


Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................

.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
GVHD: ThS. Kim Oanh Na

1

SVTH: Thái Hoàng Chân


Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................


SVTH: Thái Hoàng Chân


Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

LỜI NÓI ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài
Hiện nay, tài nguyên rừng ngập mặn ở Việt Nam đang suy giảm trầm trọng.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến rừng ngập mặn bị suy giảm là do sự thiếu
hiểu biết và vì lợi ích trước mắt mà con người đã khai thác và tàn phá rừng ngập
mặn một cách vô ý thức. Các nhà khoa học đã cảnh báo vấn đề môi trường sinh
thái về rừng ngập mặn hiện nay rằng: sự suy giảm rừng ngặp mặn dẫn đến tình
trạng hạn hán, lũ lụt, mặt nước biển dâng cao, nhiều động thực vật quý hiếm có
nguy cơ bị tuyệt chủng, hiệu ứng nhà kính, ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu…những vấn đề đó đang đặt ra cho con người trước sự trả thù của thiên
nhiên, nổi lên như một vấn đề có tính toàn cầu và cấp bách của thời đại.
Do vậy hiện nay, không chỉ riêng đối với nước ta mà hầu hết tất cả các nước
trên thế giới điều bắt tay vào việc bảo vệ rừng ngập mặn, bảo vệ hệ sinh thái
chung của nhân loại nhằm hạn chế sự tác động của con người làm ảnh hướng xấu
đến tài nguyên rừng nói chung và rừng ngập mặn nói riêng.
Nhà nước ta đã thiết lập các cơ quan chuyên môn để bảo vệ và phát triển
rừng, tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị về hệ sinh thái rừng, các công trình
khoa học về đa dạng sinh thái rừng, đưa ra nhiều biện pháp để quản lý khắc phục
trình trạng suy giảm rừng. Tuy nhiên, công tác quản lý và giao rừng vẫn còn
nhiều hạn chế do nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan như: nước ta phát triển
kinh tế đi lên từ một nước lạc hậu, trình độ dân trí thấp chưa đồng bộ trong công
tác tuyên truyền phổ biến pháp luật…đồng thời những biện pháp xử lý đưa ra
chưa nghiêm, chưa được áp dụng một cách tối ưu. Từ đó, để giải quyết tốt vấn đề
bảo vệ rừng trong giai đoạn hiện nay và định hướng tốt trong tương lai thì việc

nhiệm của các cơ quan nhà nước, chủ rừng trong việc bảo vệ và phát triển rừng
ngập mặn ở Cà Mau. Những ưu, nhược điểm trong cách áp dụng những quy định
đó vào thực tế, tìm ra những tồn tại từ đó, đưa ra những nhận định, giải pháp mới
góp phần hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng ở nước ta nói chung và rừng ngập
mặn Cà Mau nói riêng.
4/ Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình hoàn thành luận văn, người viết đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích so sánh kết hợp lý luận với thực
tiễn, phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp liệt kê và một số phương pháp
khác mà người viết vận dụng để hoàn thành luận văn này.
5/Cơ cấu Luận văn
Gồm các phần sau đây:
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ
RỪNG NGẬP MẶN
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ RỪNG NGẬP MẶN
VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN BẢO VỆ RỪNG NGẬP MẶN CÀ
MAU
KẾT LUẬN

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

4

SVTH: Thái Hoàng Chân


Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

LỜI CẢM ƠN

dân, gắn liền với đời sống nhân dân và sự sống còn dân tộc.
Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về rừng, ngăn chặn tình trạng phá
rừng, nâng cao trách nhiệm và khuyến khích các tổ chức, cá nhân bảo vệ, phát
triển rừng, phát huy lợi ích của rừng phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc.1
Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm
vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển (Morozov 1930). Rừng
chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý.
Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể
các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển
của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn
cảnh bên ngoài (M.E. Tcachenco)
Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh
quyển địa cầu (I.S. Mê lê khôp 1974).
Rừng cũng có thể hiểu bằng một cách khác là vùng đất đủ rộng có cây cối
mọc lâu năm.
Rừng tự nhiên 9,77 triệu ha, chiếm 84,37%
Rừng trồng 1,81 triệu ha, chiếm 14,63%.
Rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể
trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng
với hoàn cảnh trong tổng hợp đó.
Rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự
phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số
lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa
lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng.
1

Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991.

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

Phát triển rừng
Phát triển rừng ghi nhận tại khoản 3 điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng
năm 2004. Phát triển rừng là “việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác,
khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và áp dụng các
biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa
dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị
khác của rừng”. Có thể hiểu phát triển rừng là phát triển cả số lượng lẫn chất
lượng tài nguyên rừng. Phát triển số lượng là việc trồng mới rừng, trồng lại diện
tích rừng sau khi khai thác hoặc do thiên tai tàn phá. Phát triển về chất lượng là
áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật làm tăng sản lượng và các giá trị khác
2

http://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20080115002737AA2RRoPI.( Phần II.1.)
Điều 1 luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, trang 7
4
Khoản 1 điều 3 luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, trang 8
3

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

7

SVTH: Thái Hoàng Chân


Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

của rừng. Như vậy phát triển rừng là hành động có ý thức của con người và gắn
liền với các chính sách, chủ trương và các biện pháp cụ thể, như công tác giao
đất, giao rừng trồng mới rừng, phát triển rừng bao hàm cả việc bảo vệ rừng.

5

Khoản 7 điều 3 luật môi trường, trang 8

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

8

SVTH: Thái Hoàng Chân


Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

nước. Đặc biệt rừng ngập mặn còn giữ vai trò là tấm lá chắn làm giảm cường độ
gió, giữ nhiệt độ cho các tầng mặt đất và các lớp khí quyển sát mặt đất, làm giảm
sự thoái ẩm và thoát hơi nước của cây trồng, chống gió mạnh và chống rét cho
con người cũng như các động, thực vật khác. Ngoài ra, rừng ngập mặn còn là nơi
cư trú, sinh sản, phát triển và bảo tồn nhiều loại động vật quý hiếm, rừng ngập
mặn có vai trò rất quan trọng trong việc nuôi trồng thủy sản góp phần phát triển
kinh tế nước nhà.
1.1.2. Đặc điểm và phân phân loại tài nguyên rừng
1.1.2.1. Đặc điểm tài nguyên rừng
Rừng là loại tài nguyên sinh vật có thể tái tạo được, có khả năng cung cấp
những lâm sản cần thiết cho đời sống của con người như: tinh dầu, dầu béo, nhựa
mũ, lương thực, thực phẩm, nhiều loại dược liệu quý…tất cả các tính năng vốn
có của rừng đã làm cho rừng gắn bó mật thiết với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Rừng nếu hiểu đúng bản chất thì nó là nơi tập trung của cả động - thực vật
và vi sinh vật là một bộ phận không thể thiếu của Môi trường sống của con
người, đem lại sự cân bằng sinh thái tự nhiên, hạn chế tác hại do sa mạc hóa gây
ra, điều hòa khí hậu, điều tiết chế độ nước, bảo vệ mùa màng, nâng cao năng

hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới vùng thấp như trường hợp khu rừng cấm Nam Cát
Tiên. Ở những vùng khô hơn thì hệ sinh thái rừng khô nhiệt đới chiếm ưu thế, có
các họ sao dầu mọc xen kẽ với những họ đậu, rừng trơ cành trong mùa khô gọi là
“rừng khộp” và cây gỗ mọc thưa dần cho đến khi thành rừng thưa và trảng cỏ lẫn
cây to.
Ở trên núi cao thì có thông 2 lá, 3 lá tập trung khoảng trên 200.000 hecta ở
Đà Lạt, tỉnh lâm đồng. Ở giữa vùng giao điểm là rừng hỗn hợp giữa thông 2 lá và
họ dầu. Ở ven biển đông Quản Ninh và ven đồng bằng Sông Cửu Long xuất hiện
loại rừng đặc biệt đó là “Rừng ngập mặn”, với một số loài chiếm ưu thế như:
Mắm, Đước, Bần, Sú, Vẹt, Chà Là, Ôrô...trên đất chua phèn thì có rừng Tràm
ngập úng trong mùa lũ. Trên đất sét và than bùn có rừng lầy hỗn hợp, rừng tràm
than mùn phèn tìm tàng U Minh thượng và U Minh hạ. Ở vùng phan Rang - phan
Thiết do điều kiện khô hạn lượng mưa không ứa 800 mm lại tập trung trong vòng
2 đến 3 tháng, nên đã hình thành rừng lá với trảng cỏ thấp và truông bụi gai, đó là
một kiểu bán xa mạc.
1.1.2.2. Phân loại tài nguyên rừng
Việc phân loại rừng có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng. Bởi lẻ mõi loại rừng có đặc điểm, mục đích quy định riêng
và được bảo vệ bằng những biện pháp, cách thức khác nhau. Việc sử dụng đúng
mục đích, khai thác đúng quy luật của từng loại rừng ảnh hướng quyết định đến
sự bền vững của nó. Có nhiều căn cứ phân loại rừng, theo quy định Thông tư số
34/2009/TT-BNNPTNT về việc quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng do
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 10 tháng 06 năm 2009
thì việc phân loại rừng được xác định như sau: Phân loại rừng theo mục đích sử
dụng; phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành; phân loại rừng theo hình thức
lập địa; phân loại rừng theo loài cây; phân loại rừng theo trữ lượng.
Điều 3 thông tư quy định tiêu chí xác định rừng:
“Một đối tượng được xác định là rừng nếu đạt được cả 3 tiêu chí sau:
1. Là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm
thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và

Rừng phòng hộ đầu nguồn, thường tập trung ở thượng nguồn các dòng
sông. Nó có tác dụng điều tiết các nguồn nước để hạn chế lũ lụt, cung cấp nguồn
nước cho các dòng chảy và hồ trong mùa khô, hạn chế xói mòn, bảo vệ đất…
Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay đây là loại rừng phòng hộ có tác
dụng ngăn cản tác hại do gió, bão chắn cát di động để bảo vệ xóm làng, ruộng
đồng, đường giao thông, cải tạo bãi cát và đất canh tác. Loại rừng này thường tập
trung chủ yếu ở ven biển.
Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển, là loại rừng có tác dụng chủ yếu ngăn
sóng để bảo vệ các công trình ven biển, cố định bùn cát lắng đọng, để hình thành

6

Xem điều 3 đến điều 8 Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT về việc quy định tiêu chí xác định và phân loại
rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 10 tháng 06 năm 2009.

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

11

SVTH: Thái Hoàng Chân


Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

đất mới. Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển thường mọc tự nhiên hoặc được
trồng ở các dòng sông.
Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường, là các dãy rừng đã và đang xây dựng
xung quanh các điểm dân cư, các khu công nghiệp, các đô thị với chức năng điều
hòa khí hậu, bảo vệ môi trường ở khu vực đó.
Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chẩu của



Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

trước năm 1945, Việt Nam có 14 triệu ha rừng chiếm hơn 42% diện tích tự
nhiên của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu hecta (chiếm 29%
diện tích tự nhiên), năm 1985 còn 7,8 triệu hecta (23,6%) đến năm 1989 chỉ còn
6, 5 triệu ha (19,7%) (Viện điều tra qui hoạch rừng Việt Nam, 1989).
Do đất nước ta trải dài từ bắc xuống nam và điạ hình với nhiều cao độ khác
nhau so với mực nước biển nên rừng phân bố trên khắp các dạng địa hình, với nét
độc đáo của vùng nhiệt đới và rất đa dạng: có nhiều rừng xanh quanh năm, rừng
già nguyên thủy, rừng cây lá rộng, rừng cây lá kim, rừng thứ cấp, truông cây bụi
và đặc biệt là rừng ngập mặn... Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật đa
dạng. Có thể nói nước ta là trung tâm thu nhập các luồng thực vật và động vật từ
phía bắc xuống, phía tây qua, phía nam lên và từ đây phân bố đến các nơi khác
trong vùng. Ðồng thời, nước ta có độ cao ngang từ mực nước biển đến trên 3.000
m nên có nhiều loại rừng với nhiều loại thực vật và động vật quý hiếm và độc
đáo mà các nước ôn đới khó có thể tìm thấy được
Thực vật, theo số liệu thống kê gần đây thì có khoảng 12.000 loài thực vật,
nhưng chỉ có khoảng 10.500 loài đã được mô tả, trong đó có khoảng 10% là loài
đặc hữu; 800 loài rêu; 600 loài nấm... Khoảng 2.300 loài cây có mạch đã được
dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc. Về cây lấy gỗ gồm có
41 loài cho gỗ quí (nhóm 1), 20 loài cho gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài cho gỗ đồ
mộc và xây dựng (nhóm 3)..., loại rừng cho gỗ này chiếm khoảng 6 triệu ha.
Ngoài ra rừng Việt Nam còn có loại rừng tre, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu hecta
gồm khoảng 25 loài đã được gây trồng có giá trị kinh tế cao.
Về động vật cũng rất đa dạng, ngoài các loài động vật đặc hữu Việt Nam
còn có những loài mang tính chất tổng hợp của khu hệ động vật miền nam Trung
Hoa, Ấn Ðộ, Mã Lai, Miến Ðiện. Hiện tại đã thống kê được khoảng 774 loài
chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 475 loài cá nước ngọt và

nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Nạn chặt phá rừng bừa bãi; cháy rừng
tràn lan; tập quán du canh du cư; chuyển đổi diện tích đất lâm nghiệp…đặc biệt
là do yếu kém trong công tác quản lý, chăm sóc rừng; chưa xác định được chủ
rừng cụ thể; các cơ quan chưa phát huy được trách nhiệm quản lý, lực lượng
kiểm lâm chưa đủ mạnh, tha hóa, biến chất, công cụ phương tiện lạc hậu; thiếu
sự phối hợp giữa các cơ quan đơn vị hữu quan…
Tuy nhiên, nhờ có những nổ lực trong việc thực hiện các chủ trương, chính
sách của nhà nước về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng “phủ xanh đất trống
đồi trọc” nên nhiều năm gần đây diện tích rừng nước ta tăng. Năm 2008 diện tích
rừng của Việt Nam là 13,118,773 hecta rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên là
10,348,591 hecta, rừng trồng 2,770,182 hecta (trồng mới là 342,730 ha). Độ che
phủ của rừng là 38,7%.9
1.1.4. Vai trò và nguyên nhân suy giảm rừng
Rừng là lá phổi xanh của trái đất. Cây xanh, trong quá trình quang hợp, hấp
thụ khí cacbonic và nhả ra khí ôxy cần thiết cho sự sống; rừng có tác dụng làm
trong sạch không khí, tán lá cản và giữ bụi, lá cây tiết ra nhiều loại chất kháng
khuẩn có tác dụng tiêu diệt vi trùng gây bệnh trong không khí; rừng là nơi sinh
sống của nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài quý hiếm; Trong
rừng có nhiều loại cây khác nhau, đây là nguồn thực phẩm, nguồn nguyên liệu
quý cho công nghiệp và dược phẩm, là nguồn gen hoang dại có giá trị trong lai
tạo giống mới cho nông nghiệp và chăn nuôi;

8
9

Nguồn: http//maxreading.com/?chapter=11351
Theo: Quyết định số 1267/QĐ-BNN-KL về việc công bố hiện trạng rừng toàn Quốc năm 2008.

GVHD: ThS. Kim Oanh Na


biến động rừng cơ bản vẫn ở tình trạng suy thoái, còn xa mức ổn định và mức
cần thiết để bảo vệ môi trường. Vấn đề khắc phục và bảo vệ rừng là đang được
đặt ra nhằm giảm đến mức tối thiểu các ảnh hưởng của các vấn đề về môi trường
như trái đất nóng lên toàn cầu…
Nguyên nhân chủ yếu là nạn phá rừng làm nương rẫy, thai thác rừng bừa
bãi, khai thác gỗ vượt chỉ tiêu cho phép do sự vô ý thức của một số người làm
cháy rừng và một phần do lũ lụt àn phá nặng nề. Do sự phát triển quá “nóng” của
kinh tế, cuộc sống khó khăn của người dân, sự tha hóa, buông lỏng trách nhiệm
của những người có chức năng bảo vệ rừng…thì quan niệm của nhiều người về
những tác dụng của các lâm sản là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình
trạng phá rừng, tận diệt các lâm sản đặc biệt.

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

15

SVTH: Thái Hoàng Chân


Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

Tuy một số diện tích rừng thứ sinh tự nhiên được phục hồi, nhưng nhiều
diện tích rừng già và rừng trồng chưa đến tuổi thành thực đã bị xâm hại, đốn
chặt, khai hoan. Cháy rừng đã được hạn chế mạnh mẽ và việc khai thác gỗ trái
phép đã kiểm soát được một phần, nhưng tình trạng mất rừng vẫn ở mức độ
nghiêm trọng. Rừng phòng hộ đầu nguồn trên lưu vực những con sông lớn ở
nước ta vẫn đang bị phá hoại. Tuy diện tích rừng trồng có tăng lên hàng năm,
nhưng số lượng rất khiêm tốn và phần lớn rừng được trồng lại với mục đích kinh
tế, sản xuất cây lấy gỗ ngắn ngày, cây mọc nhanh mà chưa ưu tiên trồng rừng tại
các khu vực đầu nguồn. Nói đến tài nguyên rừng ta không chỉ chú đến vấn đề

SVTH: Thái Hoàng Chân


Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường” quy định này tạo cơ sở cho
việc xác dịnh nghĩa vụ của các chủ thể trong công tác bảo vệ môt trường nói
chung và bảo vệ rừng nói riêng. Điều 17, hiến pháp năm 1992 quy định chế độ sở
hữu toàn dân đối với các nguồn tài nguyên quan trọng: “Đất đai, rừng núi, sông
hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa
và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công
trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật,
ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là
của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”. Quy định này đã có ảnh hưởng sâu
sắc tới địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về bảo vệ và phát
triển rừng. Hành vi xâm phạm tài nguyên rừng là xâm phạm sở hữu toàn dân.
Bên cạnh đó, một số ngành luật khác cũng hướng tới nhằm điều chỉnh
những vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ rừng như:
Luật đất đai năm 2003 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2004 thay thế cho luật đất
đai ngày 14/7/1993 được sửa đổi bổ sung ngày 02/12/1998 và ngày 11/6/2001);
Bộ luật hình sự năm 2009 quy định trách nhiệm đối với một số hành vi xâm
hại đến tài nguyên rừng và sự đa dạng sinh thái, tại các điều, 187;189;190;191.
Ngoài các văn bản Luật, các cơ quan chức năng còn ban hành nhiều văn bản
dưới Luật để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ rừng như:
Nghi định 99/2009/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2009 quy định về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Nghị định số 139/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004, về xử phạt vi phạm hành
chính trong việc quản lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản
Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006, về tổ chức và hoạt động
của Kiểm lâm.

nguyên rừng giai đoạn 2006 - 2010 (Chu kỳ IV).
Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 02/01/2007 của Thủ tướng Chính
Phủ, Phê duyệt Đề án “Nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng cho lực
lượng kiểm lâm” giai đoạn 2007- 2010
Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính
Phủ, Phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 2020.
Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 của Thủ tướng Chính
Phủ, về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29
tháng 7 năm 1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án
trồng mới 5 triệu hecta rừng.
Thông tư số 99/2006/TT-BNN ngày 06/11/2006 của nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, hướng dẫn thực hiện một số điều của quy chế quản lý ban hành
kèm theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTG, ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ
tướng Chính phủ.
Thông tư liên tịch số 58/2008/TTLT-BNN-KHĐT-TC ngày 02/5/2008 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Tài chính
hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

18

SVTH: Thái Hoàng Chân


Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha
rừng giai đoạn 2007 - 2010.
Thông tư liên tịch số 61/2007/TTLT-BNN-BTC ngày 22/6/2007 của Bộ

sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự phát triển đất nước, góp phần vào
việc bảo vệ môi trường sinh thái. Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 được
Quốc hội khóa XI, kì hợp thứ 6 thông qua vào ngày 03 tháng 12 năm 2004, Luật
này, thay thế cho Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991. Bảo vệ tài nguyên
rừng là một vấn đề đang đặt ra ở nước ta hiện nay và đây cũng là nhiệm vụ cấp
bách đòi hỏi cần có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước.
Tại điều 9 khoản 2 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định
nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng như sau: “Bảo vệ rừng là trách nhiệm của
mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Hoạt động bảo vệ và Phát triển rừng
phải bảo đảm nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển
rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ
giữa trồng rừng, khoanh nuôi, tái sinh, phục hồi rừng, làm giàu rừng với bảo vệ
diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp, nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy
mạnh trồng rừng kinh tế gắn với công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao
giá trị sản phẩm rừng”10 Vì vậy việc bảo vệ tài nguyên rừng (trong đó, có rừng
ngập mặn) không bị khai thác dần cạn kiệt không phải là trách nhiêm của riêng
cá nhân, cơ quan, tổ chức mà đây là trách nhiệm chung của toàn cộng đồng trong
xã hội. Để bảo vệ và phát triển rừng đạt hiệu quả trước tiên trách nhiệm của Nhà
nước phải đặt lên hàng đầu.

10

Điều 9 khoản 2 luật bảo vệ phát triển rừng năm 2004.

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

20

SVTH: Thái Hoàng Chân


về bảo vệ rừng; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ
Nội vụ, hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức cơ quan quản lý Nhà nước
chuyên ngành về lâm nghiệp ở địa phương”.11
Như vậy, hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về lâm nghiệp, được quản lý
thống nhất từ Trung ương đến địa phương, mỗi cấp đều gắn với chức năng nhiệm

11

Theo điều 8 - Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 03 năm 2006.

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

21

SVTH: Thái Hoàng Chân


Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

vụ và quyền hạn của mình, đồng thời có trách nhiệm phối hợp với nhau trong khi
thực hiện công vụ.
Nghiên cứu các hệ thống văn bản trước đây quy định cơ quan quản lý
chuyên ngành về lâm nghiệp người viết thấy có những điểm thay đổi cần quan
tâm như sau: Theo Nghị định 39/1994/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 1994 thì Chi
cục Kiểm lâm trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, giúp Uỷ ban nhân dân thực hiện
quản lý chuyên ngành về lâm nghiệp. Theo điều 3 - Nghị định 119/2006/NĐ-CP
ngày 16 tháng 10 năm 2006 quy định về tổ chức và hoạt động của kiểm lâm như:
“Ở Trung ương: cục kiểm lâm trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn; Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắc là các
tỉnh): chi cục kiểm lâm trực thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh;



Luận văn: Bảo vệ rừng ngập mặn - Pháp luật Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Cà Mau

xã và các hạt kiểm lâm mới là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn
chặn các hành vi vi phạm pháp luật, bởi vì vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát
triển rừng đều gắn với một địa bàn cụ thể.
2.1.1.2. Trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền chung trong việc bảo vệ
rừng
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ
thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi cả nước.
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các bộ, cơ
quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối
hợp với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về
bảo vệ và phát triển rừng
Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo
vệ và phát triển rừng tại địa phương theo thẩm quyền.
Chính phủ quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên
ngành về lâm nghiệp từ trung ương đến cấp huyện và cán bộ lâm nghiệp ở xã,
phường, thị trấn có rừng
Theo điều 18 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 quy định về trách
nhiệm bảo vệ rừng của Uỷ ban nhân dân các cấp như sau:
“Uỷ ban nhân dân các cấp theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
và chủ rừng phải tổ chức quản lý, bảo vệ vốn rừng hiện có; phòng chống các
hành vi gây thiệt hại đến rừng; thực hiện các biện pháp bảo vệ nuôi dưỡng, phát
triển thực vật rừng, động vật rừng; bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất chống xói
mòn”.12 Ở đây chỉ quy định chung về trách nhiêm của Uỷ ban nhân dân các cấp,
chưa quy định một cách cụ thể chi tiếc về trách nhiệm bảo vệ rừng của các cơ
quan này. Trải qua hơn 10 năm thực hiện trên thực tế luật bảo vệ và phát triển

phát triển rừng năm 2004 ra đời một thời gian, đến 06 tháng 10 năm 2006 Nghị
định 119/2006/NĐ - CP quy định về tổ chức hoạt động của Kiểm lâm được ban
hành thì trách nhiệm bảo vệ rừng của Uỷ ban nhân dân các cấp đối với lực lượng
Kiểm lâm trong công tác bảo vệ rừng được quy định tại điều 21 của nghị định.
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ về
bảo vệ rừng trên địa bàn; chỉ đạo, kiểm tra hoạt động của lực lượng kiểm lâm ở
địa phương, đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, quy định tại Nghị định
này và thực hiện những công tác sau:
a) Chỉ đạo, kiểm tra hoạt động của Kiểm lâm ở địa phương;
b) Chỉ đạo việc phối hợp hoạt động của Kiểm lâm với các cơ quan có liên
quan trên địa bàn;
c) Quản lý công chức kiểm lâm địa phương; bảo đảm kinh phí và các điều
kiện hoạt động cho Kiểm lâm địa phương theo quy định của pháp luật;
d) Quy định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân
cấp xã về quản lý, bảo vệ rừng ở địa phương; việc phối hợp giữa lực lượng kiểm
lâm với các cơ quan, đơn vị, các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn trong bảo
vệ rừng, quản lý lâm sản và phòng cháy, chữa cháy rừng;
đ) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý rừng, bảo vệ rừng,
đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về rừng và giám sát, giúp đỡ
các hoạt động của lực lượng kiểm lâm ở địa phương;

13

Điều 38 luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

24

SVTH: Thái Hoàng Chân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status