Pháp luật về bảo lãnh thanh toán của ngân hàng thương mại ở việt nam và thực tiễn tại ngân hàng bưu điện liên việt - Pdf 31

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN THU TR

PHáP LUậT Về BảO LãNH THANH TOáN
CủA NGÂN HàNG THƯƠNG MạI ở VIệT NAM
Và THựC TIễN TạI NGÂN HàNG BƯU ĐIệN LIÊN VIệT

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN THU TR

PHáP LUậT Về BảO LãNH THANH TOáN
CủA NGÂN HàNG THƯƠNG MạI ở VIệT NAM
Và THựC TIễN TạI NGÂN HàNG BƯU ĐIệN LIÊN VIệT

Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN TH LAN HNG

H NI - 2015

Lý luận cơ bản về hoạt động bảo lãnh thanh toán của ngân
hàng thương mại ............................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm bảo lãnh thanh toán ngân hàng .......................... 5
1.1.2. Chức năng và vai trò của hoạt động bảo lãnh thanh toán ngân hàng ........ 12
1.1.3. Các hình thức bảo lãnh thanh toán ngân hàng .................................. 18
1.2.

Khái quát pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo lãnh thanh
toán ngân hàng ............................................................................... 23
1.2.1. Các cam kết quốc tế, điều ước quốc tế điều chỉnh hoạt động
bảo lãnh thanh toán ngân hàng ......................................................... 23
1.2.2. Cơ sở, nguyên tắc pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động
bảo lãnh thanh toán ngân hàng ......................................................... 30
1.2.3. Luật áp dụng đối với quan hệ bảo lãnh thanh toán có yếu tố
nước ngoài ....................................................................................... 38
1.3.

Bảo lãnh thanh toán ngân hàng trong mối quan hệ với các
hợp đồng liên quan ......................................................................... 41
1.3.1. Mối quan hệ giữa bảo lãnh thanh toán ngân hàng với hợp đồng
cơ sở phát sinh nghĩa vụ được bảo lãnh ............................................ 41
1.3.2. Mối quan hệ giữa bảo lãnh thanh toán ngân hàng với hợp đồng
cấp bảo lãnh ..................................................................................... 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ............................................................................. 45


Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO LÃNH THANH
TOÁN NGÂN HÀNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT VỀ BẢO LÃNH THANH TOÁN NGÂN HÀNG TẠI
NGÂN HÀNG BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT .......................................... 46

Bảo lãnh thanh toán thuế .................................................................. 67
Thư tín dụng dự phòng ..................................................................... 70

Một số bất cập phát sinh trong quá trình áp dụng pháp
luật trong hoạt động bảo lãnh thanh toán ngân hàng tại
Ngân hàng Bưu điện Liên Việt ...................................................... 72
2.4.1. Bảo lãnh thanh toán ngân hàng vô điều kiện và tính độc lập
của bảo lãnh ..................................................................................... 72
2.4.2. Chuyển nhượng bảo lãnh thanh toán ngân hàng ............................... 77


2.4.3. Phát hành bảo lãnh thanh toán ngân hàng lùi ngày hiệu lực của
bảo lãnh............................................................................................ 80
2.4.4. Phát hành bảo lãnh thanh toán khi ngân hàng chậm trả và lãi
suất chậm trả .................................................................................... 82
2.4.5. Phát hành bảo lãnh thanh toán ngân hàng dưới hình thức
điện SWIFT ..................................................................................... 85
2.4.6. Phát hành bảo lãnh thanh toán ngân hàng trên cơ sở bảo lãnh
đối ứng được phát hành bằng điện SWIFT ....................................... 86
2.4.7. Một số bất cập khác khi triển khai cấp bảo lãnh thanh toán
ngân hàng trong quan hệ bán nhà ở hình thành trong tương lai......... 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ............................................................................. 90
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH
THANH TOÁN NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM........................91
3.1.
Định hướng hoàn thiện pháp luật bảo lãnh thanh toán
ngân hàng tại Việt Nam ................................................................. 91
3.2.
Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo

Hội đồng quản trị

NHTM:

Ngân hàng thương mại

TCTD:

Tổ chức tín dụng

Thông tư 28:

Thông tư số 28/2012/TT-NHNN quy định về bảo
lãnh ngân hàng

WTO:

Tổ chức thương mại thế giới


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần, đây nền kinh tế Việt Nam đang có những bước
phát triển vượt bậc, đặc biệt là bắt đầu từ khi Việt Nam chính thức trở thành
thành viên của WTO thì nền kinh tế của nước ta đã có những bước biến
chuyển vượt bậc để chính thức hòa mình hội nhập cùng nền kinh tế quốc tế.
Do đó, các hoạt động trao đổi hàng hóa, thương mại, dịch vụ hiện nay không
chỉ diễn ra trong phạm vi lãnh thổ mà còn vươn ra tầm quốc tế. Để phù hợp
với xu thế đó, hệ thống các NHTM cũng không ngừng phát triển và mở rộng,
đặc biệt là ở các nghiệp vụ cấp tín dụng đặc thù, trong đó có nghiệp vụ cấp

Bưu điện Liên Việt mà còn là một vài kinh nghiệm có thể vận dụng tại các
NHTM khác tại Việt Nam. Đây cũng là lý do cho sự cần thiết để nghiên cứu
tìm hiểu bản chất pháp lý của bảo lãnh thanh toán ngân hàng, thực tiễn áp
dụng áp luật khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán ngân hàng tại một
NHTM cụ thể tại Việt Nam, từ đó góp phần đóng góp ý kiến và hoàn thiện
pháp luật về bảo lãnh thanh toán ngân hàng của nước ta. Từ những nguyên
nhân trên đây, học viên đã quyết định chọn đề tài "Pháp luật về bảo lãnh
thanh toán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam và thực tiễn tại Ngân hàng
Bưu điện Liên Việt" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
chế định bảo lãnh, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng, các đề tài nghiên cứu
tập trung đánh giá pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng chung như:
- Lê Nguyên (1997), Bảo lãnh ngân hàng và tín dụng thư dự phòng,
NXB Thống Kê, Hà Nội;
- Nguyễn Thành Long (1999), Những vấn đề pháp lý về bảo lãnh ngân
hàng, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội;

2


- TS. Võ Đình Toàn (2002), Một số vấn đề về quan hệ bảo lãnh ngân
hàng ở nước ta hiện nay, Tạp chí Luật học số 3/2002;
- Vũ Thị Khánh Phượng (2010), Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng và
thực tiễn tại NHTM Kỹ thương Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội;
- Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2012), “Hoàn thiện một số
quy định của quy chế bảo lãnh ngân hàng”, Dân chủ và pháp luật, (8).
Nội dung nghiên cứu của các công trình nói trên mới chỉ dừng lại ở
mức độ chung nhất về bảo lãnh ngân hàng mà chưa phân tích rõ đặc tính
thanh toán của bảo lãnh ngân hàng, cũng như chưa cụ thể hóa được các vướng

như phương pháp so sánh, phân tích, thống kê, tổng hợp, đối chiếu, suy luận...
để nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về bảo lãnh thanh
toán ngân hàng ở Việt Nam.
5. Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học. Một số giải pháp của đề tài có
giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật về bảo
lãnh ngân hàng ở nước ta.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về bảo lãnh thanh toán và pháp luật về bảo lãnh
thanh toán ngân hàng
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo lãnh thanh toán ngân hàng và
thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh thanh toán ngân hàng tại Ngân hàng
Bưu điện Liên Việt
Chương 3: Định hướng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về
hoạt động bảo lãnh thanh toán ngân hàng tại Việt Nam

4


Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ BẢO LÃNH THANH TOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
BẢO LÃNH THANH TOÁN NGÂN HÀNG
1.1. Lý luận cơ bản về hoạt động bảo lãnh thanh toán của ngân hàng
thương mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm bảo lãnh thanh toán ngân hàng
Bảo lãnh thanh toán ngân hàng trong phạm vi luận văn này nghiên cứu
được hiểu là bảo lãnh thanh toán ngân hàng theo nghĩa rộng, không phải bảo

bảo lãnh ngân hàng cũng như một cam kết thanh toán và bảo lãnh cũng có thể
hiểu là một phương thức thực hiện thanh toán và có thể được gọi là bảo lãnh
thanh toán ngân hàng. Bảo lãnh ngân hàng mang bản chất đặc trưng thanh toán
cho dù nó tồn tại dưới các dạng khác nhau. Một số bộ luật dân sự ở Châu Âu
cũng có cách hiểu như vậy. Ví dụ như bài viết Guarantees under the New Civil
Code (Bộ Luật Dân sự của Romania) của tác giả Monia Dobrescu thì:
The bank letter of guarantee is defined as an irrevocable and
unconditional commitment of the issuer (usually, a banking institution)
to pay an amount of money to a third party (the beneficiary) upon the
request of an authorizing officer, in consideration of an already existing
legal relationship between the authorizing officer and the beneficiary,
upon the occurrence of certain events stipulated in such letter [36].
Theo đó có thể hiểu rằng “Thư bảo lãnh ngân hàng được xác định như
là một cam kết không hủy ngang và vô điều kiện của tổ chức phát hành (thông
thường là một ngân hàng) phải thanh toán một khoản tiền cho bên thứ ba (bên
thụ hưởng) theo yêu cầu của một người đại diện có thẩm quyền, trong việc
xem xét có quan hệ pháp lý giữa người được ủy quyền và bên thụ hưởng, khi
xảy ra sự kiện nhất định được quy định trong Thư bảo lãnh”.
Ngoài ra, theo một trang website về các thuật ngữ ngân hàng cũng như

6


luật học thì: “A payment guarantee is a type of financial commitment that
requires the debtor to repay the debt in accordance with the terms and
conditions that apply to the original debt agreement” [40]. Có thể tạm dịch và
hiểu rằng “Một bảo lãnh thanh toán là một loại cam kết tài chính mà yêu cầu
con nợ trả nợ phù hợp với các điều khoản và điều kiện áp dụng cho các hợp
đồng nợ gốc”. Qua đây có thể thấy bảo lãnh thanh toán theo cách hiểu thông
thường thì cũng giống như bảo lãnh nói chung.

đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế tại các quốc gia, các khu vực
và trên toàn thế giới. Doanh số bảo lãnh thanh toán tại các ngân hàng gia tăng
nhanh chóng. Không chỉ được sử dụng trong mọi lĩnh vực các nước phát triển,
bảo lãnh thanh toán ngân hàng còn là phương tiện bảo đảm khá phổ biến
trong giao dịch kinh tế và dân sự ở các quốc gia đang phát triển. Ngoài ra, hầu
hết các giao dịch quốc tế lớn đều có sự hỗ trợ của các phương thức bảo lãnh
thanh toán của các ngân hàng.
Tại Việt Nam, trước năm 1975, một số ngân hàng thuộc chế độ cũ ở
Sài Gòn đã cung cấp dịch vụ bảo lãnh thanh toán như một phương thực bảo
đảm trong quan hệ dân sự. Sau khi đất nước thống nhất, hoạt động này được
thực hiện từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, trong giai đoạn chuyển tiếp
sang nền kinh tế thị trường. Đến những năm 90, khi nền kinh tế bắt đầu mở
cửa để hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động ngân hàng trở
nên đa dạng và bảo lãnh thanh toán tại các ngân hàng được phát triển như
một tất yếu khách quan. Nhưng do thiếu sự chỉ đạo thống nhất bằng các văn
bản pháp luật nên hoạt động bảo lãnh thanh toán tại các ngân hàng thời kỳ
này còn thiếu hiệu quả.
Từ những năm 1994 – 1995, hoạt động bảo lãnh thanh toán dần được
hoàn thiện nhờ việc ban hành một số quy định thống nhất. Những năm sau đó,
cùng với xu hướng mở rộng quan hệ kinh tế trong và ngoài nước, bảo lãnh
thanh toán tại các ngân hàng đã nhanh chóng phát triển. Tỷ lệ tăng trưởng hàng

8


năm về doanh số và dư nợ bảo lãnh thanh toán của các ngân hàng thương mại
ngày càng tăng. Các hình thức bảo lãnh được áp dụng ngày càng đa dạng, với
doanh số ngày càng cao cho thấy tiềm năng phát triển của dịch vụ này trong
nền kinh tế nước ta là rất lớn. Từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ
chức Thương mại Thế giới, cơ hội hợp tác và mở rộng thương mại quốc tế

là điểm khác biệt so với các bảo lãnh thanh toán dân sự thông thường. Bộ
luật Dân sự Việt Nam hay trong tất cả các văn bản pháp luật Việt Nam mà
tác giả tìm hiểu thì không có sự phân định rõ ràng về biện pháp bảo đảm đối
vật hay đối nhân. Song nếu lấy tiêu chí có hay không có tài sản được đưa ra
làm bảo đảm và bên có quyền có quyền đối với tài sản dùng để bảo đảm hay
không thì có thể thấy biện pháp cầm cố, thế chấp là biện pháp bảo đảm đối
vật. Ngược lại, trong hình thức bảo lãnh thanh toán ngân hàng, bên có quyền
(bên nhận bảo lãnh) không được trao bất cứ quyền nào đối với bất kỳ tài sản
nào của ngân hàng nhưng bên nhận bảo lãnh thanh toán có quyền yêu cầu
ngân hàng thanh toán thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và thực hiện thanh toán
cho bên nhận bảo lãnh khi bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ. Theo đó,
xét dưới góc độ này thì hình thức bảo lãnh thanh toán ngân hàng là biện
pháp bảo đảm đối nhân.
- Bảo lãnh thanh toán ngân hàng là bảo lãnh độc lập, tính độc lập của
bảo lãnh thanh toán ngân hàng thể hiện ở chỗ ngân hàng phải thực hiện
nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh ngay sau khi bên này đã xuất trình các
chứng từ phù hợp với nội dung của cam kết bảo lãnh do ngân hàng phát
hành mà không phụ thuộc vào việc bên được bảo lãnh có khả năng tự thực
hiện nghĩa vụ của họ hay không. Sự ghi nhận đặc điểm độc lập trong giao
dịch bảo lãnh thanh toán ngân hàng là đảm bảo tương đối chắc chắn cho lợi
ích của bên nhận bảo lãnh, đồng thời cũng là lợi thế của bảo lãnh thanh toán
ngân hàng so với các hình thực bảo lãnh dân sự thông thường khác không
phải do ngân hàng thực hiện [23, tr.196].

10


- Bảo lãnh thanh toán ngân hàng được khẳng định là một hình thức cấp
tín dụng của tổ chức tín dụng. Trong nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán của Ngân
hàng thương mại thì ngân hàng không dùng tài sản để thực hiện nghĩa vụ bảo

của ngân hàng với bên có quyền nhận khoản thanh toán (được hiểu là bên
nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng
(được hiểu là bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ và khách hàng phải nhận nợ bắt
buộc đối với số tiền ngân hàng đã thực hiện thanh toán cho bên có quyền
nhận khoản thanh toán.
Ngoài ra bảo lãnh thanh toán ngân hàng được biết đến như là một loại
hợp đồng cụ thể mà đối tượng của nó là sự cam kết bằng uy tín của người bảo
lãnh – tổ chức tín dụng. Điều này có nghĩa là khi nhận bảo lãnh, người nhận
bảo lãnh quan tâm chủ yếu đến nhân thân người bảo lãnh, ví dụ như uy tín, độ
tin cậy. Đồng thời với sự đánh giá này, người nhận bảo lãnh cũng rất quan
tâm đến khả năng tài chính của người bảo lãnh, vì trong trường hợp nghĩa vụ
của khách hàng không được thực hiện, thực hiện không đúng, người bảo lãnh
sẽ phải thực hiện thay [7, tr.249].
1.1.2. Chức năng và vai trò của hoạt động bảo lãnh thanh toán ngân hàng
Chức năng của hoạt động bảo lãnh thanh toán ngân hàng
Thứ nhất, bảo lãnh thanh toán ngân hàng có chức năng bảo đảm, đây là
chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh thanh toán ngân hàng, cung cấp cho
bên thụ hưởng một sự đảm bảo chắc chắn với quyền lợi của họ bằng cách cam
kết thanh toán khi bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ. Theo đó thì bên thụ
hưởng sẽ được hưởng một khoản bồi thường về tài chính nếu bên được bảo
lãnh vi phạm cam kết, từ đó hình thành nên sự đảm bảo chắc chắn cho bên
nhận bảo lãnh. Chính sự đảm bảo này tạo ra sự tin tưởng khiến cho các hợp
đồng dân sự, kinh tế được ký kết một cách dễ dàng và thuận lợi. Đây là điểm
khác biệt giữa bảo lãnh thanh toán ngân hàng so với tín dụng chứng từ hay

12


còn gọi là Thư tín dụng (Letter Credit). Tuy nhiên, người thụ hưởng chỉ được

Ví dụ: Bên mua hàng được bảo lãnh thanh toán ngân hàng thì thay vì
mang tiền trả cho bên bán trước khi được nhận hàng thì chỉ cần có bảo lãnh
thanh toán của ngân hàng. Vì vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn nhưng với
việc phát hành bảo lãnh thanh toán, Ngân hàng đã giúp cho khách hàng của
họ được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi được cho vay thực sự.
Với ý nghĩa này, bảo lãnh thanh toán ngân hàng được coi là một trong
những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đáp ứng kịp thời
các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, đồng thời làm giảm
bớt sự căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp. Qua đây có thể
thấy rõ hơn việc cấp tín dụng của ngân hàng thông qua hình thức phát hành
cam kết bảo lãnh thanh toán.
Thứ ba, bảo lãnh thanh toán ngân hàng mang chức năng đôn đốc hoàn
thành hợp đồng. Bảo lãnh thanh toán ngân hàng cho phép bên thụ hưởng có
quyền yêu cầu thanh toán khi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng cam kết
trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh và ngân hàng có quyền buộc bên
được bảo lãnh phải thực hiện nhận nợ bắt buộc đối với số tiền ngân hàng thực
hiện thanh toán thay. Do đó, ngân hàng luôn phải theo dõi kiểm tra giám sát
và đôn đốc việc thực hiện hợp đồng của bên được bảo lãnh. Mặt khác trong
trường hợp ngân hàng bảo lãnh phải thanh toán tiền bồi hoàn cho bên nhận
bảo lãnh thì bên được bảo lãnh cũng sẽ phải có trách nhiệm nợ và hoàn trả
khoản bồi hoàn đó cho ngân hàng bảo lãnh. Vì về thực chất bảo lãnh thanh
toán ngân hàng là lấy tiền vi phạm trả cho người hưởng lợi.
Người được bảo lãnh luôn bị một áp lực cho việc bồi hoàn bảo lãnh.
Như vậy, bảo lãnh thanh toán ngân hàng có chức năng đôn đốc người được
bảo lãnh thực hiện hoàn tất hợp đồng đã ký kết một cách nghiêm chỉnh. Điều
này càng làm tăng thêm tính bảo đảm cho bên thụ hưởng và có mối liên quan
chặt chẽ giữa chức năng bảo đảm và chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng.

14




động và doanh nghiệp chỉ phải trả một khoản phí tương đối thấp. Có thể nói
bảo lãnh thanh toán ngân hàng luôn được xem như một biện pháp hữu hiệu
cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả chậm. Bảo lãnh thanh toán
ngân hàng con thúc đẩy cạnh tranh, mở rộng sản xuất. Sở dĩ như vậy là do bắt
nguồn từ chức năng của bảo lãnh thanh toán ngân hàng là tạo điều kiện cho
bên nhận bảo lãnh tìm kiếm đối tác, tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng
không tốn nhiều thời gian và kinh phí, đồng thời hạn chế rủi do đến với bên
thụ hưởng. Mặt khác đối với các doanh nghiệp khi được ngân hàng bảo lãnh
thanh toán thì phải chịu một khoản phí bảo lãnh, đó là khoản chi phí của
doanh nghiệp do đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có biện pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn một cách có hiệu quả, từ đó sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Vai trò của hoạt động bảo lãnh thanh toán ngân hàng đối với doanh
nghiệp nhận bảo lãnh là cũng quan trọng để hạn chế rủi ro cho chính doanh
nghiệp. Để đảm bảo an toàn trong quan hệ làm ăn, hợp tác kinh doanh, doanh
nghiệp nhận bảo lãnh khi thấy bên được bảo lãnh có thể cung cấp một bảo
lãnh thanh toán tại một ngân hàng có uy tín thường dễ chấp nhận ký kết hợp
đồng hơn. Đồng thời trong trường hợp có bảo lãnh thanh toán ngân hàng thì
doanh nghiệp nhận bảo lãnh cũng có thể đảm bảo việc hợp đồng được diễn ra
suôn sẻ và làm cho việc kinh doanh, lợi nhuận của doanh nghiệp được bảo
đảm. Như vậy, bảo lãnh thanh toán ngân hàng đã trở thành loại dịch vụ kinh
doanh có nhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn,
các giao dịch kinh doanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong các
lĩnh vực khác của nền kinh tế.
Đối với ngân hàng, bảo lãnh thanh toán là một trong các dịch vụ mà
ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Bảo lãnh thanh toán ngân hàng đem lại
lợi ích trực tiếp cho ngân hàng đó là phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh đóng góp vào



17


hàng cũng như xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế giới, áp dụng
trong điều kiện kinh tế nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc
ra đời và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán ngân hàng là một tất yếu
khách quan.
1.1.3. Các hình thức bảo lãnh thanh toán ngân hàng
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì bảo lãnh thanh toán ngân
hàng được thực hiện bằng văn bản bao gồm Hợp đồng bảo lãnh, Thư bảo
lãnh, các hình thức khác mà pháp luật không cấm và phù hợp với thông lệ
quốc tế. Song pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể các hình thức bảo
lãnh, tác giả trên cơ sở thực tế phân loại các hình thức bảo lãnh theo các
phương thức sau:
Phân loại theo phương thức phát hành
Bảo lãnh thanh toán trực tiếp: là loại bảo lãnh mà trong đó ngân hàng
phát hành bảo lãnh chịu trách nhiệm bảo lãnh trực tiếp cho bên được bảo lãnh.
Người được bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi hoàn/thanh toán trực tiếp cho ngân
hàng phát hành bảo lãnh. Đây là loại bảo lãnh đơn giản nhất và phổ biến hiện
nay. Các bước thực hiện một giao dịch cụ thể như sau:
Bước 1: Bên nhận bảo lãnh (người thu hưởng) và Người được bảo lãnh
thoả thuận ký kết một hợp đồng (Hợp đồng kinh tế gốc là cơ sở phát sinh
nghĩa vụ bảo đảm) và người thu hưởng yêu cầu người được bảo lãnh phải mở
một bảo lãnh tại một ngân hàng được phép.
Bước 2: Người được bảo lãnh đến ngân hàng mà mình thường giao
dịch và có quan hệ tín dụng (ngân hàng phát hành) đề nghị phát hành bảo lãnh
theo những điều khoản và điều kiện đã thoả thuận và ký với Ngân hàng một
Hợp đồng cấp bảo lãnh. Người được bảo lãnh phải chắc chắn rằng những chỉ
thị phát hành bảo lãnh của mình cho Ngân hàng phát hành là chính xác và rõ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status