BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP :
`
Đề Tài::
THỰC TRẠNG VỀ BẢO LÃNH THANH TOÁN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
QUỐC TẾ VIỆT NAM(VIB)
GVHD
SVTH
: Ths.Trần Nam Hương
: Hoàng Thị Hiền
MSSV
: 0721090019
LỚP
: 07DNH
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2009
1
-
Chương 3: Kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo
lãnh NHTMCP VIB – Chi nhánh Sài Gòn.
Tuy nhiên, do kiến thức thực tế còn hạn chế và thời gian kiến tập ngắn nên
những vấn đề được đề cập trong đề tài sẽ không tránh khỏi được những thiếu sót. Vì
vậy, em mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô, các cô chú, anh chị
trong ngân hàng để đề tài này được hoàn thiện hơn.
2
Mục lục
3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Khái niệm về bảo lãnh và bảo lãnh ngân hàng
Trước khi đưa ra khái niệm về bảo lãnh ngân hàng, chúng ta tìm hiểu về bảo
lãnh nói chung.
Bảo lãnh là sự nhận cam kết của người nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ
quyền lợi và nghĩa vụ nếu người xin bảo lãnh không thực hiện những cam kết đó đối
với người thụ hưởng bảo lãnh.
Từ khái niệm trên, ta thấy rõ hai đặc tính cơ bản của bảo lãnh:
+ Trong hoạt động bảo lãnh luôn có ba bên tham gia: Người thụ hưởng bảo
lãnh, người xin bảo lãnh, và người nhận bảo lãnh.
+ Trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ trước tiên thuộc về người xin bảo lãnh.
Chính sự bảo đảm này tạo ra sự tin tưởng khiến cho các hợp đồng được ký kết một
cách dễ dàng và thuận lợi. Đây cũng là điểm khác biệt của bảo lãnh so với tín dụng
chứng từ
1.2.2. Bảo lãnh là công cụ tài trợ.
Không chỉ là công cụ bảo đảm, bảo lãnh còn là công cụ tài trự cho người được
bảo lãnh. Thông qua bảo lãnh người được bảo lãnh không phải xuất quỹ, được thu hồi
vốn nhanh, đươch vay nợ hoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hóa, dịch
vụ… Do vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn như trong tín dụng nhưng trong bảo lãnh
ngân hàng giúp cho khách hàng được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như trong
trường hợp cho vay.
1.2.3. Bảo lãnh là công cụ đôn đốc hoàn thành hợp đồng.
Bảo lãnh cho phép người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán khi người
được bảo lãnh vi phạm hợp đồng cam kết trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh
và ngân hàng có quyền đòi lại khoản tiền này.
Như vậy, với các chức năng quan trọng trên, hoạt động bảo lãnh ngân hàng đã
giúp các doanh nghiệp thực hiện tốt, yên tâm hơn khi ký kết và thực hiện hợp đồng mà
không tốn nhiều thời gian và chi phí, giảm thiểu rủi ro. Đồng thời thúc đẩy quá trình
chu chuyển vốn trong nền kinh tế thông qua các quan hệ hàng – tiền, góp phần tăng
tổng sản phẩm quốc dân. Ngoài ra còn tạo uy tín cho các doanh nghiệp giúp cho các
5
doanh nghiệp mở rộng thị trường ra nước ngoài tạo được nguồn thu ngoại tệ, giúp cân
bằng cán cân thanh toán quốc tế, ổn định giá trị đồng tiền.
Bảo lãnh không chỉ là một dịch vụ cung cấp cho nền kinh tế, mà còn đem lại lợi
ích cho chính ngân hàng thông qua phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận
một khoản không nhỏ, chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ của các ngân hàng
hiện nay.
1.3. Các quy định về bảo lãnh ngân hàng.
1.3.1. Các loại bảo lãnh ngân hàng.
Ngoài ra ngân hàng có quyền bảo lãnh cho tất cả các lĩnh vực khác mà pháp luật
không cấm và việc bảo lãnh đó phải phù hợp với thông lệ quốc tế.
1..3.2 Điều kiện và phạm vi bảo lãnh.
1.3.2.1 Điều kiện bảo lãnh.
Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định bảo lãnh khi khách hàng có đủ các điều
kiện sau:
1. Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định
của pháp luật;
2. Mục đích đề nghị tổ chức tín dụng bảo lãnh là hợp pháp;
3. Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ được tổ chức tín dụng bảo lãnh
trong thời hạn cam kết;
4. Trường hợp khách hàng là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thì ngoài các
điều kiện nêu trên phải tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối của Việt Nam.
1.3.2.2 Phạm vi bảo lãnh.
Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ sau
đây:
- Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí khác có liên quan đến khoản vay;
- Nghĩa vụ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hoá, máy móc, thiết bị và các khoản
chi phí khác.
- Nghĩa vụ thanh toán các khoản thuế, các nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà
nước;
- Nghĩa vụ của khách hàng khi tham gia quan hệ hợp đồng với bên nhận bảo
lãnh, như dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm, nhận và hoàn trả
tiền ứng trước;
- Các nghĩa vụ hợp pháp khác do các bên thoả thuận. .
7
8
Công thức tính phí bảo lãnh:
Giá trị BL x Mức phí BL x Thời hạn BL
Phí bảo lãnh =
360
1.3.5
Quyền và nghĩa vụ của đối tượng tham gia bảo lãnh.
1.3.5.1 Quyền và nghĩa vụ của người bảo lãnh (ngân hàng)
* Bên bảo lãnh có quyền:
- Chấp nhận hoặc từ chối đề nghị cấp bảo lãnh của khách hàng hoặc của bên bảo
lãnh đối ứng.
- Đề nghị bên xác nhận bảo lãnh xác nhận bảo lãnh đối với khoản bảo lãnh của
mình cho khách hàng;
- Yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu, thông tin có liên quan đến việc thẩm
định bảo lãnh và tài sản bảo đảm (nếu có);
- Yêu cầu khách hàng có các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ được tổ chức tín
dụng bảo lãnh (nếu cần);
- Thu phí bảo lãnh theo thoả thuận;
- Hạch toán ghi nợ và yêu cầu khách hàng hoặc bên bảo lãnh đối ứng hoàn trả
giá trị mà bên bảo lãnh đã trả thay.
- Xử lý tài sản bảo đảm của khách hàng theo thoả thuận và quy định của pháp
luật.
- Khởi kiện theo quy định của pháp luật khi khách hàng, bên bảo lãnh đối ứng vi
phạm nghĩa vụ đã cam kết;
- Có thể chuyển nhượng quyền, nghĩa vụ của mình cho tổ chức tín dụng khác
nếu được các bên có liên quan chấp thuận bằng văn bản.
10
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ BẢO LÃNH TRONG NƯỚC CỦA
NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIB BANK HỒ CHÍ MINH.
2.1 Vài nét về ngân hàng TMCP VIB
2.1.1. Giới thiệu chung về NHTMCP VIB
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (tên gọi tắt là Ngân hàng Quốc Tế - VIB)
được thành lập theo Quyết định số 22/QĐ/NH5 ngày 25/01/1996 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam.
Cổ đông sáng lập Ngân hàng Quốc Tế bao gồm các cá nhân và doanh nhân hoạt
động thành đạt tại Việt Nam và trên trường quốc tế; Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Ngân hàng Quốc Tế đang tiếp tục củng cố vị trí của mình trên thị trường tài
chính tiền tệ Việt Nam. Từ khi bắt đầu hoạt động ngày 18/09/1996 với số vốn điều lệ
ban đầu là 50 tỷ đồng Việt Nam, Ngân hàng Quốc Tế đang phát triển thành một trong
những tổ chức tài chính trong nước dẫn đầu thị trường Việt Nam.
Ngân hàng Quốc Tế cung cấp một loạt các sản phẩm, dịch vụ tài chính trọn gói
cho khách hàng với nòng cốt là những doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động lành mạnh
và những cá nhân, gia đình có thu nhập ổn định.
Đến thời điểm hiện tại, vốn điều lệ của Ngân hàng Quốc Tế là 2.000 tỷ đồng.
Tổng tài sản đạt gần 40.000 tỷ đồng.
Ngân hàng Quốc Tế luôn được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xếp loại tốt nhất
theo các tiêu chí đánh giá hệ thống Ngân hàng Việt Nam trong nhiều năm liên tiếp.
Đến thời điểm này, ngoài Hội sở tại Hà Nội, Ngân hàng Quốc Tế có trên 100
đơn vị kinh doanh tại 35 tỉnh ,thành phố trên toàn quốc. Chi nhánh Sài Gòn được thành
lập vào ngày 2 tháng 9 năm 2007, đặt tại trụ sở số 2, Ngô Đức Kế , Quận 1,Hồ Chí
Minh. Là đơn vị kinh doanh trực thuộc NHTMCP VIB Hồ Chí Minh.
Tuy mới thành lập nhưng chi nhánh luôn đạt thành tích cao với hai năm liền là
chi nhánh xuất sắc .
chính
Phòng khách
hàng doanh
nghiệp
Phòng tín
dụng
2.2 Thực trạng hoạt động Bảo lãnh của NH VIB – CNSài Gòn – TP. HCM
2.2.1. Tổng quan về hoạt động bảo lãnh của NH VIB – CNSài Gòn
2.2.1.1. Đối tượng được ngân hàng bảo lãnh.
* Các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt nam:
* Các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo luật các tổ chức tín
dụng.
* Hợp tác xã và các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại Điều 94 của Bộ
luật dân sự.
* Các tổ chức kinh tế nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác liên doanh và
tham gia đấu thầu các dự án đầu tư tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án
đầu tư tại Việt Nam.
2.2.1.2. Điều kiện xét phát hành bảo lãnh cho khách hàng.
NH VIB xem xét phát hành bảo lãnh nếu khách hàng đề nghị được bảo lãnh đáp
ứng đầy đủ những điều kiện như sau:
12
- Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định
của pháp luật;
- Mục đích đề nghị bảo lãnh là hợp pháp và thuộc các dự án đầu tư hoặc phương
- Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước, việc sử dụng tài sản hình thành bằng
nguồn ngân sách để thế chấp phải có sự đồng ý của cơ quan tài chính cung cấp bằng
văn bản…
2.2.1.4. Phí bảo lãnh.
Ngoài lãi suất tiền vay, người vay còn phải trả phí bảo lãnh được quy định theo
bảng biểu phí của ngân hàng theo Quyết định số 2153/VIB có hiệu lực từ ngày
31/07/2008,và mức phí này có thể chỉnh sửa theo chính sách của VIB theo từng thời kì.
Ngân hàng trực tiếp cho vay thu phí bảo lãnh 1 quý 1 lần vào ngày đầu mỗi quý
- ngày phát tiền vay là ngày thu phí bảo lãnh của quý đầu tiên - công thức tính thu phí
bảo lãnh
Ngoài ra, khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng thuế giá trị gia tăng trên
mức phí bảo lãnh và các chi phí hợp lý khác phát sinh liên quan đến giao dịch bảo lãnh
khi hai bên có thỏa thuận bằng văn bản.
14
2.2.1.5. Quy trình bảo lãnh tại NH VIB– CN Sài Gòn – Tp. HCM.
Quy trình bảo lãnh tại NH VIB – CNSài Gòn.
Hồ sơ
đề nghị bảo lãnh
Gửi đến
Tổ thẩm định
Không đủ
Điều kiện
Từ chối mở bảo lãnh
bằng văn bản
Trình
527.471
387.521
298
211
(Nguồn tài liệu: Phòng tín dụng)
Qua bảng số liệu trên ta thấy doanh số bảo lãnh cũng như số món bảo lãnh tại
ngân hàng trong những năm vừa qua giảm đáng kể, từ 527.471triệu đồng (năm 2007)
giảm còn 387.521triệu đồng (năm 2008). Đây là thực trạng chung của nền kinh tế vì
trong nửa đầu năm 2008, Việt Nam chịu ảnh hưởng của tình trạng phát triển quá nóng,
lạm phát gia tăng, thâm hụt thương mại, và giảm sút chất lượng đầu tư. Tình hình kinh
tế thế giới tác động trực tiếp tới hoạt động của Chi nhánh nói chung và của hoạt động
bảo lãnh nói riêng. Tuy nhiên mặc dù số lượng bảo lãnh và doanh số bảo lãnh giảm
không có nghĩa là hoạt động bảo lãnh của CNSài Gòn là không có hiệu quả. Chính do
sự nóng lên của nền kinh tế đã khiến chính phủ đã thực hiện chính sách thắt chặt tiền
tệ. Để hoạt động bảo lãnh thực hiện có hiệu quả, không gặp rủi ro trong tình hình kinh
tế khó khăn hiện tại, buộc CN phải sàng lọc khách hàng, lựa chọn những đối tượng bảo
lãnh có hiệu quả, các dự án bảo lãnh có tính khả thi để giải ngân. Điều này đã lý giải vì
sao doanh số bảo lãnh tại chi nhánh những năm vừa qua bị giảm sút như trên.
2.2.2.2. Cơ cấu bảo lãnh tại NH VIB – CN Sài Gòn - Tp.HCM
Bảng 2 : Cơ cấu bảo lãnh tại NHVIB – CNSài Gòn – Tp.HCM
ĐVT: Triệu đồng
Tổng doanh số
Năm Số
Giá trị
món
2007 395 698.053
Bảo lãnh trong nước
Năm 2008 doanh số bảo lãnh giảm xuống. Qua điều này cho thấy rằng:
16
Thứ nhất, quy mô của các hợp đồng bảo lãnh của năm 2008 giảm đi so với năm
2007, điều này không có nghĩa là hoạt động bảo lãnh của chi nhánh Sài Gòn kém hiệu
quả. Qua quá trình tìm hiểu tại chi nhánh, mới có thể nhận thấy rằng sự sụt giảm về
doanh số bảo lãnh chính là do tác động của sự khủng hoảng kinh tế trong thời gian vừa
qua. Các doanh nghiệp cũng đã cắt giảm dần sự đầu tư vào các dự án hay việc mở rộng
hoạt động kinh doanh để bảo toàn nguồn vốn cho doanh nghiệp mình, giúp doanh
nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn chung của nền kinh tế.
Thứ hai, mặc dù số khách hàng làm hồ sơ xin cấp bảo lãnh tại chi nhánh rất
nhiều, nhưng để tránh rủi ro trong tình hình kinh tế đang nóng lên thời gian qua, CN đã
tiến hành giảm bớt mức bảo lãnh đối với các doanh nghiệp, đồng thời xem xét, các
điều kiện để cấp bảo lãnh một cách kỹ lưỡng hơn, khắt khe hơn, nhằm giảm bớt rủi ro
cho chính ngân hàng, và cũng nhằm làm giảm lượng tiền trong lưu thông, đảm bảo cho
mức lạm phát trong tầm kiểm soát được như chính sách của chính phủ đã đề ra.
Và qua bảng số liệu ta thấy được rằng doanh số bảo lãnh trong những năm vừa
qua hầu như nghiêng về bảo lãnh L/C.
Để hiểu sâu hơn về hoạt động bảo lãnh của chi nhánh, chúng ta cần xem xét
hoạt động bảo lãnh của Chi nhánh , cũng như nguyên nhân tăng giảm của từng loại bảo
lãnh, ở đây em chỉ xin đề cập đến nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán.
Hiện nay, đối với bảo lãnh theo mục đích NH VIB – CNSài Gòn chủ yếu tập
trung vào các loại bảo lãnh chủ yếu sau: Bảo lãnh dự thầu, Bảo lãnh thực hiện hợp
đồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh L/C. Ngoài ra còn có một số bảo lãnh khác. Trong
các loại bảo lãnh đó thì bảo lãnh thanh toán trong nước cũng chiếm một tỷ lệ nhất
định trong bảo lãnh của chi nhánh.
17
3.005
35
0,43
1.030
18
0,25
BL THHĐ
55.030
157
7,88
32.007
86
7,90
BLTT
3.010
0,72
2.011
10
0,49
Tổng cộng
698.245
395
100
405.106
284
100
Qua
bảng số liệu cho ta thấy, tại chi nhánh loại bảo lãnh thanh toán luôn chiếm tỷ lệ cao
thời gian qua, tuy nhiên vẫn còn quá nhỏ so với quy mô của bảo lãnh dự thầu hay bảo
lãnh thực hiện hợp đồng. Sở dĩ bảo lãnh thanh toán có tỷ trọng cao là vì Chi nhánh
thực hiện bảo lãnh cho các dự án giao thông và xây dựng lớn của đất nước.Bảo lãnh
thanh toán trong nước tại ngân hàng chuyên về bảo lãnh cho các doanh nghiệp muốn
mua hàng trả chậm hoặc hưởng các dịch vụ trả tiền sau trong đó có cả nộp thuế chậm
ĐVT: Triệu đồng
2007
Tỷ
Loại hình
bảo đảm
2008
Giá trị
trọng
Tỷ
Giá trị
(%)
Có ký
quỹ
Không ký
quỹ
TCTS
Tổng
cộng
trọng
(%)
146.894052
Từ bảng số liệu trên ta thấy rằng ngân hàng đã thực hiện kết hợp các hình thức
bảo đảm.
+ Hình thức có ký quỹ tại chi nhánh cho các hợp đồng bảo lãnh thanh toán giảm
xuống. Năm 2007, khách hàng thực hiện ký quỹ là 146.894052 triệu đồng, nhưng đến
19
năm 2008 giảm xuống còn 103.766813 triệu đồng. Điều này làm tăng mức độ rủi ro
cho chi nhánh, bởi vì hình thức ký quỹ nhằm tạo ra sự ràng buộc giữa khách hàng và
chi nhánh, tạo sự an tâm cho chi nhánh khi tham gia bảo lãnh cho khách hàng. Khi
khách hàng ký quỹ 100% thì mức độ rủi ro của ngân hàng là bằng 0, rất có lợi cho
ngân hàng. Tuy nhiên, khi khách hàng ký quỹ 100% thì chi nhánh thường bỏ qua việc
thẩm định cũng như theo dõi việc thực thi trách nhiệm hợp đồng với khách hàng. Do
vậy, tuy rủi ro là bằng 0 nhưng uy tín của ngân hàng có thể bị giảm đi do khả năng
thanh toán cho khách hàng tăng lên nếu khách hàng không có hoặc không đủ khả năng
thanh toán.
+ Hình thức đảm bảo không ký quỹ lại đạt một tỷ trọng rất cao trong các loại
hình đảm bảo. Điều này là do lượng khách hàng được bảo lãnh thanh toán đa phần là
khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu năm với chi nhánh. Tuy nhiên tỷ trọng này
giảm dần qua các năm, làm tăng sự an toàn cho ngân hàng, tránh được rủi ro cao trong
bảo lãnh. Để đạt được hiệu quả cao trong bảo lãnh thanh toán , tránh được những rủi ro
ngoài ý muốn, chi nhánh cần thẩm định kỹ khi lựa chọn cách thức đảm bảo và cần
phân loại khách hàng một cách rõ ràng và chính xác.
2.2.2.4. Phí bảo lãnh.
Bảo lãnh là một hoạt động ngoại bảng, chi phí bỏ ra không lớn hơn nhưng mang
đến cho ngân hàng một khoản thu nhập không nhỏ. Khi ký một hợp đồng bảo lãnh,
ngân hàng chưa phải bỏ ra vốn của mình nhưng khách hàng vẫn phải trả cho ngân hàng
một khoản phí, đó là phí bảo lãnh. Và khoản phí này chính là doanh thu từ hoạt động
bảo lãnh của chi nhánh tong đó có nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán..
Doanh thu từ hoạt động của CN Sài Gòn thời gian qua được thể hiện qua bảng
một bộ phận chi phí riêng mà được tính vào chi phí hành chính của chi nhánh. Mặt
khác, chi nhánh chưa tách bộ phận làm nghiệp vụ bảo lãnh do đó có phần nào trở ngại
cho việc phát triển nghiệp vụ này. Dẫn đến nguồn thu phí tuy tăng nhưng chưa tương
xứng với nội lực và tiềm năng của chi nhánh.
Như vậy, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong môi trường cạnh tranh ngày càng
khốc liệt của các NHTM, nhưng chi nhánh đã tự khẳng định mình bằng quá trình phát
triển đi lên của cả hệ thống cũng như của cả hoạt động bảo lãnh nói chung và hoạt
động bảo lãnh thanh toán nói riêng của ngân hàng và đã đạt được kết quả đáng ghi
nhận.
2.2.2.5. Hạn chế và nguyên nhân.
- Hạn chế:
Hoạt động bảo lãnh trong nước vẫn chưa đáp ứng được tối đa nhu cầu của các
doanh nghiệp.
Sự mất cân đối trong các loại hình bảo lãnh. Chi nhánh tập trung nhiều vào bảo
lãnh dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh L/C… đây là các loại
bảo lãnh đặt ngân hàng vào tình trạng rủi ro cao nhất. Còn các loại hình bảo lãnh khác,
21
như bảo lãnh chất lượng sản phẩm, bảo lãnh hối phiếu… chưa được chú trọng nhiều,
doanh số còn quá thấp.
Số lượng khách hàng xin cấp bảo lãnh ngày càng không đồng đều giữa doanh
nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Có thể là do điều kiện bảo lãnh
khắt khe, thủ tục rườm rà nên gây khó khăn cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- Nguyên nhân:
+ Nguyên nhân khách quan:
Có rất nhiều văn bản do NHNN và NH VIB quy định về nghiệp vụ bảo lãnh
nhưng mà không đầy đủ, hay thay đổi làm cho quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn.
Nếu ngân hàng thực hiện đúng các quy định đó thì các doanh nghiệp rất khó mới có thể
chưa đủ sức đáp ứng thị trường.
NH VIB – CN Sài Gòn vẫn chưa chủ động tìm kiếm khách hàng, mà vẫn bị
động chờ khách hành tới xin bảo lãnh.
2.2.2.6. Kết quả đạt được.
Sau một thời gian thực hiện hoạt động bảo lãnh đặc biệt là hoạt động bảo lãnh
thanh toán, NH VIB – CN Sài Gòn đã đạt được một số thành quả nhất định.
Tuy nhiên từ năm 2007 đến nay, kinh tế thị trường có nhiều biến động, ảnh
hưởng tiêu cực tới hoạt động bảo lãnh. Thực tế là số món và doanh số bảo lãnh giảm
xuống. Tuy nhiên, những năm qua cũng chứng tỏ được rằng việc thực hiện bảo lãnh
thanh toán đã có nhiều bước chuyển biến rõ rệt. Tiến hành nhanh chóng,chính xác, kịp
thời, tạo điều kiện cho khách hàng trúng thầu và thi công nhiều dự án lớn.
Bên cạnh tổ chức mọi hoạt động kinh doanh ổn định, chi nhánh thường xuyên
thực hiện công tác chấn chỉnh các mặt của hoạt động chuyên môn, đặc biệt tăng cường
thẩm định, kiểm tra giám sát chặt chẽ bảo đảm cho việc sàng lọc khách hàng và bảo
lãnh có hiệu quả, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp.
Nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán trong nước của chi nhánh cũng góp phần thúc
đẩy các nghiệp vụ khác như cho vay, thanh toán phát triển, giúp các nhà đầu tư yên
tâm hơn khi tiến hành đầu tư vào một dự án.
Doanh số bảo lãnh giảm là do ngân hàng đã có sự sàng lọc kỹ khách hàng, để
chọn ra được khách hàng tốt nhất.
Tỷ trọng bảo lãnh cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở chi nhánh tương đối
cao. Chứng tỏ Chi nhánh luôn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có
được nguồn vốn, thúc đẩy các doanh nghiệp này phát triển, giúp cân đối nền kinh tế.
23
Hoạt động bảo lãnh góp phần nâng cao lợi nhuận, uy tín cũng như thế cạnh
tranh của NH VIB trên thị trường trong và ngoài nước.
Ngoài ra, ngân hàng luôn thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết với
khách hàng trong và ngoài nước, củng cố uy tín trong hoạt động kinh doanh của mình,
tôt hơn nhăm thu hút khách hàng đến với chi nhánh nhiều hơn.
c. Chính sách phí bảo lãnh.
Chính sách phí chính là chính sách giá cả trong chính sách marketing đối với
một sản phẩm. Vì vậy ngân hàng cần có chính sách phí linh hoạt, mềm dẻo hơn, để có
thể phát triển nghiệp vụ bảo lãnh trong tương lai để vừa thoả mãn nhu cầu của khách
25