ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRIÊ
̣
U THANH PHƢƠ
̣
NG
THùC HIÖN CHÝNH S¸CH D¢N TéC THêI Kú §æI MíI
ë VIÖT NAM - QUA THùC TIÔN T¹I TØNH L¹NG S¥N
Chuyên ngành: L lun v lịch s nh nƣc v php lut
Mã số: 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. PHẠM HNG THI
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN CHÍNH SCH
DÂN TỘC 9
1.1. Khi niệm chính sch dân tộc v thực hiện chính sch dân tộc 9
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mc - Lênin v tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về vấn đề dân tộc 11
1.3. Tầm quan trọng của vấn đề dân tộc v chính sch dân tộc
thời kỳ đổi mi 14
1.4. Nội dung chính sch dân tộc của Đảng v Nh nƣc thời kỳ đổi mi 19
1.5. Php lut về dân tộc - sự thể chế hóa chính sch dân tộc 22
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SCH DÂN TỘC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 27
2.1. Khi qut chung về tỉnh Lạng Sơn 27
2.2. Thực trạng chính sch dân tộc v php lut về dân tộc 29
2.3. Nội dung thực hiện chính sch dân tộc 34
2.3.1. Thực hiện bình đẳng về chính trị đối với đồng bào dân tộc thiểu số 34
2.3.2. Thực hiện chính sách về đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đối với
đồng bào dân tộc thiểu số 35
2.3.3. Thực hiện chính sách về đất đai, nhà ở, tài nguyên, môi trường
sinh thái đối với đồng bào dân tộc thiểu số 40
2.3.4. Thực hiện chính sách về giáo dục đối với đồng bào dân tộc thiểu số 42
2.3.5. Thực hiện chính sách về y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số 47
2.3.6. Thực hiện pháp luật về văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số 49
2.3.7. Thực hiện cho vay vốn tín dụng, xóa đói giảm nghèo 51
2.3.8. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số 53
2.3.9. Thực hiện công tác đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số tăng
cường cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số 55
2.3.10. Thực hiện chính sách quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội 57
2.4. Đnh gi tổng qut 58
2.4.1. Kết quả tốt đã đạt được 58
1. Tính cấp thiết của đề ti
Dân tộc là vấn đề mang tính chất thời sự đối với tất cả các quốc gia trên
thế giới. Vấn đề dân tộc luôn mang tính lý luận và tính thực tiễn sâu sắc. Đặc
biệt trong bối cảnh hiện nay, vấn đề dân tộc đang có những diễn biến phức tạp
đối với mỗi một quốc gia và cả toàn cầu. Dân tộc, sắc tộc, tôn giáo là vấn đề
nhạy cảm mà các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng nhằm chống phá sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta và chia rẽ
khối đại đoàn kết của dân tộc ta.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Đặc trưng nổi bật trong quan hệ
giữa các dân tộc ở nước ta là sự cố kết dân tộc, hoà hợp dân tộc trong một
cộng đồng thống nhất đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và đã được
thử thách trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, xây
dựng đất nước qua mấy nghìn năm lịch sử cho đến ngày nay. Các dân tộc có
ngôn ngữ, đặc trưng văn hóa và trình độ phát triển khác nhau. Tính khác biệt
tạo nên sự phong phú, đa dạng. Nhưng bản thân nó cũng sẽ tạo nên sự phân
biệt nếu quan hệ dân tộc không được giải quyết tốt. Chính vì vậy, giải quyết
tốt quan hệ dân tộc là vấn đề cấp thiết luôn được đặt ra đối với Đảng và Nhà
nước. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: "Các dân tộc
trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng
tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" [20].
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới,
nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh đòi hỏi chúng ta phát huy cao độ khối đoàn
kết dân tộc để có thể đứng vững và phát triển. Do vậy, nhận thức đúng đắn
vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc thời kỳ đổi mới có tầm quan trọng rất
2
lớn. Đảng và Nhà nước đã có những chính sách cụ thể nhằm nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, củng cố tăng cường
trái phép nhằm thực hiện "âm mưu diễn biến hòa bình" gây mất ổn định tình
hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Từ những nhận thức trên đây, em lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ của
mình là: "Thực hiện chính sách dân tộc thời kỳ đổi mới ở Việt Nam - Qua
thực tiễn tại tỉnh Lạng Sơn".
2. Tình hình nghiên cứu đề ti
Thời gian qua, vấn đề thực hiện chính sách dân tộc được quan tâm
rất nhiều bởi các học giả, các nhà khoa học, các nhà quản lý chính sách dân
tộc. Đã có các công trình nghiên cứu, các cuốn sách, bài viết, bài báo liên
quan đến vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước ta như:
- "Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta", Tập
bài giảng chương trình cử nhân chính trị, Phân viện Hà Nội - Khoa Dân tộc
(1995), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Sách bao gồm các bài giảng
đề cập tới đặc điểm của các dân tộc Việt Nam, nghiên cứu mối quan hệ tộc
người, hoạt động kinh tế truyền thống, nền văn hóa, thiết chế, quan hệ gia
đình, hôn nhân, tôn giáo của các dân tộc Việt Nam, chính sách dân tộc của
Đảng Cộng sản Việt Nam
- "Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc Việt Nam", Ủy
ban dân tộc và miền núi – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1996),
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đây là đề tài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề dân tộc và hướng giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm
Hồ Chí Minh.
- "Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ở các vùng dân tộc và miền núi cải
4
thiện đời sống nhân dân" của Đặng Vũ Liêm đăng trong Tạp chí quốc phòng
toàn dân số 02/1999. Trên cơ sở phân tích các chính sách dân tộc của Đảng và
Nhà nước ta, tác giả đã nêu ra những giải pháp trong việc thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
của người già chức sắc dân tộc, vai trò nghiên cứu khoa học với công tác dân
tộc, sự phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc dân tộc
- "Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách trong thời kỳ
công nghiệp hóa – hiện đại hóa" của Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và
miền núi. Cuốn sách là cơ sở hoạch định chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước ta và những định hướng cơ bản trong việc qui hoạch dân cư, đẩy mạnh
việc phát triển kinh tế hàng hóa cho phù hợp với chính sách của từng vùng,
miền.v.v…
Mỗi công trình nghiên cứu đều có những thành tựu đáng kể. Song chưa
có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về "Thực hiện chính sách dân tộc thời
kỳ đổi mới ở Việt Nam qua thực tiễn tỉnh Lạng Sơn". Vì thế, đây là đề tài rất
đáng để tìm hiểu, nghiên cứu. Để góp một phần nhỏ bé vào hệ thống các
nghiên cứu về thực hiện chính sách dân tộc, luận văn mong muốn tiếp tục làm
rõ thực trạng thực hiện chính sách dân tộc thời kỳ đổi mới ở Việt Nam qua
thực tiễn tại một tỉnh miền núi phía Bắc điển hình.
3. Mục đích v nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân
tộc, thực trạng việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn,
đề tài có mục đích đánh giá những ưu điểm, phân tích những tác động cụ thể
của chính sách dân tộc trên mọi lĩnh vực đời sống, chính trị, kinh tế và văn
6
hóa xã hội của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thời kỳ đổi
mới; từ đó đưa ra một số kiến nghị trong quá trình thực thi chính sách và đề ra
các giải pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách dân tộc, pháp luật về dân tộc.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như trên, luận văn tập trung giải quyết các
nhiệm vụ sau:
6. Tính mi của lun văn
Dưới góc nhìn luật học, luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; thực trạng thực
hiện chính sách dân tộc tại một tỉnh miền núi phía Bắc điển hình là Lạng Sơn;
thông qua phân tích kết quả của việc thực hiện, đề xuất giải pháp hoàn thiện
chính sách dân tộc, pháp luật về dân tộc; giảm bớt sự chênh lệch về trình độ
phát triển giữa các dân tộc, phát huy tổng thể sức mạnh toàn dân trong công
cuộc đổi mới đất nước. Cụ thể:
- Tiếp cận ở phương diện pháp lý đối với chính sách dân tộc thời kì đổi
mới ở Việt Nam và việc thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn. Thông qua phân tích kết
quả của việc thực hiện, đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách dân tộc, pháp
luật về dân tộc
- Luận văn góp phần đánh giá thực trạng thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Lạng Sơn (những số liệu điều tra, tổng hợp và
những kết quả đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa xã
hội, an ninh quốc phòng…); làm rõ điểm mạnh, điểm hạn chế của các chính
sách dân tộc ảnh hưởng đến sự phát triển ở tỉnh Lạng Sơn trên mọi mặt
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh việc thực thi chính
sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho quá trình nghiên cứu và hoạch định chính sách những vấn đề có liên
8
quan tới vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc cho các ngành, các cấp, các nhà
quản lý trong việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
7. Kết cấu của lun văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
gồm 3 chương:
Chương 1 - Cơ sở lý luận của thực hiện chính sách dân tộc
Chương 2 - Thực trạng thực hiện chính sách dân tộc thời kỳ đổi mới tại
chính sách như: chính sách kinh tế, chính sách quốc phòng, chính sách khoa
học và công nghệ, chính sách dân tộc.v.v…
10
Chính sách dân tộc là một trong những chính sách của Đảng và Nhà
nước ta, là sự thể hiện đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc mà cụ thể là các
chính sách về xóa đói giảm nghèo; chính sách về đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội khu vực đồng bào dân tộc thiểu số; chính sách hỗ trợ về đất đai, nhà ở, tài
nguyên, môi trường sinh thái; chính sách y tế - văn hóa – xã hội.v.v…
Chính sách được thể hiện qua các Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam;
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các Nghị quyết, Chỉ
thị của Đảng; các văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện chính sách dân tộc được hiểu là hoạt động có mục đích
của con người biến chính sách, pháp luật chứa đựng chính sách thành hoạt
động thực tế của các chủ thể thực hiện chính sách. Như vậy, các chủ thể
thực hiện chính sách phải hành động phù hợp với mục tiêu, biện pháp, kế
hoạch đã được đề ra trong chính sách. Việc thực hiện chính sách có nhiều
hình thức: tuân thủ chính sách, chấp hành chính sách, sử dụng chính sách,
áp dụng chính sách.
Tuân thủ chính sách được hiểu là một hình thức thực hiện chính sách
trong đó các chủ thể không được tiến hành những hoạt động trái với mục tiêu,
biện pháp, kế hoạch mà chính sách đề ra. Ví dụ: không sử dụng nguồn vốn
xóa đói giảm nghèo sai mục đích, thiếu hoạch định, gây thất thoát, lãng phí.
Chấp hành chính sách được hiểu là một hình thức thực hiện chính sách
trong đó các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ của mình với hành động tích cực.
Ví dụ: cán bộ thực hiện tốt, thực hiện tích cực, hoàn thành nhiệm vụ tăng
cường nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn.
Sử dụng chính sách được hiểu là một hình thức thực hiện chính sách
trong đó các chủ thể thực hiện quyền chủ thể của mình, thực hiện những hành
vi được cho phép. Ví dụ: hộ đồng bào dân tộc thiểu số được giao khoán đất
12
sự khác biệt về dân tộc thì dân tộc vẫn tồn tại và vẫn còn cơ sở xã hội, cơ sở
thực tiễn, cũng như nguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn dân tộc và xung đột dân tộc.
C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến sự ra đời của các dân tộc khi chưa
xuất hiện chủ nghĩa tư bản. Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen thể hiện
hai vấn đề cơ bản: Thứ nhất, chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là cơ sở
sinh ra nạn người bóc lột người, nạn áp bức giai cấp, áp bức dân tộc. Chủ
nghĩa tư bản càng phát triển thì nạn bóc lột và áp bức giai cấp, áp bức dân
tộc càng nặng nề. Vì vậy, muốn xóa bỏ nạn áp bức giai cấp, tình trạng dân
tộc này nô dịch, bóc lột dân tộc khác thì phải xóa bỏ tận gốc rễ chế độ sở
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra nạn áp bức giai
cấp, nạn nô dịch dân tộc. Thứ hai, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống
lại giai cấp tư sản xét về bản chất là một cuộc đấu tranh quốc tế - toàn bộ
giai cấp vô sản chống lại toàn bộ giai cấp tư sản, trước tiên giai cấp vô sản
phải giành lấy chính quyền ở nước mình, phải tự mình trở thành dân tộc,
phải biến lợi ích của mình thành lợi ích của dân tộc, biến lợi ích của dân tộc
thành lợi ích của mình để trở thành người lãnh đạo toàn thể dân tộc trong
cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Trong "Cương lĩnh về vấn đề dân tộc", Lênin cũng từng nhấn mạnh:
các dân tộc có quyền bình đẳng, thực chất của vấn đề dân tộc là xoá bỏ nô
dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác, trên cơ sở đó dần dần xoá bỏ sự
chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc; không phân biệt nhỏ -
lớn, phát triển - kém phát triển, màu da, tôn giáo, chế độ chính trị. Sự bình
đẳng giữa các dân tộc cần được thực hiện trên các lĩnh vực đời sống: kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội [25]. Điều đó phải được ghi nhận và bảo đảm bởi
pháp luật của Nhà nước và điều quan trọng hơn là phải được thực hiện trong
thực tế. Quyền bình đẳng được thể hiện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội. Quyền bình đẳng trên lĩnh vực chính trị tức là quyền được
14
Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân,
mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao
động khác Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một
thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc
lập của tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà [2].
1.3. Tầm quan trọng của vấn đề dân tộc v chính sch dân tộc thời
kỳ đổi mi
Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ "có vị
trí chiến lược" [11, tr.125], "luôn luôn có vị trí chiến lược" [13, tr.127] và "có
vị trí chiến lược lâu dài" [15, tr.121] trong sự nghiệp cách mạng nước ta.
Nhiệm vụ đó trong thời kỳ đổi mới hiện nay càng được đặt ra cấp thiết hơn
bao giờ hết. Việc xác định vị trí của vấn đề dân tộc xuất phát từ đặc điểm của
cộng đồng dân tộc ở nước ta.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc thống nhất gồm 54 dân tộc anh
em cùng sinh sống. Dân tộc Kinh chiếm 87% dân số; 53 dân tộc còn lại chiếm
13% dân số, phân bố rải rác trên địa bàn cả nước. Các dân tộc có quy mô dân
số khác nhau, từ những dân tộc dưới 1000 người (như: Cống, Si La, Pu Péo,
Rơ Măm…) đến những dân tộc khác có quy mô dân số lớn hơn như: Tày,
Nùng, Thái, Mường, Khơme, Mông, Dao, Giarai, Bana, Êđê …
Với đặc điểm dân cư, dân tộc như vậy, điểm mạnh mà ta có được là:
các dân tộc hoà hợp trong một cộng đồng thống nhất, tạo nên nguồn sức
mạnh lớn trong đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất
nước qua mấy ngàn năm lịch sử cho đến ngày nay. Thêm nữa, các dân tộc có
bản sắc văn hóa riêng góp phần tạo nên một nền văn hóa dân tộc Việt Nam
đa dạng và phong phú.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, do điều kiện tự nhiên, xã hội, hình thái cư trú
xen kẽ và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột trong lịch sử nên trình độ
15
Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy điều đó khi cho rằng để xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc thì phải thực hiện bình đẳng dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc
không những phải dựa trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, mà còn phải thực hiện đoàn
kết các dân tộc. Cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc là bình đẳng dân tộc, vì
lợi ích của tất cả các dân tộc trong một quốc gia. Khi các dân tộc được đối xử
bình đẳng, cả về nghĩa vụ và quyền lợi, sẽ tạo ra tiếng nói chung và tạo nên sự
đồng thuận giữa các dân tộc và ngược lại. Vì thế, nếu không đảm bảo và
không có những chính sách, hành động cụ thể để thực hiện bình đẳng dân tộc,
làm cho bình đẳng dân tộc ngày càng trở thành hiện thực thì khối đại đoàn kết
dân tộc sẽ bị lung lay, làm ảnh hưởng đến sự tập hợp lực lượng của cách
mạng. Để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, cần phải có một xã hội mà ở đó
quyền bình đẳng giữa các dân tộc có điều kiện và cơ sở để thực hiện. Xã hội
đó, không thể khác là xã hội xã hội chủ nghĩa. Theo quan điểm của Người:
đồng bào miền xuôi với trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật phát triển hơn
phải giúp đỡ đồng bào thiểu số để cùng tiến bộ. Nhiệm vụ của Trung ương,
Chính phủ và Cấp ủy Đảng là phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn
hóa của đồng bào các dân tộc, phải giúp đỡ đồng bào thiểu số về mọi mặt.
Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, các dân tộc tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết,
nỗ lực phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã
hội. Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán, theo nguyên tắc: các dân tộc bình
đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là
mục tiêu chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Bước vào thời kỳ đổi
17
mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc của Đảng đã
cả nhằm thu hẹp khoảng cách giữa người dân các dân tộc thiểu số miền núi
với người dân vùng đồng bằng.
Thứ ba, thực hiện tốt chính sách dân tộc góp phần bảo đảm quyền
con người
Quyền con người là một vấn đề toàn cầu, cũng là mối quan tâm lớn của
Đảng ta. Con người được đặt ở vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động
lực trong quá trình phát triển và công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam. Các
quyền và tự do cơ bản của nhân dân được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp
luật và bảo đảm thực hiện bằng nhiều chủ trương, chính sách và cơ chế. Nhà
nước Việt Nam thực hiện đường lối nhất quán: Các dân tộc bình đẳng, đoàn
kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ. Trên tinh thần đó, hệ thống pháp luật
Việt Nam liên tục được hoàn thiện, đáp ứng cơ bản chính sách phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, trong đó có việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp
pháp của các dân tộc thiểu số. Mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc đều bị
nghiêm cấm. Mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu
số được cải thiện không ngừng. Thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc
chính là đem lại sự bình đẳng trong thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản của
con người. Đồng bào các dân tộc thiểu số cũng được hưởng các quyền về
chính trị, kinh tế, văn hóa như bất cứ thành viên nào khác trong xã hội. Vì thế,
việc Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số,
đến vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc là hướng tới bảo đảm quyền con
người, vì sự phát triển chung của con người, của công dân trong xã hội và của
các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
19
1.4. Nội dung chính sch dân tộc của Đảng v Nh nƣc thời kỳ
đổi mi
Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, Đảng ta luôn luôn
đánh giá đúng đắn vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc, kế thừa và phát huy
truyền thống sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc.Vì vậy, Đảng đã có những
Từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước thực hiện thống nhất trên phạm vi cả
nước. Các văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới luôn nhìn nhận công tác dân tộc là
vấn đề chiến lược của Đảng và Nhà nước ta.
Nếu như trong các văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V
đều nhấn mạnh: "đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc" thì từ Đại hội VI trở
đi nguyên tắc này đã được xác định là: "Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn
nhau" (Đại hội VI) [23], "Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau" (Đại hội
VII) [11], "Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’" (Đại hội VIII) [13], "Bình đẳng,
đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển" (Đại hội IX) [15], "Bình
đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ" (Đại hội X) [17] và
"Cộng đồng các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau
cùng phát triển" (Đại hội XI) [20].
Nghị quyết số 22 (Khoá VI) ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về
một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi
cũng nhấn mạnh:
Phát triển kinh tế - xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ
của chiến lược phát triển kinh tế quốc dân, là sự nghiệp chung của
nhân dân cả nước… Phát triển miền núi toàn diện cả về kinh tế, xã
hội, văn hoá, quốc phòng, an ninh; trong đó trọng tâm là phát triển
kinh tế - xã hội gắn với thực hiện chính sách dân tộc của Đảng [4].