VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYÊN VĂN THẮNG
CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế Mã
số
: 8.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Thị Thương Huyền
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết luận nêu
trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích
dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các
môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Nhà trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
Ninh..............................................................................................................................................75
KẾT LUẬN..................................................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................80
1. ASXH
: An sinh xã hôi
2. BHXH
: Bảo hiểm xã hội
3. BQ
4. HĐND
: Bình quân
: Hội đồng nhân dân
5. NSNN
6. NLĐ
7. TNLĐ-BNN
: Ngân sách Nhà nước
: Người lao động
: Tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp
8. UBND
: Uỷ ban nhân dân
1
BHXH, sự phức tạp của các thủ tục hành chính.... Điều đó đòi hỏi phải từng bước đưa công tác
thực hiện chi BHXH theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu của nhân dân.
Vì những lý do trên nên tác giả đã lựa chọn đề tài: “Chi BHXH theo pháp luật Việt
Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” để nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ luật học. Việc nghiên
cứu đề tài này có một ý nghĩa rất quan trọng, cần thiết đối với việc nâng cao hiệu quả công tác
chi BHXH nói riêng và đối với sự phát triển bền vững của chính sách ASXH nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nội dung pháp luật về BHXH nói chung là một đề tài phổ biến nhưng những nghiên
cứu chuyên sâu về pháp luật chi BHXH lại chưa có nhiều, đặc biệt là từ khi Luật BHXH năm
2014 có hiệu lực đến nay. Một số công trình khoa học nghiên cứu về chi BHXH có thể kể đến
như:
- Đề tài khoa học: "Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi các chế độ BHXH ở
Việt Nam'" (2010) của Ths. Nguyễn Thị Chính làm chủ nhiệm. Đề tài nghiên cứu một cách có
hệ thống, toàn diện hệ thống tổ chức và hoạt động chi các chế độ BHXH ở nước ta. Đề tài đã
tổng hợp, phân tích có hệ thống về hệ thống tổ chức và hoạt động chi các chế độ BHXH ở Việt
Nam. Qua đó đã có những đánh giá xác đáng về hệ thống tổ chức chi các chế độ BHXH. Đồng
thời, nghiên cứu hoạt động chi các chế độ BHXH ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2003 đến 2008
về quy trình chi, phương thức chi, lệ phí chi, cơ sở vật chất phục vụ công tác chi... rút ra kết
quả đạt được và một số vấn đề còn tồn tại. Dựa trên cơ sở phân tích khoa học, đề tài đã đưa ra
các giải pháp cụ thể, có tính khả thi cao nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi
các chế độ BHXH ở Việt Nam, bao gồm: Hoàn thiện hệ thống tổ chức chi; Đổi mới công tác
lập kế hoạch chi; Hoàn thiện phương thức chi; Quản lý chặt chẽ nguồn kinh phí chi; Tăng
cường phương tiện phục vụ công tác chi; Kiện toàn công tác cán bộ; Tăng cường kiểm tra và
thanh tra trong các khâu chi; Quản lý chặt chẽ chi các chế độ BHXH ngắn hạn; Tăng lệ phí chi
và một số giải pháp khác.
-
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận pháp
luật về chi BHXH và từ thực tiễn thực hiện ở tỉnh Bắc Ninh, để từ đó, đề xuất các giải pháp
hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
- Nhiệm vụ nghiên cứu, từ mục đích nghiên cứu ở trên, luận văn xác định các nhiệm
vụ nghiên cứu như sau:
+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về chi BHXH;
3
+ Khái quát thực trạng pháp luật về chi BHXH của Việt Nam và đánh giá thực trạng
thực hiện pháp luật về chi BHXH từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh, chỉ ra những hạn chế, bất cập và
nguyên nhân.
+ Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chi BHXH từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận pháp luật về chi BHXH của
Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về chi BHXH tại tỉnh Bắc Ninh, cùng với quan điểm
và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về chi BHXH nhằm nâng cao hiệu quả quản lý,
giám sát thực hiện chính sách chi BHXH trên địa bàn.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn ở quy định của pháp luật về chi
BHXH và thực tế áp dụng pháp luật về chi BHXH trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Các số liệu
minh họa thực tế được lấy từ thực tế áp dụng tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 2013 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở phương pháp luận, luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các nguyên lý của chủ nghĩa
Mác-Lênin, định hướng của Đảng, Nhà nước về pháp luật chi BHXH của Việt Nam và tại tỉnh
Bắc Ninh. Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu tác giả cũng sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học truyền thống có độ tin cậy như:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn.
- Phương pháp khảo sát, đánh giá tài liệu, quan sát, kiểm chứng để nghiên cứu, phân
1.1. Khái quát chung về chi bảo hiểm xã hội
1.1.1.
Khái niệm và đặc điểm của chi bảo hiểm xã hội
1.1.1.1. Khái niệm về chi bảo hiểm xã hội
Chi BHXH không ra đời cùng khái niệm BHXH bởi hình thức sơ khai nhất của BHXH
là những quỹ được hình thành do sự tự nguyện đóng góp của một cộng đồng người nhất định.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, BHXH ngày càng hướng tới nhiều đối tượng và các chế
độ trợ cấp khác nhau. Bởi vậy, mức độ chi BHXH cũng đặt ra yêu cầu cần được quản lý phù
hợp với nguồn quỹ BHXH. Theo đó, có thể hiểu chi BHXH ra đời là một tất yếu khách quan
xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của chi BHXH như sau:
Thứ nhất, Chi BHXH phải thực hiện trên nguyên tắc đóng, có hưởng, cộng đồng chia
sẻ rủi ro; lấy số đông bù số ít, lấy của người đang làm việc trả cho người nghỉ hưởng chế độ
BHXH; đồng thời có thêm trách nhiệm đóng góp của người sử dụng lao động và sự bảo hộ của
Nhà nước.
Thứ hai, mức chi BHXH phải căn cứ trên mức đóng góp, thời gian đóng góp, không
được cao hơn mức lương tham gia BHXH và thấp nhất phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho
NLĐ. Việc quy định mức hưởng phải thấp hơn tiền lương là nguyên tắc bắt buộc, song không
được thấp hơn mức lương tối thiểu ở từng thời kỳ.
Thứ ba, quỹ BHXH dùng để chi BHXH phải tự chủ về tài chính. Đây là nguyên tắc
quan trọng trong chính sách chi BHXH bởi nếu không thực hiện nguyên tắc này, quỹ BHXH sẽ
chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
Thứ tư, việc chi BHXH phải kết hợp hài hòa giữa các lợi ích, các mục tiêu và phù hợp
với điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi một quốc gia.
Về mặt ngôn ngữ, “chi BHXH” là một động từ chỉ hành động trả tiền cho những đối
tượng đã tham gia đóng BHXH.
Về mặt kinh tế học, “chi BHXH” là một hoạt động hay một nghiệp vụ tài chính, là quá
trình phân phối, sử dụng quỹ BHXH để chi cho các chế độ BHXH nhằm ổn định cuộc sống
của người tham gia BHXH và đảm bảo các hoạt động của hệ thống BHXH. Đó là quá trình
BHXH là NLĐ hay chính là đối tượng tham gia BHXH. Tuy nhiên, thực tế thì không phải như
vậy, với quan điểm BHXH chính là sự bù đắp hoặc thay thế một phần hoặc toàn bộ thu nhập
của NLĐ thì đối tượng của BHXH chính là thu nhập của NLĐ. BHXH không để “bảo hiểm”
cho bản thân NLĐ mà chính là “bảo hiểm” cho thu nhập của họ. NLĐ trong mối quan hệ này
không phải là đối tượng được “bảo hiểm” mà chính là đối tượng được tác động hay nói cách
khác là đối tượng được thụ hưởng BHXH.
- Việc chi BHXH bắt nguồn từ mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên
cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được
BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc cả NLĐ và người sử dụng lao động. Bên
BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra
và bảo trợ. Bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết
[1, tr. 19-20-21].
Mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH để được hưởng chi BHXH cũng được xuất
phát trên cơ sở quan hệ lao động và quan hệ quản lý xã hội, cụ thể: Bên tham gia BHXH: có
thể bao gồm NLĐ, người sử dụng lao động và nhà nước và có thể chỉ có NLĐ và nhà nước.
Bên BHXH: thông thường là cơ quan chuyên trách do nhà nước đứng ra thành lập và bảo trợ,
cơ quan này tổ chức hoạt động theo đúng khuôn khổ pháp luật. Bên được bảo hiểm chính là
NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
- Việc chi BHXH chính là việc thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ
tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì quy cho cùng, mất khả
năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người khi hết tuổi lao động theo các điều kiện quy định
của BHXH. Còn mất việc làm hoặc mất khả năng lao động tạm thời, làm giảm hoặc mất thu
nhập, NLĐ cũng được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào điều kiện cần thiết,
thời điểm và thời hạn hưởng theo đúng quy định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH nó
quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH [2, tr.18-19].
- Bên cạnh đó, việc chi BHXH chính là phân phối và phân phối lại thu nhập giữa NLĐ
tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có NLĐ mà có cả người sử dụng lao động. Các
thể dựa trên xác suất rủi ro, thiệt hại của tập hợp người tham gia BHXH. Đối với người sử
dụng lao động, việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH cho NLĐ mà họ sử dụng. Xét dưới góc
độ kinh tế họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập. Với nhà nước, BHXH làm giảm gánh nặng cho NSNN. Đồng thời quỹ BHXH
nhàn dỗi còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Và tính kinh tế còn được thể
hiện đối với NLĐ tham gia BHXH là có tham gia đóng góp mới được hưởng trợ cấp. Đồng
thời về cơ bản đóng nhiều thì hưởng nhiều, đóng ít thì hưởng ít. Tính xã hội thể hiển ở chỗ:
nhìn chung mọi NLĐ trong xã hội chỉ thuộc diện hưởng chi BHXH đều là những chủ thể có
quyền tham gia BHXH và BHXH có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi NLĐ (tuy nhiên trong thời
kì đầu chỉ áp dụng đối với công nhân viên chức hưởng lương). BHXH bảo hiểm cho mọi đối
tượng lao động trong tất cả các ngành nghề, các vùng miền, thành phần kinh tế, địa phương...
Điều đó thể hiện tính xã hội rất rộng lớn.
- Mục tiêu của BHXH nói chung và chi BHXH nói riêng chính là nhằm thỏa mãn nhu
cầu thiết yếu của NLĐ và gia đình họ trong trường hợp NLĐ bị giảm hoặc mất thu nhập, mất
việc làm. Mục đích này được tổ chức lao động quốc tế cụ thể hóa như sau: Đền bù cho NLĐ
những khoản thu nhập bị mất đi để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ. Chăm sóc sức
khỏe chống lại bệnh tật. Xây dựng điều kiện sống đáp ứng nhu cầu của dân cư, nhu cầu đặc
biệt của người già và trẻ em.
Qua đây có thể thấy, BHXH, trong đó cho chi BHXH góp phần thực hiện mục tiêu
đảm bảo an toàn kinh tế cho NLĐ và gia đình họ.
1.1.2. Các hình thức chi bảo hiểm xã hội
Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy định cụ thể và
chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với NLĐ. Nói cách khác,
đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hóa về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức
đóng cho từng trường hợp BHXH cụ thể. Chế độ BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các
văn bản pháp luật và dưới luật, các thông tư, điều lệ. Tuy nhiên, dù có cụ thể đến đâu thì các
chế độ BHXH cũng khó có thể bao hàm được đầy đủ mọi chi tiết trong quá trình thực hiện
chính sách BHXH. Vì vậy, khi thực hiện mỗi chế độ thường phải nắm vững những vấn đề
chí cả vợ hoặc chồng con cái họ bởi lẽ nếu những người này được chăm sóc y tế có cuốc sống
khỏe mạnh bình thường thì bản thân NLĐ cũng yên tâm, phấn khởi tham gia sản xuất. Góp
phần nâng cao năng suất lao động cá nhân.
Đây là chế độ đặc thù trong 9 chế độ có đối tượng rộng nhưng BHXH sẽ tiến hành chi
trợ cấp theo tất cả những chi phí phát sinh trong suốt thời gian điều trị chăm sóc những người
được bảo vệ. Tuy nhiên để tránh chuộc lợi BHXH người ta quy định người tham gia BHXH
phải có ít thất một thời gian nhất định có đóng BHXH. Đây là chế độ BHXH ngắn hạn vừa
mang tính chất hoàn trả vừa mang tính chất không hoàn trả. Những nước thiết lập quỹ BHYT
thì mức phí phải nộp phụ thuộc chủ yếu ba yếu tố: số người tham gia BHXH; số người được
chăm sóc y tế hàng năm; chi phí BQ một người được chăm sóc y tế hàng năm.
- Chế độ trợ cấp ốm đau:
Ồm đau là loại rủi ro rất phổ biến trong cuộc sống của mỗi con người và hầu như ai
cũng gặp phải. Khi bị ốm đau bản thân người ốm và gia đình gánh chịu những chi phí phát
sinh và nếu tham gia BHXH thì chế độ chăm sóc y tế gánh vác. Nếu ốm đau còn điều trị dài
ngày thì nghỉ ốm sẽ mất thu nhập và thu nhập bị gián đoạn, khoản chế độ này sẽ được bù đắp
hoặc thay thế bởi chế độ ốm đau. Bởi vậy mục đích của chế độ này là nhằm đảm bảo tính liên
tục về thu nhập cho NLĐ và gia đình họ, giúp họ ổn định cuộc sống. Việc quy định mức trợ
cấp và thời gian trợ cấp tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước.
Chế độ này cũng là chế độ trợ cấp ngắn hạn, vừa mang tính hoàn trả, vừa mang tính
không hoàn trả.
- Chế độ trợ cấp thất nghiệp:
Thất nghiệp là loại rủi ro nghề nghiệp mà trong cơ chế thị trường NLĐ rất hay gặp
phải đây là loại rủi ro có tác động rất lớn đến tất cả vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi
nước... thất nghiệp do nhiều nguyên nhân khác nhau và hậu quả vô cùng nặng nề bởi vậy ngày
nay tất cả các nước, tất cả các nhà kinh tế, nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng thất nghiệp
là vấn đề nan giải khó giải quyết. Thất nghiệp luôn đi đôi với lạm phát. Mục đích của chế độ
này góp phần ổn định thu nhập và tâm lý cho NLĐ cũng như gia đình họ giúp NLĐ bị thất
nghiệp sớm có cơ hội và điều kiện quay trở lại thị trường lao động. Góp phần ổn định kinh tế
cao nhất trong tổng mức phí và trong tổng quỹ BHXH. Ngoài ra hoạt động thu, chi của chế độ
này cũng có liên quan đến tất cả các cơ quan, các hoạt động BHXH. Chính vì vậy, chế độ hưu
trí được đa số các nước áp dụng và cũng là một chế độ được thực hiện sớm nhất.
Đảm bảo quyền lợi hợp pháp của NLĐ sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động đối
với xã hội. Thể hiện sự quan tâm của chính phủ, người sử dụng lao động không chỉ khi họ còn
trẻ khỏe mà cả khi họ đã già yếu không thể lao động được nữa. Sự quan tâm này không chỉ
thuần túy là nghĩa vụ và trách nhiệm mà còn là đạo lý của mỗi dân tộc, mỗi một chế độ chính
trị xã hội. Ngoài ra, giúp cho NLĐ tiết kiệm cho bản thân ngay từ trong quá trình lao động để
đảm bảo ổn định cuộc sống khi về già, từ đó giảm bớt gánh nặng cho gia đình và người thân và
cho xã hội.
Đối tượng, mức trợ cấp và khoảng thời gian trợ cấp phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã
hội của từng nước.
Chế độ hưu trí là chế độ trợ cấp dài hạn được thực hiện ngoài quá trình lao động. Số
tiền trợ cấp thông thường được cơ quan BHXH chi định kỳ theo tháng cho người về hưu. Chế
độ hưu trí là chế độ mang tính chất hoàn trả và ít nhiều có sự tách biệt quá trình đóng và hưởng
vì NLĐ tham gia đóng phí bảo hiểm trong suốt quá trình lao động và được hưởng trợ cấp khi
về hưu. Điều này thể hiện tính kế thừa liên tục giữa các thế hệ NLĐ để hình thành quỹ hưu trí.
Vì vậy, việc xác định mức đóng, mức hưởng rất phức tạp.
- Trợ cấp gia đình:
Chế độ này nhằm hỗ trợ cho NLĐ đông con có điều kiện vật chất tối thiểu cần thiết để
chăm sóc và nuôi dạy con cái. Khuyến khích NLĐ tham gia BHXH và tạo nguồn lao động
tương lai. Góp phần tạo sự bình đẳng trong xã hội và từ đó tạo sự ASXH, tính đến hết năm
2006 trên thế giới có trên 86 nước thực hiện trợ cấp gia đình.
Đây là chế độ liên quan đến việc làm vì vậy đối tượng được trợ cấp chỉ bao gồm những
người đang lao động và gia đình họ. Trong đó, chỉ có những lao động đông con mới được
hưởng trợ cấp và trách nhiệm chủ yếu thuộc về người sử dụng lao động.
Những người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đối với NLĐ đông con gặp hoàn
cảnh khó khăn trong cuộc sống bằng cách bổ xung các quyền lợi cho người được trợ cấp. Cụ
buộc và BHXH tự nguyện, cụ thể: BHXH bắt buộc có các chế độ như ốm đau; thai sản; TNLĐ,
BNN; hưu trí; tử tuất. BHXH tự nguyện gồm có: Hưu trí; Tử tuất (Điều 4 Luật BHXH năm
2014).
1.2. Lý luận pháp luật về chi bảo hiểm xã hội
1.2.1.
Khái niệm và đặc điểm, vai trò của pháp luật về chi bảo hiểm xã hội
1.2.1.1. Khái niệm pháp luật về chi bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước. Pháp luật chi BHXH
là bộ phận cấu thành của pháp luật BHXH, theo đó: Pháp luật về chi bảo hiểm xã hội được
hiểu là tổng hợp các quy pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực
hiện hoạt động chi bảo hiểm xã hội và quản lý chi bảo hiểm xã hội.
Pháp luật chi BHXH quy định về đối tượng được hưởng BHXH - những chủ thể tham
gia BHXH bắt buộc hoặc được quyền tự nguyện tham gia BHXH tự nguyện theo từng quy
định của mỗi quốc gia; quy định tỷ lệ hưởng BHXH, căn cứ hưởng BHXH, phương thức
hưởng BHXH, trách nhiệm tổ chức thực hiện chi BHXH cũng như quản lý quỹ BHXH.
1.2.1.2. Đặc điểm của pháp luật về chi BHXH
Từ những tìm hiểu về khái niệm của pháp luật về chi BHXH chúng ta thấy pháp luật
về chi BHXH có những đặc điểm sau [46]:
Một là, Pháp luật chi BHXH quy định đối tượng hưởng BHXH chính là các đối tượng
tham gia BHXH. Theo đó, các đối tượng được hưởng BHXH là cán bộ, công chức, công nhân,
viên chức và người lao động; quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang
hưởng lương hưu hàng tháng; Cán bộ xã, phường, thị trấn.
Hai là, pháp luật về chi BHXH rất đặc biệt ở chỗ là quy định về những ưu tiên nhất
định về lợi ích. Pháp luật về chi BHXH đặt ra những điều kiện nhất định để chủ thể tham gia
BHXH được hưởng những lợi ích nhất định, tạo sự kích thích cho chủ thể tham gia BHXH tập
trung vào những điều kiện đó để đạt được những lợi ích đó.
vào cuộc sống, từ đó lao động sản xuất hăng hái hơn, tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn làm cho
quá trình sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động đạt kết quả cao. Muốn vậy, chủ sử
dụng lao động phải thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về BHXH nói chung và
chi BHXH nói riêng và tham gia đóng BHXH cho NLĐ của mình để BHXH đảm bảo những
khoản chi cần thiết, kịp thời đến NLĐ khi họ gặp phải những rủi ro bất chắc như ốm đau, thai
sản, TNLĐ-BNN... Việc tham gia đóng BHXH cho NLĐ của chủ sử dụng lao động dựa trên
nguyên tắc, quy định của pháp luật về vấn đề này là góp phần vào quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp phát triển hơn, nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất của doanh
nghiệp cũng như nâng cao thu nhập cho NLĐ và góp phần vào phát triển kinh tế.
- Đối với nền kinh tế: Góp phần gắn bó giữa giới chủ và giới thợ từ đó làm cho thị
trường lao động phát triển lành mạnh, bền vững. Đặc biệt là mâu thuẫn vốn có của giới chủ và
giới thợ về cơ bản được giải quyết và đây là tiền đề rất quan trọng giúp cho NLĐ nâng cao
năng suất lao động, phát huy sáng tạo, góp phần làm cho sản xuất ngày càng phát triển. Nhờ có
chính sách, quy định của pháp luật về chi BHXH mà quỹ BHXH được hình thành và tồn tích
lại theo thời gian và bắt đầu những năm 60 của thế kỷ 20 quỹ BHXH ở các nước, đặc biệt là
các nước phát triển đã trở thành một khâu tài chính trung gian vô cùng quan trọng góp phần
đầu tư, phát triển, tăng trưởng kinh tế cho đất nước.
- Đối với xã hội: Hoạt động chi BHXH là một hoạt động dịch vụ, cơ quan BHXH là
một “doanh nghiệp” sản xuất ra những dịch vụ “bảo hiểm” cho NLĐ, một loại dịch vụ mà bất
kỳ ai cũng cần đến. Tuy nhiên, việc chi BHXH phải thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp
luật. Với tư cách là một trong những chính sách xã hội của Nhà nước, pháp luật chi BHXH sẽ
là cơ sở cung cấp bảo hiểm cho NLĐ, hoạt động BHXH sẽ giải quyết những “trục trặc”, “rủi
ro” xảy ra đối với NLĐ góp phần phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của sức lao
động. Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động cá nhân, đồng
thời góp phần tích cực vào nâng cao năng suất lao động xã hội. Với tư cách là quỹ tiền tệ tập
trung, nhằm tác động mạnh đến hệ thống tài chính NSNN, tới hệ thống tín dụng tiền tệ ngân
hàng.
1.2.2.
f1- Đóng góp thuần tuý trợ cấp BHXH
f2- Đóng góp dự phòng
f3- Đóng góp quản lý
Đóng góp thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả các chế độ ngắn hạn và dài hạn. Đối với các
chế độ BHXH ngắn hạn việc đóng và hưởng BHXH xảy ra trong thời gian ngắn (thường là 1
năm) như: ốm đau, thai sản, TNLĐ nhẹ... Vì vậy, số đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh
chi trong năm. Đối với các chế độ BHXH dài hạn như: Hưu trí mất người nuôi dưỡng, TNLĐ
hoặc BNN nặng... quá trình đóng góp và quá trình hưởng tương đối độc lập với nhau và diễn ra
trong khoảng thời gian nhất định. Cho nên, sự công băng giữa đóng góp và hưởng BHXH phải
được dàn trải trong cả thời kỳ dài. Vì thế, ngoài đóng góp thuần tuý phải có đóng góp dự
phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn.
Như vậy, để xác định được mức đóng góp và mức hưởng BHXH phải dựa vào nhiều
yếu tố và nhiều thông tin khác nhau về nguồn lao động, cơ cấu nguồn lao động theo tuổi, giới
tính, ngành nghề... ngoài ra còn phải xác định và dự báo được tuổi thọ BQ của quốc gia; xác
suất ốm đau, tai nạn, tử vong của NLĐ...
I.2.2.2. Nguyên tắc chi bảo hiểm xã hội
Chi BHXH là quá trình phân phối sử dụng các nguồn tài chính đã được tập chung vào
quỹ BHXH nhằm mục đích chi cho các chế độ BHXH. NLĐ tham gia BHXH được hưởng
nhằm mục đích ổn định cuộc sống của họ và gia đình họ khi họ gặp phải rủi ro hoặc sự kiện
bảo hiểm.. .Việc chi các chế độ BHXH được xây dựng riêng cho từng chế độ và mỗi quốc gia
có những cơ sở khác nhau nhưng cơ bản đều theo một khung nhất định. Các hoạt động chi các
chế độ BHXH họ đều dựa vào luật, các văn bản, các quy định của nhà nước, các văn bản do cơ
quan BHXH trung ương hướng dẫn. Đồng thời căn cứ vào đặc điểm kinh tế, nguồn chi và tiền
lương đóng BHXH, điều kiện làm việc, mức độ rủi ro. để xây dựng một hệ thống pháp luật
phù hợp với từng quốc gia.
BHXH là trụ cột chính trong hệ thống ASXH của mỗi quốc gia, là chỗ dựa cho NLĐ
lúc gặp khó khăn. Vậy để thực hiện chi BHXH một cách có hiệu quả cần đạt được mục tiêu chi
đúng, chi đủ, chi an toàn và chi kịp thời đến tận tay đối tượng hưởng. Cần có hoạt động chi
- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền
lương;
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt
buộc vào quỹ hưu trí và tử tuất (thực hiện từ 01/01/2016);
- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật NLĐ Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Người hưởng chế độ phu nhân hoặc phu quân tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước
ngoài quy định tại Khoản 4 Điều 123 Luật BHXH.
- NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc
chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp
(thực hiện từ 01/01/2018).
- Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: cơ quan nhà nước, đơn
vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ
chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã,
hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo
HĐLĐ.
* Đối với BHXH tự nguyện thì người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam
từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc (Khoản 2 Điều 2 Luật
BHXH năm 2014).
I.2.2.4. Nội dung chi BHXH
Công tác chi các chế độ BHXH được tổ chức theo ngành dọc, từ Trung ương đến địa
phương. Tránh tình trạng chống chéo, đảm bảo hiệu quả cao trong công tác chi.
Cơ quan BHXH Trung ương chịu trách nhiệm quản lý chung, cấp và ứng tiền cho đơn
vị cấp dưới để chi cho các đối tượng hưởng. Ban hành các Luật, các thông tư, quyết định giúp
cho công tác chi được thuận tiện hơn.
Cơ quan BHXH tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện trong việc chi, quyết toán các chế độ
BHXH trên địa bàn tỉnh quản lý. Trực tiếp chi và quyết toán các chế độ ốm đau, thai sản, chi
các chế độ BHXH nhận trợ cấp một lần cho NLĐ do BHXH tỉnh quản lý thu BHXH.