Chi BHXH theo pháp luật việt nam từ thực tiễn tỉnh bắc ninh - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYÊN VĂN THẮNG

CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số

: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Thị Thương Huyền

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết luận
nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy
định của Nhà trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN


: Bảo hiểm xã hội

3. BQ

: Bình quân

4. HĐND

: Hội đồng nhân dân

5. NSNN

: Ngân sách Nhà nước

6. NLĐ

: Người lao động

7. TNLĐ-BNN

: Tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp

8. UBND

: Uỷ ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài


chức lợi dụng khe hở của Luật BHXH, sự phức tạp của các thủ tục hành chính.... Điều
đó đòi hỏi phải từng bước đưa công tác thực hiện chi BHXH theo đúng quy định của
pháp luật và yêu cầu của nhân dân.
Vì những lý do trên nên tác giả đã lựa chọn đề tài: “Chi BHXH theo pháp luật
Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” để nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ luật học.
Việc nghiên cứu đề tài này có một ý nghĩa rất quan trọng, cần thiết đối với việc nâng cao
hiệu quả công tác chi BHXH nói riêng và đối với sự phát triển bền vững của chính sách
ASXH nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nội dung pháp luật về BHXH nói chung là một đề tài phổ biến nhưng những
nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật chi BHXH lại chưa có nhiều, đặc biệt là từ khi Luật
BHXH năm 2014 có hiệu lực đến nay. Một số công trình khoa học nghiên cứu về chi
BHXH có thể kể đến như:
- Đề tài khoa học: "Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi các chế độ
BHXH ở Việt Nam" (2010) của Ths. Nguyễn Thị Chính làm chủ nhiệm. Đề tài nghiên
cứu một cách có hệ thống, toàn diện hệ thống tổ chức và hoạt động chi các chế độ
BHXH ở nước ta. Đề tài đã tổng hợp, phân tích có hệ thống về hệ thống tổ chức và hoạt
động chi các chế độ BHXH ở Việt Nam. Qua đó đã có những đánh giá xác đáng về hệ
thống tổ chức chi các chế độ BHXH. Đồng thời, nghiên cứu hoạt động chi các chế độ
BHXH ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2003 đến 2008 về quy trình chi, phương thức chi,
lệ phí chi, cơ sở vật chất phục vụ công tác chi… rút ra kết quả đạt được và một số vấn
đề còn tồn tại. Dựa trên cơ sở phân tích khoa học, đề tài đã đưa ra các giải pháp cụ thể,
có tính khả thi cao nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi các chế độ
BHXH ở Việt Nam, bao gồm: Hoàn thiện hệ thống tổ chức chi; Đổi mới công tác lập kế
hoạch chi; Hoàn thiện phương thức chi; Quản lý chặt chẽ nguồn kinh phí chi; Tăng
cường phương tiện phục vụ công tác chi; Kiện toàn công tác cán bộ; Tăng cường kiểm
tra và thanh tra trong các khâu chi; Quản lý chặt chẽ chi các chế độ BHXH ngắn hạn;
Tăng lệ phí chi và một số giải pháp khác.
- Đề tài khoa học: “Đảm bảo tài chính cho BHXH Việt Nam” (2015) của

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận
pháp luật về chi BHXH và từ thực tiễn thực hiện ở tỉnh Bắc Ninh, để từ đó, đề xuất các
giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

3


- Nhiệm vụ nghiên cứu, từ mục đích nghiên cứu ở trên, luận văn xác định các
nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về chi BHXH;
+ Khái quát thực trạng pháp luật về chi BHXH của Việt Nam và đánh giá thực
trạng thực hiện pháp luật về chi BHXH từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh, chỉ ra những hạn chế,
bất cập và nguyên nhân.
+ Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chi BHXH từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận pháp luật về chi
BHXH của Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về chi BHXH tại tỉnh Bắc Ninh,
cùng với quan điểm và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về chi BHXH nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát thực hiện chính sách chi BHXH trên địa bàn.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn ở quy định của pháp luật về chi
BHXH và thực tế áp dụng pháp luật về chi BHXH trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Các số
liệu minh họa thực tế được lấy từ thực tế áp dụng tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 2013 đến
năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở phương pháp luận, luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các nguyên lý
của chủ nghĩa Mác-Lênin, định hướng của Đảng, Nhà nước về pháp luật chi BHXH của
Việt Nam và tại tỉnh Bắc Ninh. Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu tác giả cũng sử
dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống có độ tin cậy như:


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1. Khái quát chung về chi bảo hiểm xã hội
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của chi bảo hiểm xã hội
1.1.1.1. Khái niệm về chi bảo hiểm xã hội
Chi BHXH không ra đời cùng khái niệm BHXH bởi hình thức sơ khai nhất của
BHXH là những quỹ được hình thành do sự tự nguyện đóng góp của một cộng đồng
người nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, BHXH ngày càng hướng tới
nhiều đối tượng và các chế độ trợ cấp khác nhau. Bởi vậy, mức độ chi BHXH cũng đặt
ra yêu cầu cần được quản lý phù hợp với nguồn quỹ BHXH. Theo đó, có thể hiểu chi
BHXH ra đời là một tất yếu khách quan xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của chi BHXH
như sau:
Thứ nhất, Chi BHXH phải thực hiện trên nguyên tắc đóng, có hưởng, cộng đồng
chia sẻ rủi ro; lấy số đông bù số ít, lấy của người đang làm việc trả cho người nghỉ
hưởng chế độ BHXH; đồng thời có thêm trách nhiệm đóng góp của người sử dụng lao
động và sự bảo hộ của Nhà nước.
Thứ hai, mức chi BHXH phải căn cứ trên mức đóng góp, thời gian đóng góp,
không được cao hơn mức lương tham gia BHXH và thấp nhất phải đảm bảo mức sống
tối thiểu cho NLĐ. Việc quy định mức hưởng phải thấp hơn tiền lương là nguyên tắc bắt
buộc, song không được thấp hơn mức lương tối thiểu ở từng thời kỳ.
Thứ ba, quỹ BHXH dùng để chi BHXH phải tự chủ về tài chính. Đây là nguyên
tắc quan trọng trong chính sách chi BHXH bởi nếu không thực hiện nguyên tắc này, quỹ
BHXH sẽ chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
Thứ tư, việc chi BHXH phải kết hợp hài hòa giữa các lợi ích, các mục tiêu và phù
hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi một quốc gia.
Về mặt ngôn ngữ, “chi BHXH” là một động từ chỉ hành động trả tiền cho những
đối tượng đã tham gia đóng BHXH.
Về mặt kinh tế học, “chi BHXH” là một hoạt động hay một nghiệp vụ tài chính,

giao phó cho cơ quan có thẩm quyền thay mình thực hiện chi BHXH cho các đối tượng
tham gia đóng BHXH khi đáp ứng đủ quy định theo quy định mà Nhà nước đặt ra; chủ
thể đó có thể kể đến là các cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao phó, thay mặt Nhà
nước để thực hiện chi BHXH.
- Về đối tượng của chi BHXH: Có nhiều quan điểm cho rằng đối tượng của

7


BHXH là NLĐ hay chính là đối tượng tham gia BHXH. Tuy nhiên, thực tế thì không
phải như vậy, với quan điểm BHXH chính là sự bù đắp hoặc thay thế một phần hoặc
toàn bộ thu nhập của NLĐ thì đối tượng của BHXH chính là thu nhập của NLĐ. BHXH
không để “bảo hiểm” cho bản thân NLĐ mà chính là “bảo hiểm” cho thu nhập của họ.
NLĐ trong mối quan hệ này không phải là đối tượng được “bảo hiểm” mà chính là đối
tượng được tác động hay nói cách khác là đối tượng được thụ hưởng BHXH.
- Việc chi BHXH bắt nguồn từ mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh
trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và
bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc cả NLĐ và người sử dụng
lao động. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách
do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều
kiện ràng buộc cần thiết [1, tr.19-20-21].
Mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH để được hưởng chi BHXH cũng được
xuất phát trên cơ sở quan hệ lao động và quan hệ quản lý xã hội, cụ thể: Bên tham gia
BHXH: có thể bao gồm NLĐ, người sử dụng lao động và nhà nước và có thể chỉ có
NLĐ và nhà nước. Bên BHXH: thông thường là cơ quan chuyên trách do nhà nước
đứng ra thành lập và bảo trợ, cơ quan này tổ chức hoạt động theo đúng khuôn khổ pháp
luật. Bên được bảo hiểm chính là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc
cần thiết.
- Việc chi BHXH chính là việc thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho
NLĐ tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao

triển và an toàn hơn.
- Tính khách quan phát sinh không đồng đều theo không gian và thời gian:
Trong quá trình lao động sản xuất, NLĐ có thể gặp nhiều biến cố, rủi ro khi đó người sử
dụng lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn không kém như: sản xuất kinh doanh bị
gián đoạn, vấn đề tuyển dụng và hợp đồng lao động luôn được đặt ra để thay thế…Sản
xuất càng phát triển thì rủi ro đối với NLĐ càng nhiều và dẫn đến mối quan hệ chủ thợ
ngày càng gay gắt. Để giải quyết vấn đề này nhà nước đứng ra giải quyết thông qua chi
BHXH. BHXH ra đời, trong đó có hoạt động chi BHXH hoàn toàn mang tính khách
quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước.
- Chi BHXH vừa có tính kinh tế vừa có tính xã hội, vừa có tính nhân đạo nhân
văn: Tính kinh tế thể hiện ở chỗ, muốn có nguồn chi BHXH thì phải có nguồn thu, phải
có quỹ BHXH được sự đóng góp của các bên tham gia. Mức đóng góp của các bên được
tính rất cụ thể dựa trên xác suất rủi ro, thiệt hại của tập hợp người tham gia BHXH. Đối

9


với người sử dụng lao động, việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH cho NLĐ mà họ sử
dụng. Xét dưới góc độ kinh tế họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền cho
NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Với nhà nước, BHXH làm giảm gánh nặng cho
NSNN. Đồng thời quỹ BHXH nhàn dỗi còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế
quốc dân. Và tính kinh tế còn được thể hiện đối với NLĐ tham gia BHXH là có tham
gia đóng góp mới được hưởng trợ cấp. Đồng thời về cơ bản đóng nhiều thì hưởng nhiều,
đóng ít thì hưởng ít. Tính xã hội thể hiển ở chỗ: nhìn chung mọi NLĐ trong xã hội chỉ
thuộc diện hưởng chi BHXH đều là những chủ thể có quyền tham gia BHXH và BHXH
có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi NLĐ (tuy nhiên trong thời kì đầu chỉ áp dụng đối với
công nhân viên chức hưởng lương). BHXH bảo hiểm cho mọi đối tượng lao động trong
tất cả các ngành nghề, các vùng miền, thành phần kinh tế, địa phương… Điều đó thể
hiện tính xã hội rất rộng lớn.
- Mục tiêu của BHXH nói chung và chi BHXH nói riêng chính là nhằm thỏa

Có nhiều yếu tố khoa học tác động đến điều kiện, thời gian và mức hưởng trợ cấp
trong từng chế độ, cũng như khả năng áp dụng bao nhiêu chế độ trong một hệ thống:
như tiền lương, thu nhập của người lao đông, hệ thống tài chính quốc gia… Thời gian
hưởng và mức hưởng trợ cấp BHXH nói chung phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể và
thời gian đóng phí BHXH của NLĐ trên cơ sở tương ứng giữa đóng và hưởng. Đồng
thời khả năng thanh toán còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán của quỹ tài chính
BHXH.
Để hình thành hệ thống chế độ này cần phải dựa trên những cơ sở nhất định như:
cơ sở sinh học, cơ sở môi trường và điều kiện lao động, cơ sở kinh tế xã hội, luật pháp
của từng nước. Sau đây là đặc điểm hệ thống các chế độ:
- Chế độ chăm sóc y tế:
NLĐ là người tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần cho xã hội bởi vậy muốn xã
hội phát triển ổn định, bền vững thì trước hết quan tâm đến sức khỏe cho họ kể cả khi
bình thường hay khi ốm đau, tai nạn. Bởi vậy, tổ chức lao động quốc tế coi đây là chế độ
đầu tiên trong chín chế độ BHXH. Mục đích là để bảo vệ và phục hồi cải thiện sức khỏe
cho NLĐ, từ đó tái sản xuất sức lao động cho họ giúp họ làm việc một cách bình
thường. Đồng thời còn giúp bản thân gia đình họ ứng phó với các nhu cầu phát sinh cá
nhân để đảm bảo cuộc sống.
Chế độ này có đối tượng rất rộng bởi vì không chỉ có NLĐ tham gia BHXH mà
thậm chí cả vợ hoặc chồng con cái họ bởi lẽ nếu những người này được chăm sóc y tế có

11


cuốc sống khỏe mạnh bình thường thì bản thân NLĐ cũng yên tâm, phấn khởi tham gia
sản xuất. Góp phần nâng cao năng suất lao động cá nhân.
Đây là chế độ đặc thù trong 9 chế độ có đối tượng rộng nhưng BHXH sẽ tiến
hành chi trợ cấp theo tất cả những chi phí phát sinh trong suốt thời gian điều trị chăm
sóc những người được bảo vệ. Tuy nhiên để tránh chuộc lợi BHXH người ta quy định
người tham gia BHXH phải có ít thất một thời gian nhất định có đóng BHXH. Đây là

giới thì mức trợ cấp thất nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào những yếu tố sau: quỹ BHXH,
tình hình biến động của thị trường lao động; chế độ tiền lương của quốc gia. Điều kiện
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ. Mức trợ cấp thất nghiệp luôn luôn
nhỏ hơn tiền lương, tiền công trước khi bị thất nghiệp nhưng phải đảm bảo mức sống tối
thiểu cho NLĐ và gia đình họ trong thời gian NLĐ bị thất nghiệp. Thời gian hưởng trợ
cấp thất nghiệp ngắn hay dài phụ thuộc vào thời gian tham gia BHXH của NLĐ trước
đó và tổ chức lao động khuyến cáo thời gian trợ cấp có thể 13-26 tuần trong 01 năm.
Chế độ trợ cấp thất nghiệp cũng được coi là chế độ trợ cấp ngắn hạn, vừa mang tính
hoàn trả, vừa mang tính không hoàn trả. Hiện nay, Bảo hiểm thất nghiệp được triển khai
dưới hai dạng chủ yếu đó là: triển khai độc lập với BHXH hoặc coi đó là một chế độ của
BHXH.
- Chế độ trợ cấp TNLĐ-BNN:
Đây là một trong những chế độ được triển khai sớm nhất trên thế giới cũng như ở
Việt Nam bởi vì nó đáp ứng nhu cầu thực tế trước mắt của mọi NLĐ, bởi lẽ đây là loại
rủi ro có thể phát sinh bất cứ lúc nào, ở đâu. Hiện nay, trên thế giới có 178 nước triển
khai chế độ này. Mục đích là góp phần đảm bảo thu nhập cho NLĐ, gia đình họ khi
không may gặp TNLĐ…, phục hồi khả năng lao động cho NLĐ từ đó giúp họ sớm quay
lại thị trường lao động, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cả NLĐ và người sử dụng
lao động, trách nhiệm này thực hiện cả khi NLĐ còn khỏe mạnh lẫn cả khi bị tan nạn lao
động và BNN. Đây là chế độ vừa mang tính ngắn hạn, vừa mang tính dài hạn nên việc
quản lý rất khó khăn nó liên quan đến ngành nghề, giới tính, thời điểm xảy ra tai nạn,
nơi sảy ra tai nạn… Bởi vậy khi luật hóa chế độ này phải hết sức cụ thể và sát với thực
tiễn [ 16, tr 31-32].
- Trợ cấp hưu trí:
Trong hệ thống chín chế độ thì chế độ trợ cấp hưu trí là một chế độ quan trọng
nhất. Vì chế độ này liên quan đến tất cả NLĐ trong xã hội từ khi bước vào độ tuổi lao
động đến khi người ta chết. Đặc biệt là mức đóng và mức hưởng của chế độ này luôn

13


trợ cấp. Cụ thể là bổ sung vào tiền lương, tiền công thậm trí là bằng hiện vật thiết yếu.

14


Tuy nhiên phần trợ cấp này là bao nhiêu và hình thức chi như thế nào hoàn toàn phụ
thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước.
- Trợ cấp thai sản: So với nam giới thì lao động nữ mang một số đặc điểm là thể
chất tình trạng sức khỏe và tâm sinh lý có những đặc điểm khác hẳn với nam giới và
thông thường là kém hơn nam giới. Bởi vậy, nó liên quan đến công việc mà nữ giới đảm
nhiệm. Những công việc này ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng làm vợ, làm mẹ của lao
động nữ. Nên nó chịu ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách BHXH. Vậy khi thiết kế chính
sách BHXH cần phải chú ý đến chính sách sử dụng lao động nữ và chính sách đãi ngộ
đối với họ. Trong hệ thống chính sách BHXH, lao động nữ không chỉ là đối tượng tham
gia BHXH được hưởng trợ cấp mà họ còn là đối tượng nghiêm cứu để hoàn thành toàn
bộ hệ thống BHXH nói chung. Thực hiện tốt chế độ trợ cấp thai sản sẽ bù đắp thay thế
được nguồn thu nhập cho lao động nữ khi họ sinh đẻ và nuôi con nhỏ. Tái sản xuất cho
lao động nữ và những thế hệ lao động kế tiếp, góp phần thực hiện quyền bình đẳng nam
nữ và quyền phụ nữ nói chung.
- Trợ cấp tàn tật: Thực hiện chế độ này nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho
NLĐ và gia đình họ khi NLĐ không may bị tàn tật, từ đó góp phần đảm bảo ASXH,
khuyến khích NLĐ hăng hái tham gia BHXH. Đây cũng là một chế độ thể hiện tính
nhân đạo nhất. Chế độ này vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả. Tuy
nhiên, đây cũng là chế độ rất dễ bị lạm dụng trong khâu giám định y khoa.
- Trợ cấp tử tuất: Đây là một chế độ bảo hiểm nhân đạo nhất trong tổng số 09
chế độ BHXH cho nên hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện, thực hiện chế độ
này nhằm góp phần khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống cho gia đình NLĐ không
may bị chết. Khuyến khích những người còn sống tham gia BHXH và góp phần đảm
bảo ASXH cho đất nước. Chế độ này thường được các nước chia làm 02 phần: Một là
trợ cấp mai táng, chôn cất cho NLĐ bị chết. Hai là trợ cấp dài hạn cho vợ hoặc chồng,

Hai là, pháp luật về chi BHXH rất đặc biệt ở chỗ là quy định về những ưu tiên
nhất định về lợi ích. Pháp luật về chi BHXH đặt ra những điều kiện nhất định để chủ thể
tham gia BHXH được hưởng những lợi ích nhất định, tạo sự kích thích cho chủ thể tham
gia BHXH tập trung vào những điều kiện đó để đạt được những lợi ích đó.
Ba là, mục đích của pháp luật về chi BHXH là thu hút tham gia đóng BHXH
của người sử dụng lao động, người lao động…. mang lại nguồn ngân sách cho nhà nước
và “chia sẻ” rủi ro giữa những người tham gia BHXH. Bởi chi BHXH là khâu hết sức
quan trọng trong quy trình thực hiện chế độ, chính sách về BHXH, đặc biệt quan trọng,
kích thích các đối tượng tham gia đóng BHXH, tạo nguồn quỹ BHXH. Bên cạnh đó, việc

16


chi BHXH cũng dễ dẫn đến chi sai mục đích từ cán bộ tại cơ quan bảo hiểm nên việc
điều chỉnh chi BHXH thông qua hệ thống pháp luật để thu hút các đối tượng tham gia
đóng BHXH là việc hết sức quan trọng.
1.2.1.3. Vai trò của pháp luật về chi bảo hiểm xã hội
Pháp luật về chi BHXH có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của
mỗi quốc gia, vai trò đó được thể hiện qua các mặt sau:
- Đối với NLĐ: Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn
thiện quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa thì những “rủi ro” như ốm đau, TNLĐ –
BNN, thai sản, mất việc làm… lại diễn ra một cách thường xuyên và ngày càng phổ
biến hơn và phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây ra những khó khăn cho
NLĐ cả về vật chất lẫn tinh thần, ảnh hưởng không tốt cho cả xã hội. Với tư cách là một
trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, pháp luật chi BHXH sẽ góp phần
giúp cho cá nhân NLĐ nắm bắt, vận dụng, áp dụng các quy định của chi BHXH nhằm
tránh gặp phải rủi ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những
điều kiện lao động thuận lợi… giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, tạo cho họ
một niềm tin vào tương lai. Từ đó, góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao
động cũng như chất lượng công việc cho doanh nghiệp nói riêng và cho toàn xã hội nói

chính trung gian vô cùng quan trọng góp phần đầu tư, phát triển, tăng trưởng kinh tế cho
đất nước.
- Đối với xã hội: Hoạt động chi BHXH là một hoạt động dịch vụ, cơ quan BHXH
là một “doanh nghiệp” sản xuất ra những dịch vụ “bảo hiểm” cho NLĐ, một loại dịch vụ
mà bất kỳ ai cũng cần đến. Tuy nhiên, việc chi BHXH phải thực hiện trên cơ sở các quy
định của pháp luật. Với tư cách là một trong những chính sách xã hội của Nhà
nước, pháp luật chi BHXH sẽ là cơ sở cung cấp bảo hiểm cho NLĐ, hoạt động BHXH
sẽ giải quyết những “trục trặc”, “rủi ro” xảy ra đối với NLĐ góp phần phục hồi năng lực
làm việc, khả năng sáng tạo của sức lao động. Sự góp phần này tác động trực tiếp đến
việc nâng cao năng suất lao động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực vào nâng
cao năng suất lao động xã hội. Với tư cách là quỹ tiền tệ tập trung, nhằm tác động mạnh
đến hệ thống tài chính NSNN, tới hệ thống tín dụng tiền tệ ngân hàng.
1.2.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật chi bảo hiểm xã hội
Nhằm điều chỉnh, mang lại hiệu quả trong quá trình quản lý, áp dụng công tác
BHXH nói chung và chi BHXH nói riêng, pháp luật về chi BHXH quy định nhiều lĩnh
vực khác nhau như nguồn chi BHXH, nguyên tắc chi BHXH, đối tượng chi BHXH,

18


phương thức chi BHXH, nội dung chi BHXH, công tác thanh tra, kiểm tra chi BHXH;
cụ thể:
1.2.2.1. Quy định nguồn chi bảo hiểm xã hội
Nguồn chi BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng; nó vừa
mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội và là cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho
toàn hệ thống BHXH tồn tại và phát triển. Nguồn chi BHXH hình thành và hoạt động đã
tạo ra khả năng giải quyết những sự kiện, những “rủi ro xã hội” của tất cả những người
tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc dàn trải “rủi ro” được thực hiện theo cả
hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người
sử dụng lao động, tiết kiệm chi phí cho cả NSNN và ngân sách gia đình.

Như vậy, để xác định được mức đóng góp và mức hưởng BHXH phải dựa vào
nhiều yếu tố và nhiều thông tin khác nhau về nguồn lao động, cơ cấu nguồn lao động
theo tuổi, giới tính, ngành nghề... ngoài ra còn phải xác định và dự báo được tuổi thọ BQ
của quốc gia; xác suất ốm đau, tai nạn, tử vong của NLĐ...
1.2.2.2. Nguyên tắc chi bảo hiểm xã hội
Chi BHXH là quá trình phân phối sử dụng các nguồn tài chính đã được tập chung
vào quỹ BHXH nhằm mục đích chi cho các chế độ BHXH. NLĐ tham gia BHXH được
hưởng nhằm mục đích ổn định cuộc sống của họ và gia đình họ khi họ gặp phải rủi ro
hoặc sự kiện bảo hiểm…Việc chi các chế độ BHXH được xây dựng riêng cho từng chế
độ và mỗi quốc gia có những cơ sở khác nhau nhưng cơ bản đều theo một khung nhất
định. Các hoạt động chi các chế độ BHXH họ đều dựa vào luật, các văn bản, các quy
định của nhà nước, các văn bản do cơ quan BHXH trung ương hướng dẫn. Đồng thời
căn cứ vào đặc điểm kinh tế, nguồn chi và tiền lương đóng BHXH, điều kiện làm việc,
mức độ rủi ro… để xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp với từng quốc gia.
BHXH là trụ cột chính trong hệ thống ASXH của mỗi quốc gia, là chỗ dựa cho
NLĐ lúc gặp khó khăn. Vậy để thực hiện chi BHXH một cách có hiệu quả cần đạt được
mục tiêu chi đúng, chi đủ, chi an toàn và chi kịp thời đến tận tay đối tượng hưởng. Cần
có hoạt động chi một cách có tổ chức theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, chi
BHXH phải theo nguyên tắc sau:
+ Chi đúng là chi đúng đối tượng, đúng chế độ, đúng thời hạn… đảm bảo lợi ích
cho NLĐ.
+ Chi đủ: là chi đủ khoản tiền trợ cấp mà đối tượng đáng được hưởng.
+ Chi an toàn: là đảm bảo khoản tiền từ cơ quan BHXH đến tay NLĐ không bị
thất thoát.

20


+ Chi kịp thời: là chi đúng thời điểm NLĐ cần sự trợ giúp của BHXH. Nó giúp
NLĐ yên tâm hơn vào cơ quan BHXH nói riêng và pháp luật của nhà nước nói chung.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status