VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ NGỌC ANH
THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM MINH TUYÊN
Hà Nội, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các nội
dung nghiên cứu, kết quả trong Luận văn này chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn đúng theo quy định và được ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Tác giả luận văn
Trần Thị Ngọc Anh
Bộ luật tố tụng hình sự
HĐND:
Hội đồng nhân dân
HTHP:
Hệ thống hình phạt
THAHS:
Thi hành án hình sự
UBND:
Ủy ban nhân dân
KTTD:
Không tước tự do
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong luật hình sự, hình phạt được coi là phương tiện có vai trò quan trọng
trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nhằm bảo đảm và phát huy tính
dân chủ trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Với tính chất
là nguyên tắc cơ bản của luật hình sự thì nguyên tắc nhân đạo luôn được Nhà nước ta
đặc biệt quan tâm và thể hiện xuyên suốt trong các quy định của Bộ luật hình sự
quy định đầy đủ, kịp thời, bảo đảm tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm...... Tất
cả những tồn tại và hạn chế kể trên đã góp phần làm giảm hiệu quả thi hành hình phạt
không tước quyền tự do trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng và ở Việt Nam nói
chung.
Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn để từ
đó làm sáng tỏ về mặt khoa học, đưa ra phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả
thi hành hình phạt không tước quyền tự do là cần thiết. Điều đó không chỉ có ý nghĩa
lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do luận chứng cho sự cần thiết
để tôi lựa chọn đề tài “Thi hành các hình phạt không tước tự do theo pháp luật Việt
Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang”. Trong đề tài tôi lựa chọn chủ yếu nghiên cứu về
các hình phạt: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ trong các hình phạt chính
được quy định tại điểm a, điểm b, điểm c, Khoản 1, Điều 32 Bộ Luật hình sự năm
2015 làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến thi hành các hình phạt không tước tự do, đã có nhiều công trình
khoa học nghiên cứu và được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau;
Trước hết, hình phạt đã được nhiều chuyên gia ở nước ngoài nghiên cứu như:
Punishment and Responsibility, Oxford, 1968; Cragg, Wesley, The Practice of
Punishment: Towards a Theory of Restorative Justice, New York, Routledge, 1992;
M. Bellmore, H.J.Greenberg and J.J.Jarvis, Generauzed Penalty - function concepts
in Mathematical optization, Georgia Institute of Technology, Atlanta, Georgia
Received June 17, 1968; v.v… Còn ở Việt Nam, khoa học luật hình sự là một trong
những ngành khoa học pháp lý phát triển nhất so với các ngành khoa học pháp lý
khác, do đó xét riêng về hình phạt, cho thấy có nhiều công trình nghiên tiêu biểu ở
các cấp độ khác nhau. Cấp độ luận văn thạc sĩ thực hiện ở Viện Nhà nước và Pháp
luật (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) có các đề tài của các tác giả Nguyễn Văn
Vĩnh, Hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Hà Nội, 1996; Vũ Lai Bằng,
Hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam, Hà Nội, 1997; Đặng Đức Thạo, Hệ thống
hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Hà Nội, 2001; v.v… Ở Khoa Luật, Đại học
chí Nhà nước và pháp luật, số 6/2004 và Về hình phạt tiền trong luật hình sự một số
nước trên thế giới, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2003; TS. Phạm Văn Beo,
Một số vấn đề về khái niệm hình phạt, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2005;
v.v... Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta đã có một số công
trình nghiên cứu cơ bản và trực diện về hình phạt chính không tước tự do và hình
3
phạt bổ sung nhưng vẫn chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu đúng mức, với tư
cách là những hình phạt chính không tước tự do quan trọng trong hệ thống hình phạt
của luật hình sự Việt Nam. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà nước ta đang
trong tiến trình hội nhập sâu rộng trên nhiều lĩnh vực trong khu vực cũng như trên
toàn thế giới. Do vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài "Thi hành các hình phạt không tước
tự do theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang " là đề tài luận văn của
mình để tiếp nối những nghiên cứu trên, nhằm làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận và thực
tiễn của vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật
về các hình phạt chính không tước tự do (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ)
dưới khía cạnh lập pháp hình sự và áp dụng trong thực tiễn, từ đó đề ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện các quy định về hình phạt không tước tự do trong luật hình sự
Việt Nam, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về hình
phạt này trong thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thi hành án hình sự, các
hình phạt chính không tước tự do là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ: Khái
niệm, đặc điểm, chủ thể, nội dung.....;
quyết số 49 – NQ/TW ngày 26/5/2005 của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương
pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và
tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy
nạp; phương pháp thống kê, để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn
đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trên cơ sở tổng hợp các quan điểm khoa học về hình phạt, cũng như về các
hình phạt không tước tự do để xây dựng nên khái niệm các hình phạt chính không
tước tự do (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ), bảo đảm tính chính xác, khoa
5
học, đồng thời chỉ ra các đặc điểm cơ bản của các hình phạt chính không tước tự do.
Bên cạnh đó việc nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về thực tiễn thi hành
các hình phạt không tước tự do trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cũng chỉ ra các hạn chế,
tồn tại trong thi hành các hình phạt không tước tự do cũng như những nguyên nhân
của những tồn tại, hạn chế đó. Trên cơ sở này, luận văn đề xuất các phương hướng,
giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt
chính không tước tự do trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách
tư pháp hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật thi hành các hình phạt không
tước tự do.
Chương 2: Thực trạng thi hành hình phạt không tước tự do trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang và một số tồn tại vướng mắc.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thi hành các hình
Các hình phạt nói chung và các hình phạt chính không tước tự do nói riêng
(cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ) có vai trò quan trọng không chỉ bảo đảm
nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt mà còn thể hiện
được rõ nguyên tắc nhân đạo của Luật Hình sự. Hoạt động thi hành án hình sự đối
với các hình phạt không tước tự do bên cạnh những đặc điểm chung còn những đặc
7
thù riêng biệt. Sự khác biệt này xuất phát từ đặc thù của từng loại hình phạt và mục
đích, đối tượng áp dụng. Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội, họ được cải
tạo, giáo dục, thi hành án trong môi trường sống và hoạt động với các công dân bình
thường khác. Tuy nhiên, họ vẫn phải chịu sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính
quyền địa phương nơi họ làm việc hoặc sinh sống. Môi trường không giam giữ sẽ có
những đặc thù riêng và mỗi hình phạt không tước tự do lại có thêm những đặc thù
riêng. Hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của thi hành án hình
sự, cũng như bản chất của thi hành các hình phạt không tước tự do. Có quan điểm
cho rằng thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử [8,tr.8]. Có quan điểm
cho rằng, thi hành các hình phạt không tước tự do là một giai đoạn của quá trình tố
tụng và do vậy được điều chỉnh bằng các quy phạm của luật tố tụng hình sự. Nhưng
cũng có ý kiến cho rằng, thi hành các hình phạt không tước tự do là một hoạt động
hành chính – tư pháp hình sự, có những nét đặc thù riêng khác với hoạt động tố tụng
hình sự. Một số khác thì coi thi hành các hình phạt không tước tự do như là luật hình
sự kéo dài. Việc xác định thi hành các hình phạt không tước tự do là một giai đoạn tố
tụng, luật hình sự kéo dài hay là hoạt động hành chính - tư pháp có ý nghĩa quan trọng
để làm sáng tỏ bản chất thi hành án hình sự, nói chung và thi hành các hình phạt
không tước tự do nói riêng, mà xác định bản chất của thi hành các hình phạt không
tước tự do là một trong những vấn đề quan trọng của thi hành các hình phạt không
tước tự do. Bởi lẽ, xác định đúng bản chất thi hành các hình phạt không tước tự do
có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện, đặc biệt là tạo ra cơ chế quản lý, mô
chính. Tuy nhiên, đây là hoạt động điều hành và chấp hành để thực hiện bản án, quyết
định của Tòa án, tức là một nội dung có tính chất tư pháp;
Hai là, với tính chất là một hoạt động chấp hành, cho dù căn cứ để thi hành
các hình phạt không tước tự do là các bản án và quyết định của Tòa án, nhưng quá
trình thi hành các hình phạt không tước tự do được thực hiện với những hoạt động,
biện pháp, cách thức không mang tính tố tụng, nghĩa là không thuần túy là luật hình
thức, mà ở đây, có thể thấy sự kết hợp giữa luật nội dung với luật hình thức;
Ba là, trong quá trình thi hành, các cơ quan thi hành các hình phạt không tước
tự do tác động trực tiếp tới đối tượng phải thi hành các bản án không tước tự do để
họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã
được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án; giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp
luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, của Nhà nước và xã hội, giáo dục họ trở thành
người công dân có ích với xã hội. Có thể nói đây là phương pháp thuyết phục giáo
dục và mệnh lệnh hành chính;
9
Bốn là, việc thi hành các hình phạt không tước tự do, như cải tạo không giam
giữ, phạt tiền, cảnh cáo, được giao cho cơ quan thi hành án dân sự hay cơ quan, tổ
chức, chính quyền địa phương thực hiện theo thủ tục quản lý hành chính. Như vậy,
có thể nói trong quá trình thi hành án hình sự, pháp luật được áp dụng chủ yếu không
phải là pháp luật tố tụng, mà là các quy định pháp luật về hành chính – tư pháp;
Năm là, thi hành các hình phạt không tước tự do trước hết là hoạt động của cơ
quan nhà nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, quá trình xã hội hóa
hoạt động thi hành các hình phạt không tước tự do cũng đang được tiến hành với
nhiều triển vọng khả quan. Đây là điểm khác biệt so với hoạt động tố tụng, hoàn toàn
mang tính quyền lực tư pháp chặt chẽ.
Tóm lại, thi hành các hình phạt không tước tự do tuy có quan hệ chặt chẽ với
các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng vẫn là một hoạt động có tính đặc thù, và có mục
tước tự do chính là những tư tưởng, quan điểm, nguyên lý có tính chỉ đạo cho việc tổ
chức và hoạt động thi hành án hình sự trong khi thực hiện các bản án, quyết định hình
sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với các hình phạt không tước tự do trên thực
tế; giáo dục, cải tạo người bị kết án, phòng ngừa để họ không phạm tội mới, tạo điều
kiện để họ tái hòa nhập cộng đồng và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu
tranh phòng, chống tội phạm. Do đó hệ thống các nguyên tắc tổ chức và hoạt động thi
hành án hình phạt không tước tự do ở Việt Nam hiện nay vừa phải thể hiện bản chất
của hoạt động thi hành hình phạt không tước tự do ở nước ta, vừa phải tính đến hướng
phát triển xã hội ta trong những năm tới dưới tác động của cải cách tư pháp và cải cách
hành chính, vừa phải phản ánh tính đặc thù của thi hành hình phạt không tước tự do
trong những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội ở giai đoạn hiện nay.
Tại Điều 4 Luật thi hành án hình sự đã quy định tám nguyên tắc cơ bản là tư
tưởng chỉ đạo, thể hiện xuyên suốt trong các quy định về pháp luật thi hành án hình
phạt không tước tự do cũng như trong hoạt động thi hành án hình phạt không tước tự
do, bao gồm:
1) Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân: Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản đối
với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta hiện nay, nguyên tắc này cũng được
ghi nhận tại Điều 8 Hiến pháp năm 2013. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân là yêu cầu hàng
đầu trong tổ chức và hoạt động thi hành án. Trong việc thi hành các hình phạt không
tước tự do, nội dung chủ yếu của nguyên tắc đó là việc thi hành các hình phạt này
hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật. Các cơ quan thi hành các hình phạt không
tước tự do, cá nhân có thẩm quyền trong thi hành các hình phạt không tước tự do có
11
trách nhiệm tuân thủ theo đúng Hiến pháp, pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của người bị kết án. Để đảm bảo nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật,
- Mọi hoạt động trong lĩnh vực thi hành án hình sự nói chung và trong hoạt động
thi hành các hình phạt không tước tự do nói riêng đều phảo bảo đảm lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Mọi hành vi xâm phạm bất
hợp pháp đến các quyền và lợi ích này đều là trái pháp luật và phải được xử lý nghiêm
minh.
Từ những phân tích trên có thể thấy nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật,
bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hiện
đang đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với công tác xây dựng, hoàn thiện và thực thi
pháp luật thi hành hình phạt không tước tự do ở nước ta hiện nay. Cần sớm hoàn thiện
các văn bản quy phạm pháp luật để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xác lập và
nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành hình phạt không tước tự do. Ngoài ra, cũng cần
tổ chức hệ thống các cơ quan tư pháp hoạt động theo cơ chế kết hợp nguyên tắc tập
trung thống nhất và phát huy vai trò tích cực, chủ động của chính quyền địa phương
và của ủy ban Mặt trận và các đoàn thể nhân dân địa phương.
2) Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân
tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh: Nhiệm vụ trọng tâm của thi hành án hình sự
nói chung và thi hành các hình phạt không tước tự do nói riêng là bảo đảm thi hành
đúng đắn bản án, quyết định có hiệu lực. Nhiệm vụ này gắn liền với mục tiêu lớn nhất
của tố tụng hình sự là làm sáng tỏ sự thật vụ án, xét xử đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật. Việc thi hành đúng đắn bản án, quyết định có hiệu lực là cơ sở để thực hiện
các nhiệm vụ khác của thi hành các hình phạt không tước tự do: giáo dục, răn đe
người bị kết án và giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, ý thức tham gia phòng, chống
tội phạm của mọi công dân. Như vậy thi hành đúng đắn bản án, quyết định có hiệu
lực là yêu cầu khách quan.
Để bản án, quyết định có hiệu lực được thi hành đúng đắn đòi hỏi các cơ quan,
tổ chức, cá nhân phải tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định đó.
Theo tinh thần của nguyên tắc này, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong
việc thi hành bản án, quyết định có hiệu lực cần phải xác định rõ nhiệm vụ của mình
4) Kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện
pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất và mức độ phạm tội, độ tuổi, giới tính,
trình độ vă hóa và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hàn h án: Để đạt
được mục đích của hình phạt là không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục cải tạo
người phạm tội, nguyên tắc kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế được thể hiện
trong các quy định của pháp luật thi hành các hình phạt không tước tự do cũng như
trong thực tiễn thi hành các hình phạt này. Như vậy cần phải quy định và áp dụng các
14
biện pháp, hình thức giáo dục, cải tạo thích hợp. Điều quan trọng là giúp cho người
bị kết án nhận thức được hành vi sai trái của mình, thấy được hậu quả mà họ đã gây
ra cho xã hội, gia đình và bản thân, từ đó có suy nghĩ, hành động đúng về sau.
Đối với các hình phạt không tước tự do, sự tự nguyện thi hành án là một trong
những yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho hoạt động thi hành án được diễn ra thuận
lợi, có hiệu quả, tránh được những chi phí không cần thiết. Do vậy, các quy định
khuyến khích trong pháp luật thi hành án là cần thiết để người có nghĩa vụ thi hành
án tự nguyện thực hiện những nghĩa vụ mà bản án, quyết định của Tòa án yêu cầu và
tạo ra thủ tục cần thiết để họ thực hiện sự tự nguyện đó. Việc áp dụng các biện pháp
cưỡng chế chỉ khi người có nghĩa vụ thi hành án không tự nguyện và việc áp dụng
biện pháp cưỡng chế là thực sự cần thiết để hoạt động thi hành án đạt được mục đích
đề ra với tính chất là biện pháp cuối cùng để bảo đảm hiệu lực, tính nghiêm minh của
pháp luật và của bản án được tuyên nhân danh nhà nước. Việc vận dụng nguyên tắc
kết hợp giáo dục,cải tạo với cưỡng chế trong tổ chức và thi hành các hình phạt không
tước tự do đòi hỏi phải tìm ra sự kết hợp đúng đắn. Mối quan hệ này cần phải được
xây dựng trên cơ sở nhận thức về mức độ, liều lượng khác nhau của sự kết hợp các
biện pháp giáo dục, cải tạo, thuyết phục và các biện pháp cưỡng chế đối với việc thi
hành từng loại án khác nhau cũng như đối với từng trường hợp người bị kết án khác
nhau. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, tinh thần của nguyên tắc trên đòi hỏi phảo
bồi thường thiệt hại của người chấp hành án. Những hình thức động viên, khen thưởng
phù hợp và kịp thời là sự thể hiện tập trung nhất của sự khuyến khích này.
7) Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật
trong hoạt động thi hành hình phạt không tước tự do: Để bảo đảm pháp chế cũng như
quyền, lợi ích của mọi cá nhân, tổ chức, mọi hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt
động thi hành hình phạt không tước tự do cần bị xử lý nghiêm minh. Nội dung cơ bản
của nguyên tắc này là quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp
luật trong hoạt động thi hành hình phạt không tước tự do phải được ghi nhận trong
luật vào bảo đảm trong thực tiễn. Thể hiện tinh thần nguyên tắc này, Luật thi hành án
hình sự đã quy định rõ nhiều nội dung liên quan đến quyền khiếu nại, tố cáo trong thi
hành án hình sự. Cùng với những quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đó,
Luật thi hành án hình sự cũng có những quy định khá cụ thể, rõ ràng về tố cáo và giải
quyết tố cáo trong thi hành án hình sự như quy định quyền tố cáo trong thi hành án
hình sự là quyền của con người chấp hành án và mọi công dân; quyền và nghĩa vụ
của người tố cáo và người bị tố cáo….
16
8) Bảo đảm sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình vào việc giáo
dục cải tạo người chấp hành án: Thi hành các hình phạt không tước tự do là hoạt
động hành chính - tư pháp phức tạp mà hiệu quả của nó không chỉ phụ thuộc nhiều
vào sự nỗ lực của các cơ quan thi hành án chuyên trách mà còn phụ thuộc vào sự
tham gia của chính quyền địa phương, của các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức
xã hội và của mọi công dân. Do vậy, bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan thi hành
án với các cấp chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội
và mọi công dân trong thi hành án phải được coi là một trong những nguyên tắc quan
trọng của hoạt động thi hành án hình sự và cần phải được vận dụng thực hiện nghiêm
túc trong thực tiễn.
Trong hoạt động thi hành án hình sự, mối quan hệ phối hợp giữa ba cơ quan: Cơ
được nhiệm vụ của mình. Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo những việc làm trái
pháp luật của các cơ quan thi hành án. Các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét và
giải quyết nhanh chóng các khiếu nại, tố cáo và có biện pháp khắc phục.
Như vậy, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước khác, của các tổ chức xã hội và
công dân với các cơ quan thi hành án là một trong những điều kiện bảo đảm cho hoạt
động thi hành án có hiệu quả. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của Cơ quan thi hành
án phụ thuộc nhiều vào mức độ phối kết hợp giữa các cơ quan thi hành án với nhau
và với các cơ quan, tổ chức khác [67, tr. 63-66].
1.2. Pháp luật về thi hành hình phạt không tước quyền tự do
1.2.1. Thi hành hình phạt cảnh cáo
Cảnh cáo là loại hình phạt nhẹ nhất trong các hình phạt chính không tước tự do,
không có khả năng đưa lại những hạn chế liên quan đến quyền và lợi ích thân thể hay
tài sản của người phạm tội. Nhưng hình phạt cảnh cáo cũng thể hiện sự khiển trách
công khai của Tòa án đối với người phạm tội. Về điều kiện áp dụng hình phạt cảnh
cáo được quy định cụ thể tại Điều 34 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài hai điều kiện
trên, luật không quy định thêm điều kiện nào khác nhưng khi áp dụng hình phạt cảnh
cáo với người phạm tội. Do đó, Toà án phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và
tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hình phạt cảnh cáo ngoài việc thể hiện nguyên tắc
nhân đạo của pháp luật thi hành án hình sự đó là không cách ly người phạm tội ra
khỏi xã hội còn thể hiện tính răn đe, trừng trị của pháp luật đối với người phạm tội.
Tuy nhiên, khái niệm "hình phạt cảnh cáo" cũng chưa được Bộ luật hình sự hiện hành
làm rõ.
18
Thi hành hình phạt cảnh cáo là việc Tòa án thi hành bản án tuyên phạt cảnh cáo
đối với người bị kết án. Do đặc thù của hình phạt cảnh cáo là biện pháp công khai lên
án của Nhà nước đối với người phạm tội nên cơ chế thi hành hình phạt này có phần
1.3.2. Thi hành hình phạt tiền.
Luật thi hành án hình sự hiện hành năm 2010 không có một quy định cụ thể nào
về việc thi hành hình phạt tiền mà trên thực tế Điều 267 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 ghi nhận quyết định đưa bản án phạt tiền hoặc tịch thu tài sản ra thi hành phải
được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, chấp hành viên, người bị kết án và chính quyền
xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú cơ quan thi hành án dân sự thi hành
hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự trong vụ án hình sự tuy nhiên Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015 không có Điều luật quy định về việc thi hành từng hình
phạt cụ thể như trước. Như vậy hình phạt tiền sẽ được thi hành theo trình tự thủ tục
của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với bản án có hình phạt
tiền (Điều 36 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014). Chín h
quyền địa phương hoặc các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giúp chấp hành viên trong
việc thi hành án. Trong trường hợp cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành
án thì cơ quan Công an và các cơ quan hữu quan khác có nhiệm vụ phối hợp.
Trong thực tiễn, việc phối hợp thi hành hình phạt tiền giữa các cơ quan, tổ chức
có nhiệm vụ thi hành án còn nhiều khó khăn, bất cập, đặc biệt là việc thuyết phục,
giáo dục để người bị kết án tự nguyện thi hành. Công tác thi hành án bị phân tán ở
nhiều cơ quan chức năng khác nhau, làm cho công tác quản lý Nhà nước về thi hành
án không tập trung; hiệu lực củac ác bản án, quyết định của Tòa án tác dụng trong
thực tế không cao, do đó làm hạn chế đến hiệu quả của công tác thi hành án và tính
nghiêm minh của hình phạt. Đồng thời pháp luật thi hành án hình sự cũng chưa quy
định những biện pháp cưỡng chế thích đáng khi người bị kết án cố tình không thi
hành án, hoặc nếu có quy định các biện pháp cưỡng chế nhưng lại thiếu tính khả thi,
không gắn liền với thực tiễn, chưa có cơ chế thực thi rõ ràng, nghiêm khắc đủ sức để
các đối tượng tự giác thực thi hình phạt.
Miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí là những trường hợp
người phải thi hành các khoản tiền này theo bản án, quyết định của Toà án, nhưng có
đủ các điều kiện do pháp luật quy định nên được Toà án có thẩm quyền quyết định
+ Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ
trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý
do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh
kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra
mà không thể chấp hành được số tiền phạt cònlại.
21