CURRICULUM ON INTELLECTUAL PROPERTY
Professor Michael Blakeney
Queen Mary Intellectual Property Research Institute
University of London
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Giáo sư Michael Blakeney
Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary
Đại học London Provided and translated by
the EC-ASEAN Intellectual Property Rights Co-operation Programme (ECAP II) Tài liệu này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II)
dịch và cung cấp
Cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu tại nước Anh vào thế k
ỷ 18 đã chứng kiến sự phát
triển của nhãn hiệu hiện đại. Nhu cầu phát triển này phát sinh do kết quả của những thay
đổi to lớn trong quá trình sản xuất và phân phối thời kỳ đó. Việc mất đi quan hệ cá nhân
giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, thông qua sự phát triển của nền sản xuất ở quy mô
lớn trong các nhà máy được đặt tách ra khỏi các thị trường mà hàng hóa được bán đã
dẫn đế
n sự cần thiết phải có sự cải cách về nhãn hiệu cho biểu tượng của sự tín nhiệm và
danh tiếng của nhà sản xuất. Nhiều nhãn hiệu nổi tiếng xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 và
đầu thế kỷ 20. Ví dụ, nhãn hiệu "Sunlight” của W.H. Lever, có lẽ là nhãn hiệu đầu tiên
sử dụng các kỹ thuật tiếp thị hiện đại liên quan đến sản phẩm tiêu dùng, được xây dựng
vào giữ
a thế kỷ thứ 19. Các nhãn hiệu nổi tiếng khác cũng xuất hiện trong thời kỳ này là
"Singer" (1851), "Vaseline" (1878), "Coca Cola" (1886), "Kodak" (1888), và
"Kellogg's" (1915).
Việc sử dụng nhãn hiệu trong quá trình tiếp thị hàng hóa không chỉ quan trọng đối với
nền kinh tế công nghiệp nội địa, mà còn có ý nghĩa to lớn trong thương mại quốc tế. Rõ
ràng là nhu cầu và hoạt động của các thương nhân quốc tế là động lực để áp dụng các
chế độ pháp lý, cả trong nội
địa và quốc tế, để điều chỉnh nhãn hiệu. Các nhu cầu của
thương mại quốc tế dẫn tới sự hình thành, bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, các hiệp ước và
công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ khác nhau.
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
3
dạng hàng hóa của một thương gia cụ thể. Do vậy, ở thị trường nông sản, nơi các sản
phẩm có xu hướng cùng loại đ
ã đạt được một số thành công trong việc tiếp thị chuối
"Chiquita" và cam "Jaffa". Cuba đã đạt được thành công với nhãn hiệu "Bacardi" cho
rượu rum và "Havana" cho xì-gà.
Nhãn hiệu là một cách thức cô đọng để chỉ sản phẩm. Do chi phí quảng cáo, đặc biệt là
qua phương tiện truyền thông điện tử, việc sử dụng nhãn hiệu sẽ làm giảm lượng thông
tin cần truyền đạt. Sự thành công của quảng cáo làm tăng sức mạnh th
ị trường của chủ
sở hữu nhãn hiệu đối với hàng hóa mang nhãn hiệu. Sức mạnh thị trường của chủ sở hữu
nhãn hiệu càng lớn thì càng dễ dàng xâm nhập vào các thị trường nước ngoài. Sự tăng
trưởng thương mại quốc tế là một trong số các hệ quả của sự phát triển các hoạt động
quảng cáo quốc tế. Chức năng phân biệt và quảng bá củ
a nhãn hiệu không phải không
bị chỉ trích. Người ta cho rằng trong thị trường của các sản phẩm cùng loại, người tiêu
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
4
dùng thường bị thuyết phục là các sản phẩm tương tự trên thực tế lại không giống nhau.
Do đó, sự lựa chọn của người tiêu dùng nhìn bề ngoài có vẻ được mở rộng trong khi sự
lựa chọn thực tế thì vẫn giữ nguyên. Mặt khác, sự phát triển của nhãn hiệu được quảng
cáo lại là một động lực cho người quảng cáo nhằm đảm bảo việc mua bán lặp lạ
i để thu
hồi chi phí quảng cáo, thông qua việc chào bán hàng hóa có chất lượng cao.
(c) Bảo đảm chất lượng
Do người tiêu dùng có thể sử dụng nhãn hiệu để nhận biết loại hàng hóa sẽ thỏa mãn
về tiêu chu
ẩn sản phẩm, hàng hóa ví dụ, thực phẩm hay dược phẩm, thì
nhãn hiệu có một chức năng quan trọng không đơn thuần là chỉ báo về
chất lượng mà còn chỉ báo về tính an toàn và sự phù hợp với mục đích sử
dụng. Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
5
Luật nhãn hiệu đưa ra biện pháp để chủ sở hữu quyền chống lại những kẻ
làm giả nhãn hiệu của họ, thì cũng đồng thời đưa ra biện pháp chống lại sự
lừa dối người tiêu dùng. Đối với các nước đang phát triển không có sẵn
nguồn ngân sách, sự hấp dẫn đặc biệt của biện pháp này là hình thức bảo
vệ người tiêu dùng này tự trang trải kinh phí. Các ý t
ưởng tiếp thị được
triển khai nhằm chống lại việc lừa dối người tiêu dùng. Chủ sở hữu nhãn
hiệu sẽ là người cảnh giác nhất trong việc giám sát hoạt động lừa dối và áp
dụng các hoạt động thực thi chống lại người có hành vi xâm phạm. Điều
này là đặc biệt quan trọng đối với các sản phẩm trong lĩnh vực y tế và
dược phẩm.
Định nghĩa
(a) Nhãn hiệu
Điều 15(1) Hiệp định TRIPS định nghĩa nhãn hiệu như sau:
Bất kỳ dấu hiệu, hoặc sự kết hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng
hoá hoặc dịch vụ của người này với người khác, đều có khả năng tạo thành
Nhãn hiệu dịch vụ chủ yếu thực hiện chức năng chỉ nguồn gốc và phân biệt dịch vụ
tương tự như nhãn hiệu đối với hàng hóa. Đôi khi, việc bảo hộ nhãn hiệu dịch vụ
được quy định bởi phần sửa đổi ngay trong luật nhãn hiệu hiện hành, đơn giản quy
định áp dụng đối với nhãn hiệu dịch vụ, với những sử
a đổi thích hợp từ các quy định
về bảo hộ nhãn hiệu. Do vậy, nhãn hiệu dịch vụ có thể được đăng ký, gia hạn và hủy
bỏ với cách thức tương tự như nhãn hiệu hàng hóa; hơn nữa, chúng được chuyển
nhượng và chuyển quyền sử dụng theo cùng điều kiện. Do đó, các quy tắc được định
ra cho nhãn hiệu hàng hóa, về nguyên tắc, được áp dụng theo cách tương tự như
đối
với nhãn hiệu dịch vụ.
(c) Nhãn hiệu tập thể
Nhãn hiệu tập thể có thể được sở hữu bởi một hiệp hội mà các thành viên của hiệp hội
đó có thể sử dụng nhãn hiệu này nếu họ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu được quy định
tại quy chế liên quan đến việc sử dụng nhãn hiệu tập thể. Như vậy, chứ
c năng của
nhãn hiệu tập thể là thông tin cho công chúng biết về những đặc điểm đặc trưng của
sản phẩm sử dụng nhãn hiệu tập thể. Một doanh nghiệp được quyền sử dụng nhãn
hiệu tập thể bên cạnh đó thì có thể sử dụng nhãn hiệu riêng của mình.
Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể thường phải có trong đơn yêu cầu đăng ký nhãn
hiệu tập thể và những sửa đổi liên quan đến quy chế phải được thông báo cho Cơ
quan Nhãn hiệu. Tại một số quốc gia (như Cộng hoà Liên bang Đức, Phần Lan, Na
Uy, Thuỵ Điển và Thuỵ Sĩ), việc đăng ký nhãn hiệu có thể bị huỷ bỏ nếu nhãn hiệu
đó được sử dụng trái với các quy định của quy chế hoặc theo cách thức lừa đối công
chúng.
Công ước Paris có các quy định v
u tập thể được chấp nhận đăng ký
và bảo hộ ở các nước khác ngoài nước mà hiệp hội sở hữu nhãn hiệu tập thể được
thành lập. Điều này có nghĩa là việc hiệp hội đó không được thành lập phù hợp với
luật pháp của nước muốn nhận được sự bảo hộ thì không có lý do gì để từ chối việc
bảo hộ này. Mặt khác, Công ước th
ừa nhận quyền của mỗi quốc gia thành viên trong
việc áp dụng các điều kiện bảo hộ của riêng mình và từ chối bảo hộ nếu nhãn hiệu trái
với lợi ích công cộng.
(d) Nhãn hiệu chứng nhận
Nhãn hiệu chứng nhận chỉ có thể được sử dụng phù hợp với các tiêu chuẩn xác định.
Sự khác biệt cơ bản giữa nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứ
ng nhận là nhãn hiệu tập
thể chỉ có thể được sử dụng bởi các doanh nghiệp cụ thể, ví dụ, các thành viên của
hiệp hội sở hữu nhãn hiệu tập thể, trong khi nhãn hiệu chứng nhận có thể được sử
dụng bởi bất kỳ ai tuân thủ đúng những tiêu chuẩn xác định.
Một điều kiện quan trọng đối với việc đăng ký nhãn hiệu chứng nh
ận là chủ thể nộp
đơn đăng ký phải có “thẩm quyền chứng nhận” các sản phẩm có liên quan. Vì vậy,
chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận phải là người đại diện cho các sản phẩm mang nhãn
hiệu chứng nhận.
Định nghĩa “nhãn hiệu chứng nhận” không giống nhau ở tất cả các quốc gia. Tại Hoa
Kỳ, không phải bất kỳ ai tuân thủ tiêu chuẩn đã xác định đề
u có thể sử dụng nhãn
hiệu chứng nhận, mà chỉ các doanh nghiệp đã được chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận
cho phép mới được sử dụng nhãn hiệu đó. Như vậy, tại Hoa Kỳ sự khác biệt giữa
nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể nhỏ hơn so với các nước khác, nó chỉ liên
Đơn đăng ký
Đơn đăng ký nhãn hiệu phải được nộp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà ở hầu
hết các nước đều là cơ quan có thẩm quyền xử lý đơn yêu cầu cấp Bằng độc quyền
sáng chế. Cơ quan đó thường được gọi là “Cơ quan Sở hữu công nghiệp” hay “Cơ
quan Sáng chế và Nhãn hiệu” hay “Cơ quan Nhãn hiệu”.
Thông thường, các nước quy định mẫu đơn, việ
c sử dụng mẫu đơn này là bắt buộc tại
một số nước. Phải điền đầy đủ tên và địa chỉ người nộp đơn vào mẫu đơn này. Người
nước ngoài vừa phải nêu rõ địa chỉ nhận thư tại nước sở tại vừa phải sử dụng một
người có thẩm quyền đại diện để ký đơn với tư cách ngườ
i nộp đơn. Thông thường,
các thủ tục về hình thức khác cũng được yêu cầu, như việc chứng thực bởi công
chứng hoặc hợp pháp hóa.
Dấu hiệu yêu cầu đăng ký phải được thể hiện trong đơn hay trong phần phụ lục của
đơn. Nếu dấu hiệu dự định cần được đăng ký có màu sắc thì màu sắc phải được yêu
cầu bảo hộ và bản m
ẫu có màu hoặc bản mô tả về màu các màu phải được nộp.
Nếu đăng ký dấu hiệu ba chiều, cần phải nêu rõ là yêu cầu bảo hộ dấu hiệu ở dạng ba
chiều của nó. Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
9
Người nộp đơn cũng phải liệt kê danh mục hàng hoá sử dụng nhãn hiệu đăng ký.
dựa trên cơ sở thủ tục phản đối.
Nói chung, có thể nhận thấy ba cách tiếp cận điển hình ở quy mô quốc tế:
(a) Hệ thống pháp luật của Anh quy định việc thẩm định của Cơ quan dựa
trên các căn cứ tuyệt đối và tương đối, đồng thời cũng dựa trên thủ tục
phản đối. Hệ
thống này cũng được áp dụng tại châu Âu, như tại Bồ Đào
Nha, Tây Ban Nha và các nước Bắc Âu.
(b) Việc thẩm định chỉ dựa trên các căn cứ tuyệt đối. Pháp luật không quy
định về thủ tục phản đối mà để ngỏ cho chủ sở hữu các quyền có trước
tiến hành thủ tục kiện đòi huỷ bỏ hiệu lực đăng ký hoặc khởi kiện hành
vi xâm ph
ạm do việc đăng ký hoặc sử dụng một dấu hiệu có sau. Hệ
thống này được áp dụng theo luật Nhãn hiệu cũ của Pháp và Thuỵ Sĩ -
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
10
song cả hai quốc gia này đều quy định về thủ tục phản đối trong luật
mới của họ.
Hệ thống của Đức quy định việc thẩm định của Cơ quan đăng ký dựa trên các căn cứ
tuyệt đối và cũng áp dụng việc phản đối theo thủ tục hành chính, theo đó, chủ sở hữu
các quyền có trước có thể phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu xâm ph
ạm quyền bằng một
thủ tục đơn giản và không quá tốn kém. Hệ thống này là sự thoả hiệp giữa các hệ
thống cực đoan hơn nêu trên và theo xu hướng hiện đại được phản ánh trong Hệ thống
Nhãn hiệu cộng đồng của châu Âu.
ụ tương tự với hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu trước đó được bảo
hộ và có khả năng gây nhầm lẫn cho công chúng;
• Nhãn hiệu tương tự hoặc giống với các nhãn hiệu trước đó và được đăng ký cho
hàng hóa và dịch vụ cùng loại với hàng hóa và dịch vụ mang nhãn hiệu được
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
11
bảo hộ và sự tồn tại của nhãn hiệu có thể gây ra sự nhầm lẫn đối với công
chúng; và
• Nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu trước đã nổi tiếng, hoặc có uy tín
trong một phạm vi nhất định, kể cả khi nhãn hiệu của người nộp đơn dự định sử
dụng cho hàng hóa/dịch vụ không tương tự với hàng hóa/dịch vụ đã
được đăng
ký trước và khi việc sử dụng nhãn hiệu của người nộp đơn có thể lợi dụng một
cách không lành mạnh hoặc gây bất lợi cho đặc tính phân biệt của nhãn hiệu có
trước đó.
Ở một số hệ thống pháp luật, đơn đăng ký nhãn hiệu xung đột với nhãn hiệu có trước
đó sẽ được chấp nhận nếu đã và đang có “người sử dụng
đồng thời trung thực” một
nhãn hiệu có sau mà không có sự phản đối của chủ sở hữu nhãn hiệu có trước đó để
đăng ký . Cũng có quy định yêu cầu có sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu có trước
đó đối với việc đăng ký nhãn hiệu có sau.
Các căn cứ tuyệt đối và tương đối để từ chối được xem xét dưới đây.
Các dấu hiệu có khả năng thể hiện dưới dạng đồ họa
Theo Điều 15.1 và Điều 2.1 của Hiệp ước Luật Nhãn hiệu (TLT), các quốc gia Thành
chiều, yêu cầu người nộp đơn nộp cả sự thể hiện hai chiều của dấu hiệu ba chiều
(bản vẽ, ảnh hoặc sự thể hiện bất kỳ có thể in được) hoặc một bản mô tả
(hoặc cả
hai). Cần ghi nhận rằng một số nước loại trừ việc đăng ký dấu hiệu ba chiều là
hình dáng tự nhiên của hàng hóa hoặc chức năng của hàng hóa mà theo đó hình
dáng của hàng hóa tạo ra giá trị quan trọng của hàng hóa.
- Dấu hiệu có thể nghe thấy được: với điều kiện các dấu hiệu này được đăng
ký hoặc là thông qua các nốt nhạc hoặc thông qua bản mô tả (ví dụ
,: tiếng khóc
của động vật). Một số nước cho phép đăng ký nhãn hiệu âm thanh. Khi âm thanh
được thu âm và băng catxet được nộp cho Cơ quan nhãn hiệu để đăng ký.
- Nhãn hiệu có thể ngửi được (Nhãn hiệu mùi): có các tiêu chuẩn được chấp
nhận về mùi thơm, ví dụ, Tiêu chuẩn Zwaardemaker (1985) và Tiêu chuẩn
Linnaeus (1756), tuy nhiên, bản mô tả bằng từ ngữ thông thường cũng được phép
(ví dụ, “mùi của cỏ mới cắt” dùng cho bóng ten-nít).
- Các dấu hi
ệu (vô hình) khác: Ví dụ về các dấu hiệu này là các dấu hiệu
được cảm nhận bằng xúc giác.
Cần ghi nhận rằng, như sẽ được bàn luận dưới đây, để mỗi loại dấu hiệu này có thể
được đăng ký, chúng phải thực hiện được chức năng của nhãn hiệu trong việc phân
biệt nguồn gốc của hàng hóa và dịch vụ.
Ví dụ, các dấu hiệu dưới đây đ
ã bị Cơ quan Nhãn hiệu Anh từ chối vì không phải là
các mô tả đồ họa chính xác đầy đủ về nhãn hiệu:
• “kẹo ngọt gắn trên que”
• “thẻ tuần hoàn nén mô tả đồ thị nhịp tim nổi trên cả hai mặt, trong đó một mặt
chứa đựng một số từ ngữ và cụm từ mô tả bên trong đồ thị nhịp tim”.
• “máy hút bụi có thiết bị che phủ bên trong mộ
SAQ 3 (c) Bạn có nghĩ rằng bản mô tả dưới đây được đăng ký như một nhãn hiệu
màu: “một bình thủy tinh màu xanh có các đặc tính quang học là nếu
thành bình dày 3mm, thì ở ngoài trời bình sẽ có bước sóng mạnh nhất
từ 472 đến 474 nanômét, độ tinh khiết 44-48% và độ sáng quang học
32%”?
A. Biết rằng ảnh ph
ổ kế sẽ cần phải yêu cầu chuyển các đặc tính quang
học này thành “màu xanh cô ban”, nếu rất có thể việc đăng ký theo
quan điểm là nhãn hiệu màu không được bộc lộ đầy đủ cho người đọc
bản đăng ký. Tương tự, nhãn hiệu nước hoa mà được mô tả bằng việc
liên hệ đến việc mô tả sắc phổ khí là không được bộc lộ một cách đầy
đủ cho việc đăng ký.
Tính phân biệt
Tiêu chí đối với đăng ký được đề cập trong Điều 15.1 Hiệp định TRIPs và Công ước
Paris là tiêu chí về tính phân biệt. Ví dụ, Điều 6quinquies, s.B.2 Công ước Paris cho
phép từ chối đăng ký nhãn hiệu mà ‘không hề có bất cứ đặc điểm phân biệt nào’. Việc
kiểm tra liệu một nhãn hiệu có tính phân biệt hay không bị giới hạn phụ thuộc vào sự
nhận biết của người tiêu dùng hoặc ít nh
ất là những người mà dấu hiệu hướng tới. Một
dấu hiệu được coi là có tính phân biệt đối với hàng hóa mang dấu hiệu đó nếu nó được
nhận biết bởi những người mà nó hướng đến như một loại hàng hóa xác định từ một
nguồn thương mại cụ thể hoặc có khả năng được nhận biết như vậy.
Các ví dụ về việ
c thiếu tính phân biệt của một nhãn hiệu bao gồm: dấu hiệu quá đơn
sản phẩm hoặc chất lượng của sản phẩm. Nhãn hiệu mô tả kiểu này có khả năng trở
nên có tính phân biệt khi ý nghĩa thứ hai bắt nguồn từ một công ty riêng biệt đã được
người tiêu dùng nhận biết mà trở nên quan trọng hơn là tính chất mô tả của dấu hiệu
đó. Ví dụ, trong v
ụ kiện ở Anh giữa Reddaway và Banham (1896), nhãn hiệu CAMEL
HAIR BELTING đã được người tiêu dùng có liên quan giải nghĩa là sản phẩm dây đai
bắt nguồn từ nguyên đơn.
Dưới đây là những nhãn hiệu đã bị bác bỏ ở Anh:
COFFEE HOUSE AROMA cho cà phê;
EASY FLOSSING cho “tăm xỉa răng tơ sồi”;
MINI CLAW cho dụng cụ làm vườn;
MINILITE cho bánh xe ô tô trọng tải nhẹ;
TREAT cho các loại nước sốt và xi rô tráng miệng;
WEB LINK cho một thiết bị phầ
n mềm máy tính;
XPRESSLINK cho một thiết bị viễn thông.
Dưới đây là những nhãn hiệu đã bị bác bỏ tại OHIM:
1005 PURE GOODNESS cho mỹ phẩm;
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
15
COMPLETE cho xà phòng và mỹ phẩm;
ENVIRO-CHEM cho các dụng cụ đo lường và lắp đặt liên quan đến ô nhiễm, kiểm
soát và giảm ô nhiễm;
GLOBAL CHILLER cho các thiết bị làm lạnh;
GREENFILTER cho máy lọc;
Câu 4 (a) Bạn hình dung cơ quan nhãn hiệu sẽ quyết định thế nào về các đơn đăng
ký sau:
(i) THE WORLD’S FINEST cho thuốc lá;
(ii) CH25 cho nước hoa;
(iii) RAYMOND cho các dịch vụ làm tóc;
(iv) MAGNIFIQUE cho các trò chơi máy tính;
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
16
(v) HOLLY cho các dịch vụ kiến trúc cảnh quan;
(vi) SAKATA cho mực in và thuốc màu;
(vii) Một thiết bị có phần mô tả đồ họa một công-te-nơ chở dầu;
(viii) PORTFOLIO cho sách và vật mang dữ liệu từ tính;
(ix) LEND LEASE cho việc cung cấp các dịch vụ kiến trúc, xây dựng,
nhà cửa, cảnh quan làm vườn, xây dựng khách sạn và thiết kế
công nghiệp.
Trả lời.
(i) Sự diễn đạt này có thể
được xem như một sự tự phóng đại quá
mức (“chỉ rít một hơi thuốc”) khi dùng cho thuốc lá, vì vậy, không
có ý nghĩa và có khả năng được đăng ký.
(ii) Hầu hết các cơ quan nhãn hiệu sẵn sàng đăng ký tổ hợp các từ và
các chữ cái, với điều kiện chúng không có nghĩa. Một ngoại lệ là
con số 4711 cho nước hoa, có liên hệ với địa chỉ ở Cologne nơi
sản xuất n
ước hoa Cologne có thương hiệu nổi tiếng trong một
thời gian dài.
liên hệ trực tiếp và tức thì giữa các dịch vụ đó với việc cho thuê
mượn tài sản.
Câu 4 (b) Tại sao bạn lại nghĩ rằng những dấu hiệu từ ngữ: GAP (cho quần áo),
VIRGIN (cho hàng không), MARS (cho sôcôla), AMAZON (cho cửa
hàng sách trực tuyến) và MONT BLANC (cho các dụng cụ để viết) được
xem xét là các nhãn hiệu có khả năng phân biệt?
Trả lời. Vì những dấu hiệu này là có tính chất ngẫu hứng trong quan hệ v
ới
các sản phẩm sử dụng dấu hiệu đó.
Tính chất chung
Một hiện tượng nghịch lý trong luật nhãn hiệu đó là việc mất tính phân biệt khi một
nhãn hiệu trở nên gắn bó với loại sản phẩm sử dụng nó đến mức trở thành một sự mô
tả chung về sản phẩm đó. Ví dụ, các thuật ngữ chung “đồ nội thất” (chỉ đồ đạc nội thất
nói chung và cũng để chỉ bàn, ghế, v.v.) và “ghế” (để ch
ỉ ghế). Các nhãn hiệu như
FRIGIDAIRE, CELLOPHANE, ESCALATOR, GRAMOPHONE và LINOLEUM
được đăng ký như các nhãn hiệu có tính phân biệt, về cơ bản đã trở thành các thuật
ngữ chung vì chúng là sản phẩm duy nhất trong nhóm sản phẩm của mình và vì chủ sở
hữu các nhãn hiệu đó đã không nỗ lực để ngăn cản chúng trở thành các từ chung. Ví
dụ, khi một tờ báo hoặc tạp chí sử dụng một nhãn hiệu theo cách chung chung thì chủ
sở hữu nhãn hiệ
u cần yêu cầu phải đăng thông báo đính chính lại cách sử dụng đó. Ví
dụ, mô tả trong một quảng cáo về dao cạo râu điện là “dao cạo râu điện ROLLS
ROYCE” cần được chủ sở hữu nhãn hiệu ROLLS ROYCE đính chính lại rằng nhãn
hiệu này là tài sản của Hãng ôtô Rolls Royce và nó chỉ được sử dụng trên xe ôtô do
Điều 6quinquies Công ướ
c Paris quy định, bằng cách diễn đạt như trên, về việc từ chối
đăng lý các dấu hiệu có tính chất mô tả hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc một số đặc tính
của hàng hóa/dịch vụ đó. Ý nghĩa của việc loại trừ này là nhằm giữ các dấu hiệu hoặc
chỉ dẫn mà những người kinh doanh thương mại trung thực có thể muốn sử dụng
không vì động cơ sai trái.
Ví dụ, ở Anh và OHIM đã từ chối đăng ký các nhãn hiệu theo nhiều căn cứ khác nhau
như:
Từ ngữ tán dương
Bị từ chối100% PURE GOODNESS cho mỹ phẩm và dầu gội;
LASTING PERFORMANCE cho nước hoa, tinh dầu và mỹ phẩm;
OPTIMA cho máy dưỡng khí;
SUPREME cho các sản phẩm nhiếp ảnh;
TREAT cho các loại nước sốt và xi rô tráng miệng.
Không bị từ chối MAXIMA cho thiết bị y tế và phẫu thuật.
Chỉ dẫn địa lý
Bị từ chối
JIVE cho các loại băng tiếng và băng hình;
LANDSCAPE cho đồ đạc nội thất, v
ăn phòng và nhà bếp;
MINI CLAW cho dụng cụ làm vườn;
ONE TOUCH VIEW cho điện thoại;
PETIT BEBE cho quần áo và giầy dép trẻ em;
PORTFOLIO cho sách và các ấn phẩm in;
WWW.PRIMEBROKERS.COM cho công cụ phần mềm buôn bán cổ phiếu doanh
nghiệp.
Không bị từ chối LIGHT GREEN và YELLOW cho kẹo cao su;
OILGEAR cho máy bơm nước và ôtô, động cơ ôtô;
SWEDISH FORMULA cho mỹ phẩm, xà phòng và dầu gội.
Câu hỏi tự đánh giá
Câu 6 (a) Bình luận về khả năng được đăng ký của các nhãn hiệu dưới đây:
(i) KETTLE CLEAN cho chất pha chế làm sạch cặn;
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
20
(ii) BUDGET cho dịch vụ cho thuê ôtô;
(iii) OVERNIGHT cho dịch vụ giao hàng;
(iv) QUIKSLIM cho đồ ăn kiêng;
(v) Hình vẽ một chùm nho cho dịch vụ giải khát.
Nhãn hiệu trái với lợi ích công cộng hoặc các quy tắc đạo đức đã được chấp
nhận;
Căn cứ loại trừ này được thiết lập nhằm ngăn chặn việc đăng ký nhãn hiệu có thể xúc
phạm đến một bộ phận công chúng. Việc xúc phạm có thể phát sinh bởi các vấn đề về
chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng tôn giáo hoặc các vấn đề chung về sở thích và lễ
giáo.
Việc xúc phạm có thể bằng hình ảnh hoặc từ ngữ. Những nhãn hiệu khuyến khích hoặc
cổ động cho các hành vi tội phạm là ví dụ rõ ràng về loại nhãn hiệu có thể bị loại trừ
này.
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
21
Nhãn hiệu gây nhầm lẫn
Căn cứ loại trừ tuyệt đối việc đăng ký này liên quan đến tính gây nhầm lẫn sẵn có của
chính bản thân nhãn hiệu hơn là sự tương tự gây nhầm lẫn của nó với một nhãn hiệu
khác. Ví dụ về nhãn hiệu có tính gây nhầm lẫn sẵn có là:
• ORLWOOLA cho quần áo không làm toàn bằng len;
• CHINA-THERM cho cốc nhựa cách nhiệt;
• FILLET-O-FISH cho đồ ăn chỉ có thành phần cá;
• ROYAL WORCESTER ám chỉ sự sai lệch về sự bảo trợ của hoàng gia
cho đồ sứ từ vùng Worcester Hoa Kỳ.
22
Nhiều luật nhãn hiệu quy định việc từ chối các đơn đăng ký không trung thực.
Trường hợp phổ biến nhất về hành vi không trung thực là đơn được làm bởi những
người không phải là chủ sở hữu nhãn hiệu.
Ví dụ:
• Đăng ký trái phép nhãn hiệu nổi tiếng bởi các bên thứ ba;
• Đăng ký nhãn hiệu bởi bên nhận li-xăng hoặc nhà phân phối sản phẩm mang
nhãn hiệu;
•
Đăng ký nhãn hiệu bởi những người nộp đơn không thành công để chỉ định các
nhà phân phối sản phẩm mang nhãn hiệu đó;
• Đơn đăng ký có dụng ý xấu khi sử dụng nhãn hiệu;
• Người nộp đơn biết rằng người khác có ý định sử dụng và/hoặc đăng ký nhãn
hiệu, đặc biệt khi người nộp đơn có quan hệ với người này, ví dụ, người phân
phối, đại lý hoặ
c người lao động.
Việc kiểm nghiệm ý đồ không trung thực ở chỗ liệu người nộp đơn có thể được cho là
tuân thủ đúng các tiêu chuẩn về hành vi thương mại đã được thiết lập hay không.
Công ước Paris không cho phép việc bảo hộ nhãn hiệu gồm ‘một dấu hiệu hoặc chỉ
dẫn được sử dụng trong lĩnh vực thương mại có liên quan để chỉ chủ
ng loại, chất
lượng, số lượng, mục đích sử dụng, giá trị, xuất xứ, hoặc thời gian sản xuất hoặc đã trở
thành thông dụng trong ngôn ngữ hiện thời hoặc trong các tập quán thương mại lành
mạnh và lâu đời tại các nước có yêu cầu bảo hộ’.
dịch vụ như nhãn của người nộp đơn. Nhãn hiệu có trước là nhãn hiệu có ngày nộp
đơn đăng ký sớm hơn hoặc có ngày ưu tiên sớm hơn có thể được yêu cầu theo Công
ước Paris.
Nhãn hiệ
u tương tự hoặc giống nhau cho hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự hoặc giống
nhau, nếu có khả năng gây nhầm lẫn
Đăng ký nhãn hiệu có thể bị từ chối theo các căn cứ tương nếu có khả năng gây nhầm
lẫn trong một bộ phận công chúng liên quan tới:
• Một nhãn hiệu có trước tương tự được đăng ký cho hàng hóa hoặc dịch vụ
tương tự với hàng hóa/dịch vụ mà người nộp đơn yêu cầu; hoặc
• Một nhãn hiệu có trước tương tự được đăng ký cho cùng lo
ại hàng hóa hoặc
dịch vụ mà người nộp đơn yêu cầu.
Khi đánh giá khả năng gây nhầm lẫn, tòa án có xu hướng đánh giá ở cấp độ toàn cầu
về tính tương tự về cách thể hiện, sự phát âm hoặc ý nghĩa của các nhãn hiệu đang
được xem xét, lưu ý các thành tố đặc thù và quan trọng cũng như mức độ tương tự
giữa các hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan. Do đó, mức
độ ít giống nhau hơn về
nhãn hiệu có thể được bù lại bởi mức độ giống nhau nhiều hơn về hàng hóa hoặc dịch
vụ, hoặc ngược lại.
Chuẩn nhận thức có xu hướng được chấp nhận là mức độ nhận thức của người tiêu
dùng trung bình. Thực tế được tính đến là người tiêu dùng trung bình sẽ chỉ nhớ lại
một cách không đầy đủ về nhãn hiệ
u có trước. Mức độ quan tâm đó của của người tiêu
dùng đó có thể là rất khác nhau phụ thuộc vào chủng loại hàng hóa hoặc dịch vụ và
• Túi thể thao, túi dùng để mua sắm, túi dùng trong nhà vệ sinh và các túi chìa
khóa với quần áo.
Câu hỏi tự đánh giá
Câu 8 Chủ sở hữu nhãn hiệu đã được đăng ký SOUTHERN CROSS cho máy
và dụng cụ vắt sữa có thể phản đối được việc đăng ký cùng nhãn hiệu đó
cho tủ lạnh, máy giặt và các đồ dùng gia đình không?
Trả lời. Vì nhãn hiệu là giống nhau nên câu trả lời sẽ phụ thu
ộc vào việc liệu
những loại hàng hóa đó có được xem là tương tự nhau theo người tiêu
dùng trung bình đánh giá không. Điều này sẽ bị tác động bởi các kênh
thương mại mà hàng hóa đó được bán ra. Ví dụ, trong trường hợp thực tế
ở Australia, tại các vùng nông thôn người ta thấy rằng máy vắt sữa được
bán trong cùng cửa hàng bán đồ dùng gia đình và do đó người tiêu dùng
có thể bị nhầm lẫn bởi việc sử dụng một nhãn hi
ệu giống nhau cho các
hàng hóa này.
Nhãn hiệu nổi tiếng
Có một cơ chế bảo hộ đặc biệt cho các nhãn hiệu được coi là “nổi tiếng”. Cơ chế này
được thiết lập theo Điều 6bis(1) Công ước Paris, theo đó cho phép các nước thành viên
của Liên minh Paris
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
25
chứng về khảo sát thị trường thường được sử dụng để chứng minh danh tiếng của một
nhãn hiệu đối với công chúng.
Điều 16.2 cũng đề cập đến ‘danh tiếng...có được nhờ hoạt động quảng bá nhãn hiệu
đó’
để xác định một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không.
Phiên họpWIPO tháng 9/1999 của Hội đồng Công ước Paris và Đại hội đồng của
WIPO đã thông qua Bản kiến nghị chung sau đây của Ủy ban thường trực về sáng chế
(SCP) liên quan đến các quy định về việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng:
Xác định nhãn hiệu nổi tiếng