Một số giải pháp phát triển thuê bao internet và các dịch vụ gia tăng trên mạng của công ty điện toán và truyền số liệu trên địa bàn thành phố hải phòng - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-----------------

PHẠM THỊ THÊM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THUÊ BAO
INTERNET VÀ CÁC DỊCH VỤ GIA TĂNG TRÊN
MẠNG CỦA CÔNG TY ĐIỆN TOÁN VÀ TRUYỀN SỐ
LIỆU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH KINH TẾ QUẢN LÝ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN VĂN BÌNH

HÀ NỘI - 2004


-1Luận văn tốt nghiệp cao học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU

4

1. SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

4


10
10
12
18
19
22

1.2. NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG INTERNET
1.2.1 Nội dung và các bước nghiên cứu thị trường
1.2.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu

23
23
26

1.3. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN THUÊ BAO
DỊCH VỤ INTERNET
1.3.1.Yếu tố môi trường vĩ mô và quốc tế
1.3.2. Yếu tố nhà cung cấp dịch vụ Internet
1.3.3. Yếu tố khách hàng

29
29
32
33

1.4. TÌNH HÌNH VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN INTERNET TRÊN
THẾ GIỚI

33

52

2.4. THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH

54

2.5. VỊ THẾ CỦA VDC TRÊN THỊ TRƯỜNG

59

CHƯƠNG III

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG ỨNG DỤNG VÀ KHẢ NĂNG
64
PHÁT TRIỂN INTERNET TẠI HẢI PHÒNG
3.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN INTERNET TẠI HẢI PHÒNG.
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG
3.1.1. Đánh giá chung về thị trường thành phố Hải Phòng
3.1.2. Một số đánh giá về thị trường Internet ở Hải Phòng
3.1.3. Phân tích tình hình thị trường theo đối tượng và tính chất
sử dụng Internet

64
64
65
70

3.2. CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
CỦA VDC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRÊN CƠ
SỞ XU HƯỚNG HỘI NHẬP PHÁT TRIỂN

3.4.6. Chính sách đào tạo, nhân sự

82
82
82
83
83
84
84

CHƯƠNG IV

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG THUÊ BAO DỊCH VỤ INTERNET TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
85
4.1. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THUÊ BAO
INTERNET CỦA VDC TẠI HẢI PHÒNG
4.1.1. Mục tiêu
4.1.2. Tổ chức tốt hoạt động nghiên cứu, phân đoạn và lựa chọn thị
trường khách hàng mục tiêu
4.1.3. Tuyên truyền quảng cáo
4.1.4. Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ
4.1.5. Xây dựng chính sách giá cả mềm dẻo
4.1.6. Phát triển hệ thống phân phối
4.1.7. Chăm sóc khách hàng

85
85
90

CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

118

Phạm Thị Thêm

Lớp cao học QTDN 2002 - 2004


-4Luận văn tốt nghiệp cao học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

LỜI NÓI ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN:
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế kỷ 20 - 21 là sự bùng nổ phát
triển của Công nghệ thông tin và truyền thông. Các nền kinh tế lớn của thế
giới đều chú trọng đầu tư mạnh vào phát triển công nghệ thông tin và truyền
thông do đây không chỉ là ngành có tốc độ tăng trưởng cao, thị trường lớn,
tạo nhiều giá trị gia tăng mà đây còn là nhu cầu cấp bách, thiết yếu cho sự
phát triển mọi mặt của đất nước, từ phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế đến
quốc phòng an ninh. Trong bối cảnh tình hình kinh tế chính trị xã hội của
nước ta hiện nay, công nghệ thông tin được xác định là một công cụ quan
trọng trong việc cải cách hành chính và từng bước hiện đại hoá nền kinh tế
quốc dân, tạo khả năng đi tắt đón đầu một số ngành, một số lĩnh vực kinh tế
xã hội, nhằm thực hiện thắng lợi công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Việc đầu tư và phát triển Công nghệ thông tin và truyền thông đã được đặt ra
như một đòi hỏi bức thiết trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Song song với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và Công nghệ thông
tin, hiện nay Internet thế giới cũng đang trong kỷ nguyên phát triển mạnh
mẽ. Nhờ có Internet, từng gia đình, từng cá nhân khắp mọi vùng đất nước,
khắp mọi nơi trên thế giới, dù ở thành thị hay nông thôn, ở khu vực phát

trương mạnh, trong khi giá cước cao, trình độ dân trí thấp cộng với khả năng
sử dụng ngoại ngữ, kiến thức tin học kém, và đặc biệt là nhu cầu sử dụng,
khai thác dịch vụ chưa thực sự được đánh thức và quan tâm đúng mức. Đến
cuối năm 2001 mà số thuê bao Internet mới dừng lại ở con số 200.000 – tính
cả các thuê bao trực tiếp và gián tiếp qua mạng điện thoại công cộng. Nhưng
trong vòng 3 năm trở lại đây, Internet Việt Nam đã có những bước tiến dài
do việc quảng bá Internet cũng như những ứng dụng của nó đã được chú
trọng, đã có nhiều đợt giảm giá khiến cho giá cước Internet Việt Nam ngang
bằng, thậm chí còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực. Mọi người ngày
càng nhận thức rõ nét hơn về tầm quan trọng của Internet. Theo số liệu
thống kê của VNNIC (Trung tâm Internet Việt Nam), đến tháng 4 năm 2004
Phạm Thị Thêm

Lớp cao học QTDN 2002 - 2004


-6Luận văn tốt nghiệp cao học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

số thuê bao Internet của Việt Nam đã lên đến con số gần 1.200.000 thuê bao
tính cho cả thuê bao Internet trực tiếp và Internet gián tiếp qua mạng điện
thoại công cộng.
Hải Phòng là một trong những thành phố lớn đầu tiên đưa Internet vào sử
dụng. Cũng giống như xu thế phát triển chung, trong mấy năm đầu, lượng
thuê bao Internet thấp. Và chỉ khoảng từ cuối năm 2000 trở lại đây, Internet
mới thực sự được biết đến nhiều và phát triển. Đến nay, thành phố đã đạt
được con số 5.000 thuê bao Internet, gần 700 điểm truy nhập Internet tốc độ
cao.
Với vai trò là một doanh nghiệp Công nghệ thông tin, Công ty Điện toán
và Truyền số liệu (VDC) – Nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn nhất tại Việt
Nam thuộc Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã nhận thức rõ

và trên thế giới.
Internet thực sự là mảnh đất kinh doanh nhiều tiềm năng đối với các nhà
cung cấp dịch vụ trong tương lai. Do đó, mục tiêu nghiên cứu đề tài tập
trung làm rõ các vấn đề thuộc lĩnh vực:
- Phân tích nhận dạng đặc tính của thị trường.
- Phân tích những hạn chế của các cơ chế, chính sách cũng như của thị
trường trong vấn đề sử dụng, khai thác dịch vụ Internet.
- Cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập.
- Đề xuất một số giải pháp để phát triển thuê bao dịch vụ Internet, tăng
vị trí cạnh tranh của VDC, cải thiện các chỉ tiêu về doanh số giúp
VDC phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh.
2.2. Ý nghĩa:
Từ việc thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn cung cấp một
số luận cứ khoa học cho các cơ quan quản lý, hoạch định chính sách của
Nhà nước trong việc đẩy mạnh tin học hoá vào công tác quản lý và làm tài
liệu tham khảo cho các doanh nghiệp kinh doanh loại hình dịch vụ này.
Phạm Thị Thêm

Lớp cao học QTDN 2002 - 2004


-8Luận văn tốt nghiệp cao học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
-

Đối tượng nghiên cứu: Internet và các dịch vụ gia tăng trên mạng.

-


Đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển dịch vụ Internet trên địa
bàn thành phố Hải Phòng của Công ty Điện toán & Truyền số liệu.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Tên luận văn: “Một số giải pháp phát triển thuê bao Internet và các
dịch vụ gia tăng trên mạng của Công ty Điện toán & Truyền số liệu
(VDC) trên địa bàn thành phố Hải Phòng”.
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn chia làm 4 chương:
Chương I

: Cơ sở lý luận về công nghệ thông tin, về dịch vụ Internet.

Chương II : Tình hình phát triển dịch vụ Internet tại Việt Nam.
Chương III : Phân tích hiện trạng ứng dụng và khả năng phát triển
thuê bao Internet trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Chương IV : Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường thuê
bao dịch vụ Internet trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Phạm Thị Thêm

Lớp cao học QTDN 2002 - 2004


-10Luận văn tốt nghiệp cao học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN,
VỀ DỊCH VỤ INTERNET
1.1.TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG INTERNET


hiện các máy để bàn (desktop workstations) – năm 1983. Phần lớn các máy để
bàn sử dụng Berkeley UNIX, phần mềm cho kết nối TCP/IP đã được coi là một
phần của hệ điều hành này. Một điều rõ ràng là các mạng này có thể kết nối với
nhau dễ dàng.
Từ chỗ đơn thuần là một mạng máy tính của Bộ Quốc phòng Mỹ, rồi của một
số cơ quan khoa học, nghiên cứu, cơ quan chính phủ Mỹ, nội dung thông tin và
dịch vụ trên mạng đã không còn đơn thuần là các thông tin của riêng Bộ Quốc
phòng, mạng ARPANET dần dần lan rộng trở thành mạng xuyên quốc gia với
nhiều nước truy cập với nội dung và dịch vụ hết sức phong phú với tên gọi mới
là mạng Internet như hiện nay.
Ngày nay, do sự phát triển quá nhanh và quá rộng ra toàn thế giới, mạng
Internet đã không thể có một người quản trị chung. Tuy nhiên, một số tài
nguyên trên mạng Internet lại chỉ được phép là duy nhất, chẳng hạn như: địa chỉ
IP, số hiệu mạng, tên miền,... Thành thử tổ chức mạng Internet vẫn cần phải
được phân cấp quản lý để tránh xung đột cả về kỹ thuật lẫn quyền lợi giữa các
thành viên tham gia vào mạng. Một tổ chức cần thiết đã được ra đời để quản lý
và phân bổ các tài nguyên chung, đó là InterNIC (International Network
Information Commitee), hay Hiệp hội thông tin mạng Quốc tế, có trụ sở tại Mỹ.
Hiệp hội này có quyền hạn phân chia tài nguyên cho các NIC khu vực. Mỗi
quốc gia khi muốn sử dụng Internet, tuỳ theo khu vực đều phải thực hiện việc
đăng ký với các tổ chức này. Một siêu mạng chẳng có ai quản lý cụ thể, nhưng
lại được tổ chức hết sức chặt chẽ bởi về mặt kỹ thuật chỉ có một số tài nguyên
là duy nhất. Nếu ai muốn sử dụng thì phải thực hiện đăng ký thông qua các NIC
khu vực, còn lại thông qua duy nhất một giao thức truyền thông chuẩn
(TCP/IP), các dịch vụ trên mạng được phát triển một cách tự do. TCP/IP hiểu
một cách nôm na: Internet là mạng kết nối hàng triệu các máy tính khác nhau,
Phạm Thị Thêm

Lớp cao học QTDN 2002 - 2004



Lớp cao học QTDN 2002 - 2004


-13Luận văn tốt nghiệp cao học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

bản rẻ tiền nhất có ở mọi nơi. Ở các nước phát triển, hầu hết mọi người đều sử
dụng e-mail trong các cơ quan và cho các mục đích cá nhân. E-mail còn được
coi là công cụ giao tiếp mạnh nhất. Ở Việt Nam, xu hướng sử dụng E-mail
trong công tác giao dịch, trao đổi công việc cũng như các nhu cầu cá nhân cũng
đang trở nên phổ biến.
E-mail cung cấp những ưu điểm sau:
Người sử dụng có thể gửi những tài liệu trực tiếp từ máy tính của mình, thay
cho việc phải in ra và sau đó gửi fax. Tuy không tức thời như fax, nhưng thời
gian lưu chuyển của E-mail thường được tính bằng phút, thậm chí bằng giây,
ngay cả khi người gửi và người nhận ở tận hai đầu của trái đất. Điều này rất
thuật lợi, vừa nhanh vừa rẻ hơn nhiều so với gửi thư qua đường bưu điện và
đường fax.
Khi nhận được những tài liệu dưới dạng văn bản điện tử, người ta có thể trực
tiếp chỉnh sửa chúng. Trong khi nhận một tài liệu bằng thư thường hoặc fax và
muốn thay đổi, phải gõ lại văn bản đó vào máy tính. Điều này sẽ rất phiền phức
và mất rất nhiều thời gian.
Bằng E-mail, có thể dễ dàng gửi tài liệu cùng một lúc đến nhiều người. Sử dụng
máy fax để làm điều này thật không dễ dàng chút nào.
Ngoài ra, người sử dụng có thể hoàn toàn tự động lưu trữ những thư từ của
mình trên máy tính. Điều này nhanh và đỡ tốn công sức hơn nhiều so với việc
lưu trữ các văn bản fax và giấy tờ văn bản thường.
Một số loại hình E-mail
Dịch vụ thư điện tử VNMail, F-mail:
- Giải pháp thư điện tử với nhiều mức giá cố định, phù hợp với mức thu

(Mail Server) và một account VNN/Internet.

Phạm Thị Thêm

Lớp cao học QTDN 2002 - 2004


-15Luận văn tốt nghiệp cao học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

- Trao quyền cho khách hàng xây dựng và quản lý hệ thống thư điện tử của
mình với số lượng người sử dụng không hạn chế, tuỳ thuộc vào khả năng
phát triẻn mạng máy tính của doanh nghiệp.
- Dịch vụ Mail Offline hoạt động theo chuẩn SMTP.
* Dịch vụ mạng thông tin toàn cầu (World Wide Web)
Đây là dịch vụ mới và mạnh nhất trên Internet. WWW được xây dựng dựa trên
một kỹ thuật có tên gọi là hypertext (siêu văn bản). Hypertex là kỹ thuật trình
bày thông tin trên một trang trong đó có một số từ có thể “nở” ra thành một
trang thông tin mới có nội dung đầy đủ hơn. Trên cùng một trang thông tin, có
thể có nhiều kiểu dữ liệu khác nhau như: text, hình ảnh hay âm thanh. Để xây
dựng các trang dữ liệu với các kiểu dữ liệu khác nhau như vậy, WWW sử dụng
một ngôn ngữ có tên là HTML (Hyper Text Markup Language). Ngôn ngữ
HTML được xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ SGML (Standard General Markup
Language). HTML cho phép định dạng các trang thông tn và cho phép thông tin
được kết nối với nhau.
Trên các trang thông tin có một số từ có thể “nở” ra. Mỗi từ này thực chất đều
có một liên kết với các thông tin khác.
Với sự bùng nổ dịch vụ WWW, dịch vụ này ngày càng được mở rộng và đưa
thêm nhiều kỹ thuật tiên tiến nhằm tăng khả năng biểu đạt thông tin cho người
sử dụng. Một số công nghệ mới được hình thành như Active X, Java cho phép
tạo các trang Web động đang thực sự mở ra một hướng phát triển rất lớn cho

doanh nghiệp.
* Dịch vụ truyền file – FTP (File Transfer Protocol)
Dịch vụ FTP dùng để truyền tải các file dữ liệu giữa các host trên Internet.
Công cụ để thực hiện dịch vụ truyền file là các chương tình FTP. Nó sử dụng
một giao thức của Internet là giao thức FTP (File Transfer Protocol). Như tên
của giao thức đã nói, công việc của giao thức này là thực hiện chuyển các file từ
Phạm Thị Thêm

Lớp cao học QTDN 2002 - 2004


-17Luận văn tốt nghiệp cao học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

một máy tính này sang một máy tính khác. Giao thức này cho phép truyền file
không phụ thuộc vào vấn đề địa lý hay môi trường hệ điều hành của hai máy.
Điều duy nhất cần thiết là cả hai máy đều có phần mềm hiểu được giao thức
FTP. FTP là một phần mềm như vậy trên hệ điều hành UNIX.
* Dịch vụ hội thoại trên Internet – IRC
Internt Relay Chat (IRC – Nói chuyện qua Internet) là phương tiện “thời gian
thực”, nghĩa là những từ người gửi gõ vào sẽ xuất hiện gần như tức thời trên
màn hình của người nhận và trả lời của người nhận cũng xuất hiện trên màn
hình của người gửi như vậy. Thay vì phải chờ vài phút hay vài ngày đối với các
thông điệp, người sử dụng có thể trao đổi tức thời với tốc độ gõ chữ của mình.
IRC có thể mang tính chất cá nhân như E-mail, người lạ không khám phá được
nội dung trao đổi của ta, hoặc ta có thể tạo “kênh mở” cho những ai ta muốn
cùng tham gia. Ngoài việc trao đổi lời, người dùng IRC còn có thể gửi file cho
nhau như hình ảnh, chương trình, tài liệu hay những thứ khác.
* Dịch vụ văn phòng ảo (Virtual Office)
Virtual Office dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ Internet phát triển cho
công tác quản lý văn phòng, nhân sự và các tiện ích cho hoạt động kinh doanh

Internet cũng là một trong các dịch vụ viễn thông, do vậy nó cũng mang đầy đủ
các đặc điểm của một dịch vụ viễn thông nói chung:
- Tính phi vật chất của sản phẩm viễn thông: Sản phẩm viễn thông không có
hình thái vật chất cụ thể mà nó chính là hiệu quả có ích của việc truyền đưa
tin tức.
- Quá trình sản xuất viễn thông mang tính dây chuyền: việc truyền đưa một tin
tức hoàn chỉnh từ người gửi đến người nhận thường có ít nhất từ hai đơn vị
trở nên tham gia thực hiện. Mỗi đơn vị chỉ thực hiện giai đoạn nhất định của
quá trình truyền đưa tin tức.
- Quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ: Hiệu quả có ích của việc
truyền đưa tin tức được sử dụng ngay trong quá trình sản xuất.
Phạm Thị Thêm

Lớp cao học QTDN 2002 - 2004


-19Luận văn tốt nghiệp cao học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

- Trong sản xuất kinh doanh viễn thông thì tải trọng không đồng đều theo thời
gian và không gian. Số lượng các cuộc gọi điện thoại, các cuộc truy nhập
Internet không đều giữa các giờ trong ngày, các ngày trong tuần, các tháng
trong năm; giữa các miền, tỉnh thành trong nước cũng không đều nhau.
Xuất phát từ những đặc điểm trên, trong hoạt động Marketing dịch vụ viễn
thông cần chú ý:
+ Do sản xuất gắn liền với tiêu thụ nên việc đảm bảo sản phẩm tốt với chất
lượng cao là mục tiêu và tiêu chuẩn hàng đầu trong chính sách sản phẩm. Cần
có sự đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ phù hợp nhằm sử dụng hợp lý trang thiết
bị, lao động và đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.
+ Do tải trọng không đồng đều theo thời gian và không gian nên chính sách giá
phải linh hoạt, hợp lý và mềm dẻo để không bị ùn tắc, đồng thời kích thích nhu

Nhu cầu thị trường dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố:
-

Yếu tố chủ quan của người tiêu dùng dịch vụ: Đó là yếu tố mức thu nhập,
lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa phương, tính tình, thói quen và trình độ
văn hoá của người tiêu dùng,… Thu nhập là yếu tố có tính chất quyết định
đến nhu cầu thị trường. Mong muốn của con người là vô hạn nhưng khả
năng thanh toán thì lại có hạn. Vì vậy, trước tiên người tiêu dùng phải ưu
tiên trang trải cho những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Khi mà khả
năng thanh toán cho phép thì nhu cầu về các lĩnh vực khác sẽ được đáp
ứng. Mức độ đáp ứng các nhu cầu này tỷ lệ thuận với sự tăng lên của thu
nhập.

-

Yếu tố bên bán dịch vụ: Bên bán thường tác động trực tiếp đến chất lượng,
hình dáng, chức năng của hàng hoá được đem bán; giá cả của sản phẩm
hiện hành, giá cả của sản phẩm trong thời gian tới, các biện pháp và cách
thức của bên bán,… Giá cả luôn là yếu tố được người tiêu dùng quan tâm,
cân nhắc trước khi quyết định mua sản phẩm hay dịch vụ nào đó. Giá cả có

Phạm Thị Thêm

Lớp cao học QTDN 2002 - 2004


-21Luận văn tốt nghiệp cao học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

tác động lớn đến tâm lý và việc quyết định mua của người tiêu dùng. Đối
với dịch vụ Internet có 3 loại giá cước tác động đến nhu cầu thị trường:


Môi trường

Nhu cầu thị
trường

Yếu tố bên
bán

Hành vi mua

Cảm nghĩ
sau khi mua

Hoãn mua

Không mua

1.1.5 Phân loại thị trường
Thị trường thuê bao Internet được chia thành 4 loại như sau:
-

Khối cơ quan hành chính, văn phòng.

-

Khối doanh nghiệp.

-


Tính đến hết tháng 12/2003 tất cả 64/64 tỉnh, thành phố đã hoàn thành xong
chương trình đưa Internet tới các trường đại học, cao đằng và THPT trên địa
bàn tỉnh, thành phố (nguồn VNPT và Bộ Giáo dục và Đào tạo). Tổng số trường
học đã hoàn thành kết nối Internet như sau:
- Tổng số trường THPT: 1.923/2.057 trường, đạt tỷ lệ 93,48%
- Tổng số trường ĐH và CĐ: 235/235 trường, đạt tỷ lệ 100%.
Bên cạnh đó, các thư viện, cá nhân sử dụng Internet tại gia đình cũng là những
khách hàng quan trọng nhất của các ISP trong việc cung cấp dịch vụ Internet.
1.2. NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG INTERNET
1.2.1 Nội dung và các bước nghiên cứu thị trường:
Cũng giống như các ngành sản xuất, kinh doanh khác, đơn vị kinh doanh dịch
vụ Internet cũng phải đối mặt với các vấn đề: kinh doanh những loại hình dịch
vụ gì? Cung ứng bao nhiêu và cung ứng cho ai? Ai là đối thủ cạnh tranh và họ
đang làm gì? Mục đích sử dụng dịch vụ của khách hàng là gì? Nhân tố nào có
tác động ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng?….
Nội dung của hoạt động nghiên cứu thị trường xoay quanh các vấn đề trên.
Trong đó, nghiên cứu về người tiêu dùng là quan trọng nhất. Thị trường được

Phạm Thị Thêm

Lớp cao học QTDN 2002 - 2004


-24Luận văn tốt nghiệp cao học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

hình thành từ nhiều tập công chúng có các đặc tính rất khác nhau và do vậy để
nghiên cứu thị trường được hiệu quả, cần thiết phải phân đoạn thị trường.
- Đoạn thị trường là một nhóm người tiêu dùng có phản ứng như nhau đối với
cùng một tập hợp những kích thích của Marketing.
- Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia người tiêu dùng thành nhóm trên

-

Phân đoạn thị trường:

Phạm Thị Thêm

Lớp cao học QTDN 2002 - 2004



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status