Giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh ngành nghề gỗ mỹ nghệ trên địa bàn huyện trảng bom, tỉnh đồng nai năm 2013 - Pdf 43

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là xu thế tất
yếu của tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.
Vì vậy phát triển ngành nghề ở nông thôn là tạo tiền đề đẩy nhanh
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Ngành nghề gỗ mỹ nghệ truyền thống có lịch sử từ lâu đời và được duy
trì cho tới ngày hôm nay. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng, trong việc thúc
đẩy nhanh phân công lao động xã hội; thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và khai thác các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn; tạo ra
các sản phẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu; góp phần giữ vững và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và là nhân tố quan trọng tăng thu nhập cho
dân cư và phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.
Việt Nam là một trong 4 quốc gia xuất khẩu mặt hàng gỗ chế biến lớn
nhất khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh sự phát triển của ngành công nghiệp gỗ
chế biến, Việt Nam còn có thế mạnh về nghề gỗ mỹ nghệ.
Các sản phẩm gỗ mỹ nghệ của Việt Nam không chỉ được đánh giá cao
về chất lượng, mà còn phong phú về mẫu mã, chủng loại, phục vụ cho mọi
nhu cầu đa dạng trong cuộc sống. Sản phẩm gỗ mỹ nghệ của Việt Nam đã có
mặt ở thị trường hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Đồng Nai là một tỉnh công nghiệp xếp hàng thứ 4 của cả nước, là một
địa phương có nhiều ngành nghề truyền thống lâu đời trong đó có nghề gỗ
mỹ nghệ của huyện Trảng Bom.
Nghề gỗ mỹ nghệ ở huyện Trảng Bom đang có chiều hướng mai một
với nhiều lý do khác nhau: như thiếu vốn, thiếu mặt bằng sản xuất, chủ yếu
các cơ sở sản xuất sử dụng đất nhà ở là chính, do đó còn gặp nhiều khó khăn.


2

3

nghệ trên địa bàn huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai năm 2013” làm đề
tài nghiên cứu của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Khái quát tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh gỗ mỹ nghệ,
nêu những thuận lợi, khó khăn và các yếu tố tác động đến việc phát triển
sản xuất kinh doanh gỗ mỹ nghệ, để từ đó ta thấy được vai trò của việc
phát triển ngành nghề gỗ mỹ nghệ tại địa phương.
Thông qua những kết quả điều tra, luận văn đánh giá thực trạng sản
xuất kinh doanh ngành nghề gỗ mỹ nghệ trên địa bàn huyện Trảng Bom,
từ đó đề xuất những định hướng, mục tiêu và xây dựng các giải pháp nhằm
phát triển sản xuất kinh doanh ngành nghề gỗ mỹ nghệ trong giai đoạn
hiện.
Mục tiêu cụ thể
Để giải quyết mục tiêu tổng quát đề tài cần nghiên cứu ba mục tiêu cụ
thể như sau:
Thứ nhất : Khái quát tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh gỗ
mỹ nghệ, nêu những thuận lợi, khó khăn và các yếu tố tác động đến việc phát
triển sản xuất kinh doanh gỗ mỹ nghệ để khẳng định việc phát triển ngàng
nghề gỗ mỹ nghệ tại địa bàn huyện Trảng Bom là phụ hợp trong giai đoạn
hiện nay.
Thứ hai: Thông qua kết quả điều tra, phân tích thực trạng sản xuất
kinh doanh gỗ mỹ nghệ trên địa bàn huyện Trảng Bom. Từ đó, đánh giá
những thành công và hạn chế của các cơ sở sản xuất kinh doanh trong thời
gian qua.


4

số hộ sản xuất kinh doanh ngày càng thu hẹp.
Mục đích nghiên cứu: Nghiện cứu thực trạng sản xuất và những tác
động ảnh hưởng đến phát triển sản xuất gỗ mỹ nghệ.
Các giải pháp đề xuất: Phát triển ngành nghề gỗ mỹ nghệ trên địa bàn
huyện Trảng Bom trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Các kết quả nghiên cứu của đề tài về Phát triển ngành nghề gỗ mỹ nghệ
trên địa bàn huyện Trảng Bom năm 2013 và một số giải pháp đề xuất là tài
liệu tham khảo có giá trị cho công tác Phát triển ngành nghề gỗ mỹ nghệ.
Việc nghiên cứu lý luận và gắn với thực tiễn của địa bàn nhằm hướng
tới những giải pháp mang tính khả thi sẽ có những ý nghĩa đáng kể cho định
hướng phát triển và quy hoạch cụm làng nghề gỗ mỹ nghệ.
Trong đề tài đã đưa ra được các giải pháp để phát triển ngành nghề gỗ
mỹ nghệ vì vậy đề tài có thể giúp địa phương có những giải pháp để phát
triển ngành nghề gỗ mỹ nghệ hiện nay và trong tương lai.
Qua đề tài này, giúp cho người đọc hiểu hơn về ngành nghề gỗ mỹ
nghệ truyền thống và hiểu hơn về một số Nước sản xuất ngành ghề truyền
thống mà đề tài đã đề cập. Song qua đề tài này người đọc sẽ được tham khảo
các giải pháp phát triển của ngành nghề gỗ mỹ nghệ và phát triển cụm làng
nghề mỹ nghệ mà đề tài đã đưa ra.
6. Cấu trúc của luận văn
Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiến về phát triển sản xuất ngành ngề
gỗ mỹ nghệ.


6

Chương 2: Đăc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tế về phát triển sản xuất kinh

Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề;
Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt nam;


8

Sử dụng nguyên liệu tại chổ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất;
Là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng; có đóng
góp đáng kể về kinh tế vào ngân sách nhà nước, [19].
Như vậy Vậy nghiên cứu giải pháp phát phát triển sản xuất kinh doanh
ngành nghề gỗ mỹ nghệ truyền thống là góp phần bảo tồn và phát huy bản
sắc của dân tộc Việt Nam.
1.1.1. Khái niệm về ngành nghề truyền thống
Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những
sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày
nay hoặc có nguy cơ bị mai một thất truyền.
Tiêu chí công nhận ngành nghề thủ công truyền thống
Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề
nghị công nhận;
Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc;
Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của
làng nghề.
1.1.2. Ngành nghề gỗ mỹ nghệ truyền thống
Ngành nghề gỗ mỹ nghệ truyền thống là một trong những ngành nghề
tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử
phát triển kinh tế của nước ta còn tồn tại cho đến ngày nay.
Sản phẩm gỗ mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền thống và
độc đáo, có giá trị chất lượng cao. Sản phẩm gỗ mỹ nghệ vừa là hàng hoá,
vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di
sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá của dân tộc.

triển du lịch như gốm mỹ nghệ, gỗ mỹ nghệ, dệt thổ cẩm… Trong đó, làng


10

nghề được nhắc đến đầu tiên là gốm mỹ nghệ. Gốm Biên Hòa nổi danh từ lâu
bởi chất liệu men đặc trưng, sự sáng tạo trong ý tưởng thiết kế, kết hợp nét
văn hóa cổ và hiện đại, trang trí hài hòa với họa tiết, tinh túy qua từng nét
vẽ… Mặc dù sự tồn tại của các cơ sở sản xuất kinh doanh gốm mỹ nghệ ở nội
ô thành phố Biên Hòa không còn là những làng nghề đúng nghĩa với điều
kiện thực tế, nhưng những giá trị truyền thống của gốm mỹ nghệ vẫn còn
nguyên và càng được củng cố, giữ gìn khi kết hợp đưa vào phát triển cùng
với du lịch.
Bên cạnh đó, làng nghề gỗ mỹ nghệ ở xã Bình Minh, huyện Trảng
Bom, với sản phẩm được tận dụng từ gỗ “phế thải” đã mang lại sự danh tiếng
với những sản phẩm như thuyền buồm, máy bay, ô tô, xích lô, xe tăng…
Đầu ra của sản phẩm là quyết định sự tồn vong của các cơ sở sản xuất.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói chung, huyện Trảng Bom nói riêng
phần lớn các cơ sở gặp không ít khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm,
nhiều cơ sở sản phẩm làm ra không bán được để hàng tồn kho rất nhiều vì
vậy dẫn đến việc bán phá giá [5]. Song các cơ sở thường không tiếp cận được
thị trường trực tiếp (bán trực tiếp cho người tiêu dùng), mà bán thông qua hệ
thống bán lẻ và đây cũng là một phần nguyên nhân đã dẫn đến tình trạng ép
giá sản phẩm.
1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành nghề sản xuất kinh
doanh thủ công mỹ nghệ
Ngành nghề thủ công mỹ nghệ xuất hiện từ nhu cầu đòi hỏi của cuộc
sống con người, sự hưng thịnh của từng ngành nghề đều chịu sự ảnh hưởng
của các nhân tố tác động đến nó qua từng thời kỳ. Nhân tố ảnh hưởng thì có
nhiều, ở đây tôi xin trình bày một số tác động có tính chủ yếu như sau:

không có thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đây là yếu tố quan trọng nhất của các
làng nghề trong giai đoạn hiện nay. Thị trường đầu tiên của làng nghề chính
là chợ làng nhằm phục vụ địa phương và các vùng lân cận, thị trường tại chỗ


12

nhỏ hẹp, sức tiêu thụ chậm; phương thức thanh toán trên thị trường chủ yếu
là trao tay, thỏa thuận miệng về quan hệ tín dụng giữa người sản xuất, người
tiêu dùng và giữa các chủ thể kinh tế. Cùng với sự phát triển kinh tế thị
trường, sản phẩm của làng nghề được tiêu thụ rộng rãi không chỉ tại nơi sản
xuất mà còn được cung cấp ở các địa phương khác trên toàn quốc và xuất
khẩu ra thị trường nước ngoài.
Bên cạnh thị trường đầu ra, thị trường yếu tố đầu vào có ảnh hưởng rất
lớn đến sự phát triển của ngành này. Sau nhiều năm phát triển, nhu cầu
nguyên liệu ngày càng tăng, các địa phương thay nhau khai thác bừa bãi,
thiếu quy hoạch và đầu tư dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn nguyên liệu gỗ,
tre, trúc sào, giang, nứa, mây…Nguyên liệu vải có chất lượng phục vụ cho
sản xuất hàng thêu hầu như phải nhập khẩu hoàn toàn khiến cho chi phí
nguyên liệu chiếm từ 60-80% chi phí sản xuất. Hay nguồn nguyên liệu đất sét
phù hợp không có sẵn đã hạn chế sản xuất ra những sản phẩm gốm chất
lượng cao phục vụ nhu cầu của thị trường thế giới.
Để khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ công, nhất là ngành
nghề thủ công mỹ nghệ, chúng ta cần có chiến lược dài hạn để phát triển
nguồn nguyên vật liệu cho ngành nghề thủ công mang tính bền vững [34].
1.2.1.2. Chính sách của nhà nước.
Đối với Các làng nghề TCTT, TCMN, cũng như nhiều ngành nghề
khác, bao giờ cũng hoạt động trong một môi trường thể chế. Nói cách khác,
chính sách và pháp luật của nhà nước luôn luôn tác động trực tiếp đến hoạt
động sản xuất, kinh doanh và sự phát triển bền vững ở các làng nghề. Thực

thị trường đều có hệ thống pháp luật riêng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi cho hoạt động
kinh doanh của từng doanh nghiệp. Đặc biệt đối với từng cơ sở, doanh nghiệp
tham gia vào hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng của quan hệ giữa các chính
phủ, các hiệp định kinh tế quốc tế ... Các cơ sở, doanh nghiệp này cũng đặc


14

biệt quan tâm tới sự khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia. Sự khác biệt
này có thể sẽ làm tăng hoặc giảm khả năng cạnh tranh của cơ sở, doanh
nghiệp những đièu này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động, chính sách kế
hoạch chiến lược phát triển, loại hình sản phẩm cơ sở, danh nghiệp sẽ cung
cấp cho thị trường.
Vì vậy, các cơ sở, doanh nghiệp luôn luôn cần một nền kinh tế ổn định
một môi trường pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, bảo vệ lợi ích cho các cơ sở,
doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức ... trong nền kinh tế. Khuyến khích phát triển,
tham gia khả năng cạnh tranh [35].
1.2.1.4. Nhân tố xã hội
Nhân tố xã hội thường biến đổi hoặc thay đổi dần dần theo thời gian
nên đôi khi khó nhận biết nhưng lại qui định các đặc tính của thị trường mà
bất cứ cơ sở, doanh nghiệp nào cũng phải tính đến khi tham gia vào thị
trường đó cho dù có muốn hay không. Nhân tố xã hội có thể bao gồm.
Lối sống, phong tục, tập quán; Thái độ tiêu dùng; Trình độ dân trí;
Ngôn ngữ; Tôn giáo; Thẩm mỹ...
Chúng quyết định hành vi của người tiêu dùng, quan điểm của họ về
sản phẩm, dịch vụ, chúng là những điều mà không ai có thể đi ngược lại được
nếu muốn tồn tại trong thị trường đó. Ví dụ như ở những thị trường luôn có
tư tưởng đề cao sản phẩm nội địa như ấn Độ, Nhật Bản thì các sản phẩm
ngoại nhập sẽ kém khả năng cạnh tranh so với các Cơ sở, Doanh nghiệp của

doanh nghiệp nào muốn thành công cũng cần có một hệ thống thu thập, xử lý,
lưu trữ, truyền phát thông tin một cách chính xác, đầy đú nhanh chóng hiệu
quả về thị trường và đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, khó học công nghệ tiên
tiến sẽ tạo ra một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại của nền kinh tế
quốc dân nói chung cũng như thị trường của các cơ sở và doanh nghiệp gỗ
mỹ nghệ nói riêng. Vì vậy, có thể nói rằng khoa học công nghệ là tiền đề cho
các cơ sở và doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình [35].


16

Bộ Khoa học Công nghệ đã triển khai dự án "Nghiên cứu ứng dụng và
phát triển công nghệ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn" với một số chỉ tiêu như: về trình độ công nghệ: các thiết bị là sản
phẩm mới có tính năng kỹ thuật, kiểu dáng, chất lượng và giá cả có khả năng
cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực. Về sở
hữu trí tuệ: Có ít nhất 10% số nhiệm vụ có giải pháp được công nhận sáng
chế hoặc giải pháp hữu ích, 15% số nhiệm vụ đã được chấp nhận đơn yêu cầu
bảo hộ sở hữu công nghiệp…[8].
Ngành nghề thủ công mỹ nghệ nước ta đang từ truyền thống tiến lên
hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế. Từ đó, nhu cầu đòi hỏi phải tổ chức lại
sản xuất trong mỗi cơ sở sản xuất, mỗi doanh nghiệp và trong phạm vi từng
làng nghề. Thị trường nội địa và xuất khẩu phát triển nhanh chóng đã đặt ra
yêu cầu hoàn toàn mới đối với nghề thủ công mỹ nghệ. Trước hết, là đòi hỏi
số lượng hàng hoá tăng gấp bội, thời hạn giao hàng bị khống chế chặt chẽ
bằng hợp đồng; do đó, yêu cầu tăng nhanh năng suất lao động luôn đặt ra rất
bức bách. Nhiều nghề đã sử dụng khá phổ biến các loại máy nhỏ trong sản
xuất hàng ngày, đặc biệt là nghề mộc, hầu như đã sử dụng máy trong tất cả
các công đoạn của sản xuất. Nhiều người còn dựa theo máy của công nghiệp
để tự chế tạo các máy đơn giản dùng động cơ điện, sử dụng rất hiệu quả trong

1.2.1.7. Ô nhiễm môi trường
Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020. Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không thể
tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, là cơ sở quan trọng bảo đảm
phát triển bền vững đất nước. Trong thời gian qua, việc khôi phục và phát
triển ngành nghề TCMN đã mang lại hiệu quả cao, góp phần tạo việc làm,
nâng cao thu nhập và đời sống cho người lao động, xoá đói giảm nghèo tại
nhiều địa phương. Tuy nhiên, do công tác quy hoạch và tổ chức thực hiện
phát triển ngành nghề này tại một số địa phương chưa được quan tâm đúng
mức; nhiều làng nghề tiếp tục phát triển dựa vào sản xuất thủ công, công


18

nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước, ảnh hưởng trực
tiếp tới sức khoẻ cộng đồng.
Vấn đề ô nhiễm môi trường mà các làng nghề TCMN đang phải đối
mặt không chỉ giới hạn trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến
người dân ở các vùng lân cận. Điều này là do cả người lao động và người
thuê lao động đều chỉ nghĩ đến việc tăng thu nhập và lợi ích kinh tế chứ chưa
nghĩ đến những ích lợi của công tác bảo vệ môi trường cũng như thực thi các
quy định về an toàn lao động.
Chính phủ và các cơ quan hữu quan của từng địa phương cần quan
tâm tới các vấn đề về sức khoẻ và môi trường của các chủ thể tham gia vào
sản xuất thủ công (doanh nghiệp, làng nghề) và nâng cao nhận thức của họ.
Nếu chậm trễ, tai hoạ môi trường, về bệnh tật, sức khoẻ nhân dân sẽ ngày
càng nghiêm trọng và các làng nghề chắc chắn đứng trước nguy cơ phải di
dời đi nơi khác [36].
1.2.2. Trình độ đào tạo, trình độ tay nghệ của thợ sản xuất
Ngày nay, trong quá trình thực hiện CNH, ngành nghề nông thôn

nguyên bản có vai trò hết sức quan trọng để mở rộng thị trường, cạnh tranh
với sản phẩm của các nước châu Á khác. Công tác bảo tồn giá trị truyền
thống sẽ góp phần nâng cao bản sắc văn hoá Việt Nam, sử dụng các sản
phẩm thủ công trong sinh hoạt hàng ngày đồng nghĩa với việc ‘’bảo tồn
truyền thống trong môi trường sống”. Yếu tố truyền thống có vai trò ảnh
hưởng nhất định đối với sự phát triển của các làng nghề TCMN. Đây là nhân
tố quan trọng không chỉ chi phối các hoạt động sản xuất mà chi phối cả tiêu
dùng và đời sống của cư dân. Sự ổn định của các làng nghề là điều kiện tạo ra
tính truyền thống và truyền thống lại góp phần giúp cho làng nghề phát triển
truyền thống cao hơn. Yếu tố truyền thống hiện nay có tác dụng hai mặt, vừa
tích cực vừa tiêu cực đối với sự phát triển của các làng nghề. Vấn đề đặt ra là
làm sao ứng dụng được sự tiến bộ của khoa học- công nghệ hiện đại nhưng
vẫn giữ được những yếu tố truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc và những


20

sản phẩm của làng nghề truyền thống phải được tiếp nhận trong thị trường
của xã hội hiện nay [10].
1.2.4. Sở hữu trí tuệ
Ngày nay, kinh nghiệm và thực tiễn thế giới chỉ ra rằng: Một nền kinh
tế phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng cao được hình thành dựa trên một
trong những nền tảng là hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ vững chắc. Sở
hữu trí tuệ (SHTT) là một yếu tố then chốt trong công việc hoạch định chính
sách của chính phủ cũng như trong việc xây dựng kế hoạch chiến lược của
doanh nghiệp. Đối với ngành nghề TCMN để các làng nghề phát triển bền
vững, trong thời gian qua các cơ quan chức năng đã có những dự án nghiên
cứu và triển khai nhằm từng bước khắc phục tình trạng sản xuất gia công tại
các làng nghề thủ công mỹ nghệ nhằm mang lại những sản phẩm có giá trị
cao hơn. Bộ NN-PTNT và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã phối

chuyện huyền bí, đức tin về văn hoá xã hội, các nghi lễ và lễ hội. Cả hai yếu
tố này được phát triển hàng trăm năm trong môi trường văn hoá Việt Nam và
đã trở thành một di sản văn hoá được kế thừa của cả vùng. Các sản phẩm thủ
công gắn bó mật thiết với cuộc sống con người, được dùng trong các lễ hội
và trang trí mang tính tôn giáo hay được dùng làm hàng hoá và được đánh giá
cao vì công dụng và vẻ đẹp của chúng.
Phát triển ngành nghề TCMN có tác động tích cực đến hoạt động văn
hoá tại các địa phương. Do đặc điểm nghề nghiệp, tại các địa bàn có ngành
nghề truyền thống phát triển thường có những nét đẹp của đời sống văn hoá
rất riêng, bởi người thợ hành nghề bên cạnh mục đích kinh tế còn kết hợp với
các yếu tố khác thiêng liêng, mật thiết, nó trở thành chất kết dính bền vững
trong các làng nghề. Đó là những hoạt động hướng về cội nguồn, đoàn kết để
phát triển. Ở hầu hết các làng nghề đều tổ chức các hoạt động mang tính lễ
hội để tưởng nhớ đến công lao của những ông tổ đã dạy và truyền nghề cho
dân. Những người cùng làm nghề hình thành nên các hội nghề nghiệp nhằm
hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong việc giữ gìn, phát triển nghề nghiệp và đổi mới


23

cho phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Đó cũng là những nét văn
hoá thể hiện trong quá trình sản xuất-kinh doanh.
Văn hoá làng nghề không chỉ được thể hiện rõ, nhận biết ngay trong
sản phẩm TCMN của các làng nghề, mà còn thể hiện ngay trong phương thức
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp cũng như trong thái độ ứng xử của mỗi
doanh nhân. Chúng ta xuất khẩu hàng TCMN ra thị trường thế giới càng
nhiều càng tốt, nhưng tất cả cần phải toát lên bản sắc văn hoá Việt Nam, làm
cho sản phẩm, hàng hoá mang thương hiệu Việt Nam nhưng vẫn có những
nét riêng của từng làng nghề, không lẫn được với sản phẩm, hàng hoá của
những nước khác, cũng tức là mang văn hoá kinh doanh của Việt Nam ra thế

phân chia ngành nghề thủ công truyền thống thành các nhóm chính là:
Các ngành nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ như: gỗ mỹ nghệ,
chạm khắc gỗ, gốm sứ mỹ nghệ, sơn mài, thêu, ren, thảm, khảm, chạm khắc
đá, chạm, mạ vàng bạc, dệt tơ tằm, thổ cẩm, mây tre đan các loại...
Các ngành nghề sản xuất công cụ sản xuất như : rèn sắt, làm cày bừa,
nông cụ, đóng thuyền...
Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông
thường như : dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ, rá, sọt, bồ, bện thừng, dệt vải,
may mặc...
Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như : nề, mộc, hàn,
đúc đồng,gang, sản xuất vật liệu xây dựng...
Các ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm như : xay xát, làm
bún, bánh, đường mật, làm tương, đậu phụ, nấu rượu, chế biến hải sản các
loại [32].
1.3.1.4. Tính mỹ thuật, độc đáo của sản phẩm
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ: Là sự kết tinh và tính kế tục qua nhiều
thế hệ của lao động thủ công Lao động trong các làng nghề truyền thống chủ


25

yếu là lao động thủ công nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay,
vào đầu óc thẩm mỹ và tính sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân.
Phương pháp dạy nghề: Chủ yếu được thực hiện theo phương pháp
truyền nghề. Hầu hết các làng nghề truyền thống dù hình thành bằng con
đường nào đi nữa thì chúng phải có các nghệ nhân làm nòng cốt và là người
thầy hướng dẫn để phát triển các làng nghề. Mỗi làng đều có một tổ nghề
chính là người đầu tiên dạy nghề, truyền nghề, đem bí quyết nghề nghiệp ở
nơi khác đào tạo ra những người thợ kế tục theo phương pháp “cầm tay chỉ
việc”, “vừa làm vừa học” ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status