1
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO NGHIÊN CỨU
Vùng ĐBSCL có diện tích tự nhiên khoảng 3,97 triệu ha (chiếm khoảng 12%
diện tích đất của cả nước), dân số trên 17,7 triệu người, chiếm hơn 20% dân số cả
nước, GDP của vùng chiếm khoảng 27% GDP của cả nước. Hàng năm toàn vùng sản
xuất hơn 50% sản lượng lúa và hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước, thu về
nguồn ngoại tệ khoảng 2,7 tỉ USD/năm. Vì vậy, có thể khẳng định sản xuất và chế
biến lúa gạo là thế mạnh của vùng ĐBSCL. Sản xuất và chế biến lúa gạo đã góp phần
rất lớn vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước, là tiền đề cho quá trình
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng.
Với vị trí là trung tâm của vùng ĐBSCL, thành phố Cần Thơ là nơi hội tụ của
nhiều tuyến giao thông thủy, bộ và hàng không quan trọng. Có hai con sông lớn là
sông Tiền và sông Hậu trải dài khắp các tỉnh, thành trong vùng, hệ thống các cảng
biển lớn nhất vùng như cảng Cái Cui, cảng Cần Thơ, đặc biệt là có kênh Quan Chánh
Bố cho tàu trọng tải lớn ra vào sông Hậu đã được khởi công vào năm 2009 và dự kiến
hoàn thành vào năm 2012. Quốc lộ 1A đi từ TP. HCM đến Cần Thơ và đến tỉnh Cà
Mau, nơi tận cùng của tổ quốc; các tuyến quốc lộ từ Cần Thơ đi đến các tỉnh Vĩnh
Long, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang hướng về Phnôm Pênh
(Campuchia); cùng với đó là sân bay Cần Thơ được đầu tư nâng cấp để trở thành sân
bay quốc tế, hoàn thành và đưa vào khai thác đầu năm 2011. Với những lợi thế trên,
thành phố Cần Thơ có đủ điều kiện để phát triển công nghiệp chế biến lúa gạo và trở
thành trung tâm chế biến lúa gạo của vùng ĐBSCL.
Trong thời gian qua các doanh nghiệp chế biến lúa gạo của thành phố Cần Thơ
đã có những bước phát triển đáng khích lệ như: giá trị sản xuất kinh doanh của năm
sau đều tăng cao so với năm trước, kim ngạch xuất khẩu gạo tăng trưởng khá cao
trong nhiều năm liền, thị trường xuất khẩu được mở rộng, chất lượng và mẫu mã sản
2
phẩm ngày càng được cải tiến, qua đó đã góp phần làm nâng cao hiệu quả kinh doanh
của các doanh nghiệp và nâng cao đời sống cho người trồng lúa.
Tuy vậy, nếu so với những tiềm năng và yêu cầu của quá trình hội nhập kinh
Để giải quyết mục tiêu chung, luận án nghiên cứu ba mục tiêu cụ thể sau:
Thứ nhất: Khái quát tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh lúa gạo,
cùng với hệ thống hóa các lý luận và thực tiễn để khẳng định việc phát triển sản xuất
kinh doanh các doanh nghiệp chế biến lúa gạo là phù hợp với tình hình thực tiễn và
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là sau khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ
chức thương mại thế giới (WTO).
Thứ hai: Thông qua kết quả điều tra, phân tích thực trạng sản xuất kinh
doanh các doanh nghiệp chế biến lúa gạo thành phố Cần Thơ. Từ đó, đánh giá những
thành công và hạn chế của các doanh nghiệp trong thời gian qua.
Thứ ba: Đề xuất các giải pháp để phát triển sản xuất kinh doanh các doanh
nghiệp chế biến lúa gạo của thành phố Cần Thơ đến năm 2020 nhằm góp phần vào
việc thúc đẩy kinh tế xã hội của thành phố và cả vùng phát triển một cách bền vững.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu của luận án: Là quá trình hình thành và phát triển
của các doanh nghiệp chế biến lúa gạo TP. Cần Thơ.
2. Phạm vi nghiên cứu của luận án: Là các doanh nghiệp chế biến lúa gạo
trên địa bàn TP. Cần Thơ. Số liệu nghiên cứu của luận án tập trung từ năm 2000 đến
năm 2009, các giải pháp đề xuất sẽ được áp dụng từ nay đến năm 2020, giai đoạn mà
nước ta đẩy mạnh phát triển công nghiệp để cơ bản trở thành một nước công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
IV. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Thời gian qua, việc nghiên cứu ngành hàng lúa gạo đã được nhiều tác giả quan
tâm. Do những hạn chế về thông tin và điều kiện nghiên cứu, dưới đây tác giả xin nêu
một số công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án.
4
Tác giả Nguyễn Công Thành (2010), Viện lúa ĐBSCL, trong công trình
nghiên cứu “Đánh giá và phát triển sản xuất, xuất khẩu lúa gạo và tập huấn nâng
cao nhận thức cho các thành viên trong hoạt động này tại tỉnh Hậu Giang”, đã
phân tích, đánh giá tình hình sản xuất, xuất khẩu lúa gạo và thực trạng về nhận thức
của tất cả các thành viên có liên quan. Từ đó tập huấn nhằm nâng cao nhận thức và sự
tăng trưởng bảy ngành chế biến thực phẩm trên địa bàn thành phố như: ngành chế
biến thịt, chế biến thủy hải sản, chế biến dầu thực vật, chế biến bơ, sữa, sản xuất sản
phẩm từ tinh bột (mì ăn liền), sản xuất bánh, kẹo, sản xuất rượu, bia, nước uống
không cồn.
Từ những phân tích đó, tác giả đã đề xuất hệ thống 9 giải pháp để nâng cao
năng lực cạnh tranh của sản phẩm và các kiến nghị với Chính phủ, Bộ, ngành để đẩy
mạnh tăng trưởng bảy ngành chế biến thực phẩm nêu trên. Tuy nhiên, đề tài đã không
sử dụng phương pháp phân tích SWOT và phương pháp chuyên gia để phân tích, để
trên cơ sở đó đưa ra các hệ thống giải pháp. Vì đây là đề tài nghiên cứu về ngành
CNCB thực phẩm nên trong đề tài không có nghiên cứu về chế biến lúa gạo [20].
Tác giả Lê Văn Gia Nhỏ (2005), trong công trình nghiên cứu “Phân tích
ngành hàng lúa gạo thơm tỉnh Long An và lúa gạo cao sản tỉnh An Giang”, đã
phân tích hiệu quả kinh doanh của các tác nhân tham gia ngành hàng lúa gạo, phân
tích tác động chính sách của Chính phủ đến ngành hàng lúa gạo xuất khẩu, đánh giá
lợi thế so sánh của bốn nhóm mặt hàng gạo xuất khẩu: gạo thơm đặc sản, gạo chất
lượng cao, gạo chất lượng trung bình và gạo chất lượng thấp, từ đó đề xuất các chính
sách hỗ trợ quá trình sản xuất, chế biến và xuất khẩu gạo.
Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng, nông dân là đối tượng đạt được lợi
ích nhiều nhất trong các tác nhân tham gia ngành hàng lúa gạo. Bên cạnh đó, các
chính sách của Nhà nước liên quan đến sản xuất, chế biến và xuất khẩu gạo gần như
không ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của các tác nhân tham gia trong quá trình
sản xuất và xuất khẩu gạo. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy, việc sản xuất và xuất
khẩu gạo của Việt Nam có lợi thế so sánh cao, đặc biệt là nhóm gạo thơm đặc sản và
nhóm gạo chất lượng cao.
6
Từ những phân tích đó, tác giả đã đề xuất ba chính sách đối với Chính phủ.
Một là, tập trung vào việc phát triển vùng nguyên liệu và chế biến xuất khẩu gạo đặc
sản và gạo chất lượng cao. Hai là, khuyến khích tư nhân tham gia xuất khẩu nhằm
làm tăng khả năng cạnh tranh trong thị trường thu mua lúa gạo và tăng khả năng tìm
kiếm thị trường xuất khẩu gạo trên thế giới. Ba là, các chính sách liên quan đến vấn
pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động chế biến, phân phối và giải pháp nâng cao giá
trị tăng thêm cho toàn chuỗi.
Do mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích chuỗi giá trị gạo của thành phố
Cần Thơ cho nên trong phần phân tích thực trạng tác giả không nghiên cứu sâu vào
hoạt động chế biến, mà chỉ trình bày khái quát làm cơ sở bổ sung để đề xuất một số
giải pháp nâng cao chuỗi giá trị gạo [6].
Tác giả Diệp Hoàng Sơn (2008), trong công trình nghiên cứu “Hoạch định
chiến lược marketing mặt hàng gạo xuất khẩu đồng bằng sông Cửu Long”, đã
phân tích, đánh giá các nội dung như: đánh giá tình hình sản xuất lúa gạo khu vực
ĐBSCL, phân tích hiện trạng chế biến và kinh doanh gạo xuất khẩu của các doanh
nghiệp đóng trên địa bàn, tìm hiểu tình hình sản xuất, tiêu thụ gạo trên thế giới và xây
dựng chiến lược marketing xuất khẩu gạo.
Kết quả của công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng ĐBSCL có nhiều tiềm năng
sản xuất lúa gạo, đủ cung cấp nhu cầu an ninh lương thực trong nước và có dư để
xuất khẩu từ 4 đến 4,5 triệu tấn gạo đến năm 2015, Việt Nam xếp hạng trên trung
bình so với các nước xuất khẩu gạo, nhu cầu tiêu thụ gạo của thế giới trong thời gian
tới rất cao nên sẽ thuận lợi cho việc xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, sản xuất lúa ở đây vẫn còn manh mún, nguồn nguyên liệu mang tính thời
vụ cao, hệ thống kho bãi dự trữ thiếu, hoạt động marketing trong các doanh nghiệp
kinh doanh xuất khẩu gạo chưa được xây dựng hoàn chỉnh và nghiêm túc, hệ thống
thông tin chưa hoàn thiện.
Trên cơ sở của những đánh giá đó, tác giả tiến hành xây dựng chiến lược
marketing hỗn hợp, bao gồm: sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị. Đồng thời,
8
kiến nghị một số giải pháp cần phối hợp đồng bộ các thành phần: nông dân sản xuất
lúa, doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo, hệ thống tín dụng và Nhà nước [25].
Qua các công trình nghiên cứu trên, có thể thấy rằng chưa có một công trình
nào nghiên cứu một cách khoa học, có hệ thống và đề xuất các giải pháp có tính chiến
lược nhằm phát triển sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp chế biến lúa gạo.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
lúa gạo của thành phố Cần Thơ trong thời gian qua.
Chương 3: Giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp chế biến
lúa gạo của thành phố Cần Thơ đến năm 2020.
Vì thời gian và trình độ của nghiên cứu sinh còn hạn chế nên luận án không
thể tránh được những thiếu sót nhất định, rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và
các bạn.
10
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN LÚA GẠO
Với phương pháp nghiên cứu nêu ở phần mở đầu, chương 1 sẽ trình bày sự
hình thành và phát triển của các doanh nghiệp chế biến lúa gạo, đặc điểm hoạt động
sản xuất kinh doanh, vai trò của các doanh nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân, cũng
như những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp. Trong chương này, cũng sẽ nghiên cứu kinh nghiệm phát triển sản xuất kinh
doanh lúa gạo của một số doanh nghiệp trong nước và trên thế giới nhằm rút ra các
bài học kinh nghiệm để có thể vận dụng cho các doanh nghiệp chế biến lúa gạo của
thành phố Cần Thơ trong thời gian tới.
1.1. KHÁI NIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với
xã hội loài người; mỗi doanh nghiệp cần phải nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của thị
trường và đưa ra những chiến lược đúng đắn nhằm đạt được những mục tiêu mà
doanh nghiệp đã đề ra.
Hoạt động sản xuất kinh doanh có các đặc điểm sau:
Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh tế, chủ thể kinh tế có thể là
cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp.
Khác với hoạt động tự túc tự cấp phi kinh doanh, động cơ và mục đích của
hoạt động sản xuất kinh doanh là sản xuất sản phẩm vật chất hay dịch vụ không phải
để tự tiêu dùng mà để phục vụ cho nhu cầu của người khác nhằm thu lợi nhuận.
Sản phẩm của hoạt động sản xuất kinh doanh có thể cân, đong, đo đếm được,
dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời
nhiều nhất [1].
12
1.2. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ
BIẾN LÚA GẠO
Theo chiều dài lịch sử, lúc đầu nền kinh tế của mỗi nước đều là nền kinh tế tự
nhiên, mang nặng tính tự cấp, tự túc, đa số sống bằng nghề nông. Ngoài việc trồng
trọt, chăn nuôi, đánh bắt, khai thác để có sản phẩm, người nông dân đã tự mình bảo
quản, chế biến, thậm chí tự mình chế tạo ra cả công cụ lao động. Trong dân cư hầu
như không có hoặc có rất ít sự phân công lao động xã hội và sự trao đổi sản phẩm.
Dần dần, lực lượng sản xuất và năng suất lao động tăng lên xuất hiện sản
phẩm thừa và do những yêu cầu của cuộc sống dẫn đến nhu cầu trao đổi sản phẩm
thừa đó với nhau. Trao đổi tác động trở lại sản xuất và thúc đẩy sự phân công xã hội.
Sự hình thành các loại lao động sản xuất đã làm cho sản phẩm của từng loại lao động
đó chuyển thành hàng hóa, thành những vật ngang giá với nhau, dùng làm vật phẩm
trao đổi với nhau và hình thành thị trường. Kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường
từng bước mở rộng ra, đưa đến chỗ ngày tăng thêm những ngành công nghiệp riêng
biệt tách ra khỏi nông nghiệp. Theo đó, CNCB tách ra trở thành một ngành kinh tế
độc lập. Ngành này có mặt ở các hoạt động chế biến khác nhau, tạo ra nhiều loại sản
phẩm hàng hóa đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau và chính từ đây ngành CNCB các
sản phẩm từ nông nghiệp như: lúa gạo, lúa mì, ngũ cốc, hoa quả,… đã được hình
thành.
Như vậy, sự hình thành và phát triển của CNCB nói chung, CNCB lúa gạo nói
riêng là do quá trình phân công lao động xã hội dưới tác động của quá trình phát triển
lực lượng sản xuất được diễn ra ở một số quốc gia trên thế giới.
Ngày nay, trong điều kiện thế giới đã diễn ra cuộc cách mạng khoa học công
nghệ, xu hướng quốc tế hóa, khu vực hóa sản xuất và dịch vụ diễn ra mạnh mẽ; trình
độ lực lượng sản xuất và xã hội hóa lao động ở mức rất cao, mọi lĩnh vực trong nền
kinh tế của các nước đều chịu tác động sâu sắc bởi các nhân tố quốc tế, thì sự hình
thành và phát triển CNCB ở mỗi nước cũng không thể tách rời các tác động quốc tế
nguyên liệu cho doanh nghiệp nhằm ổn định sản xuất kinh doanh và hướng tới phát
triển một cách bền vững.
14
Các doanh nghiệp phát triển theo hình thức Công ty cổ phần; trong đó, nông
dân, các hợp tác xã nông nghiệp sẽ là những cổ đông của công ty nhằm góp phần làm
nâng cao chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo [28].
1.3. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP CHẾ BIẾN LÚA GẠO
1.3.1. Quy trình chế biến lúa gạo
Quy trình chế biến lúa gạo hiện nay được thể hiện ở biểu đồ 1.1 dưới đây:
Lúa
nguyên liệu
Sàng tạp
chất
Bóc vỏ Thùng rê Sàng
phân ly
Sàng tách
đá
Cân,
Đóng gói
Máy
tách màu
Thùng chứa
thành phẩm
Trống
chọn hạt
Máy
đánh
bóng
Máy sát
khắp các tỉnh, thành trong cả nước, với sản lượng hàng năm đạt gần 40 triệu tấn và
vùng ĐBSCL là nơi sản xuất lượng lúa hàng hóa lớn nhất của cả nước, với sản lượng
hàng năm đạt trên 20 triệu tấn.
Bảng 1.1: Sản lượng lúa cả năm vùng ĐBSCL và cả nước giai đoạn 2005 2009
ĐVT: Tấn
Nơi sản xuất 2005 2006 2007 2008 2009
1/ Vùng ĐBSCL
2/ Cả nước
19.385.620
35.832.900
18.075.036
35.849.500
19.221.771
35.942.700
21.166.627
38.729.800
20.483.400
38.895.500
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2010 [26]
(2) Nguồn nguyên liệu là gạo bán thành phẩm: Gạo bán thành phẩm được
cung cấp bởi các nhà máy xay xát lúa gạo có quy mô nhỏ. Lúa sau khi trãi qua các
công đoạn như sàng tạp chất và bóc vỏ thì được gọi là gạo bán thành phẩm (hay còn
gọi là gạo nguyên liệu). Từ gạo nguyên liệu, sẽ qua các nhà máy chế biến có quy mô
16
lớn hơn để thực hiện các công đoạn tiếp theo cho đến công đoạn cuối cùng là đóng
gói và được gọi là gạo thành phẩm để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng.
1.3.3. Máy móc, thiết bị trong các doanh nghiệp chế biến lúa gạo
Các máy và móc thiết bị chủ yếu của doanh nghiệp chế biến lúa gạo bao gồm:
Máy làm sạch lúa: Đây là máy thực hiện công đoạn đầu tiên của quá trình chế
biến, nó có nhiệm vụ loại bỏ các tạp chất như: đá, rơm rạ, kim loại,... lẫn trong lúa để
người CEO, phải có hiểu biết về kinh doanh trong môi trường toàn cầu hóa. Vì vậy,
các doanh nghiệp phải thường xuyên quan tâm đến công tác đào tạo đội ngũ cán bộ
này mới đáp ứng được yêu cầu của công việc, chứ không thể tuyển dụng mới là có thể
sử dụng được ngay.
(2) Nhóm kỹ sư kỹ thuật và công nhân kỹ thuật bậc cao: Đây là các kỹ sư, công
nhân kỹ thuật bậc cao của các ngành cơ khí, điện, công nghệ,… những người này
thường đảm đương công tác tại bộ phận kỹ thuật, chuyên phụ trách các công việc về
cơ khí, điện, vận hành và sửa chữa các máy móc, thiết bị trong các phân xưởng chế
biến. Ngày nay, với yêu cầu đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại, đòi hỏi lực
lượng lao động này phải thường xuyên được đào tạo để nâng cao trình độ tay nghề
nhằm theo kịp với xu hướng phát triển rất nhanh về khoa học công nghệ như hiện
nay.
(3) Nhóm công nhân lao động phổ thông: Những lao động này thường làm các
công việc liên quan nhiều đến chân tay như đóng gói, bốc xếp, quản lý kho tàng, bến
bãi,… các lao động này thường không đòi hỏi cao về trình độ chuyên môn, chỉ yêu
cầu có sức khỏe tốt, nhiệt tình trong công việc. Công tác đào cho lực lượng lao động
này khá đơn giản, chỉ là đào tạo nghiệp vụ cho các công việc thường làm hàng ngày
và trong thời gian ngắn hạn.
1.3.5. Vốn trong các doanh nghiệp chế biến lúa gạo
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến lúa gạo phụ
thuộc vào thời vụ sản xuất lúa, trong năm có hai mùa vụ lúa chính, đó là: Đông Xuân
và Hè Thu. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn lưu động rất lớn để
18
thu mua lúa nguyên liệu nhằm giúp cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong quá
trình sản xuất kinh doanh của mình. Mặt khác, rất nhiều doanh nghiệp có quy mô sản
xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu, muốn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và đổi mới
máy móc, thiết bị các doanh nghiệp này cần phải có một lượng vốn khá lớn (có thể
lên đến hàng chục tỷ đồng), nhưng hiện tại đa phần các doanh nghiệp đều gặp khó
khăn về vốn.
1.3.6. Thị trường của các doanh nghiệp chế biến lúa gạo
3 Châu Âu 5,2 0,7 5,1 6,3 13,1
4 Trung Đông 1,1 6,8 7,1 2,1 4,8
5 Châu Mỹ 0,0 0,0 2,9 0,1 1,4
6 Châu Đại Dương 0,0 0,2 0,1 1,8 1,2
Nguồn: Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, 2010 [29]
1.4. VAI TRÒ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN LÚA GẠO ĐỐI VỚI
NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1.4.1. Cung cấp và đảm bảo an ninh lương thực
Tất cả người dân Việt Nam đều sử dụng lúa gạo làm lương thực chính, từ gạo
có thể chế biến thành các sản phẩm khác như bột, phở, bún và rất nhiều loại thực
phẩm khác được làm từ gạo. Vì vậy, lúa gạo đã trở thành nguồn lương thực chính
trong đời sống hàng ngày của mỗi người dân.
Việt Nam trong nhiều năm liền được xếp vào nhóm các nước dẫn đầu về xuất
khẩu gạo, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và quốc
tế. Có thể nói, lúa gạo đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp lương thực cho
người dân, ngoài ra còn là ngành kinh tế tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao
động, đặc biệt là lao động ở những vùng nông thôn, qua đó đã góp phần tích cực vào
việc xóa đói giảm nghèo. Trong những năm gần đây chính sách phát triển kinh tế
nông nghiệp, nông dân và nông thôn của Nhà nước luôn gắn liền với phát triển ngành
hàng lúa gạo.
20
1.4.2. Góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân và hiện đại hóa khu vực
nông thôn
Chế biến lúa gạo giúp cho giá trị sản phẩm của người nông dân sản xuất ra được
nâng lên, từ đó lợi nhuận từ sản xuất lúa đạt được cao hơn, người nông dân trồng lúa
sẽ chuyên tâm đầu tư cho sản xuất tốt hơn làm cho sản lượng và chất lượng lúa ngày
được nâng cao. Do thu nhập ngày được nâng lên, người dân có điều kiện cùng với
Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn như hạ tầng về giao
thông, điện, nước, thủy lợi,... ngày càng tốt hơn để phục các yêu cầu của sản xuất và
đời sống người dân.
Trong nhiều năm liền, sản phẩm lúa gạo Việt Nam luôn giữ vị trí cao trong
danh sách các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất đất nước, năm 2009 xuất khẩu
gạo đứng vị trí thứ 5 (sau dệt may, dầu khí, da giày, thủy sản) với kim ngạch xuất
khẩu đạt khoảng 2,7 tỷ USD. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai
thế giới chỉ sau Thái Lan, đã góp phần tích cực vào việc đảm bảo an ninh lương thực
cho thế giới và làm cho vị thế của Việt Nam trên thế giới ngày càng được nâng cao.
Bảng 1.4: Số lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam giai đoạn 2005 2009
Chỉ tiêu ĐVT Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
1. Số lượng gạo xuất
khẩu
Triệu
tấn
5,25 4,50 4,56 4,83 5,95
2. Kim ngạch xuất
khẩu gạo
Triệu
USD
1.407 1.238 1.490 2.910 2.700
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2010 [26]
1.4.5. Thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển
Lúa gạo là nguồn nguyên liệu chính cho các ngành chế biến lương thực, thực
ngay từ đầu công nghiệp hóa họ đã đi vào phát triển các ngành công nghiệp nặng, vì
thế họ đã có các ngành công nghiệp tầm cỡ quốc tế như sản xuất thép, công nghệ
đóng tàu, công nghệ ô tô, công nghệ điện tử…
Ở Việt Nam, đường lối phát triển công nghiệp được thực hiện và thay đổi qua
nhiều thời kỳ. Ở thời kỳ 1975 đến 1986 thực hiện chính sách ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng. Giai đoạn 1986 đến 1990 đã có sự điều chỉnh về đường lối phát triển
công nghiệp, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến là chính. Từ năm 2001 đến nay,
đang thực hiện đường lối công nghiệp hóa hiện đại hóa theo Nghị quyết Đại hội IX
và Đại hội X, nhằm xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp phát triển theo
23
hướng hiện đại vào năm 2020 [13]; trong đó, chú trọng phát triển công nghiệp chế
biến nông lâm thủy sản, các ngành công nghiệp sử dụng hàm lượng công nghệ cao
như: điện tử, công nghệ phần mềm, công nghệ ô tô,…
(2) Các chính sách của Nhà nước đối với doanh nghiệp: Mỗi một quốc gia đều
có chính sách về phát triển kinh tế riêng của mình, trong đó có chính sách liên quan
đến doanh nghiệp. Một số nước trong thời kỳ đầu thực hiện đường lối công nghiệp
hóa, để thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, họ đã thành lập nhiều tổng
công ty ở nhiều lĩnh vực, mà các lĩnh vực này có ảnh hưởng đến chính sách phát triển
kinh tế quốc gia như năng lượng, dầu khí, viễn thông,… Một số quốc gia khác thì
trong thời kỳ đầu, họ ưu tiên cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa để khai thác tốt các
nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước. Chính sách phát triển của Việt Nam hiện nay
bên cạnh tập trung phát triển các Tổng công ty, các Tập đoàn kinh tế lớn ở những lĩnh
vực kinh tế then chốt như điện, dầu khí, đóng tàu,… Việt Nam còn chú trọng phát
triển các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa nhằm phát huy những lợi thế về nguồn
nguyên liệu, lao động ở các địa phương; trong đó, đặc biệt quan tâm đến phát triển
các doanh nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, vì Việt Nam có thế mạnh về nguồn
nguyên liệu phục vụ cho các doanh nghiệp chế biến này.
(3) Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế: Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi
nước có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển của các doanh nghiệp. Với các quốc gia đã
trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì chắc chắn sẽ gặp
tranh trong ngành
Cạnh tranh giữa các
đối thủ hiện hữu
Sản phẩm
thay thế
Khách
hàng
25
Mô hình năm tác lực của Michael E. Porter được sử dụng để phân tích môi
trường vi mô của các doanh nghiệp. Riêng các doanh nghiệp chế biến lúa gạo năm
nguồn áp lực thể hiện như sau:
Quyền năng của nhà cung cấp: Nhà cung cấp thiết bị chính cho các doanh
nghiệp chế biến lúa gạo là các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, còn nhà cung
cấp nguyên liệu chính cho doanh nghiệp là nông dân, thương lái, các doanh nghiệp
trong nước, do có nhiều nhà cung cấp nên sự phụ thuộc không cao, vì thế quyền năng
của họ không lớn.
Khách hàng: Khách hàng của các doanh nghiệp chế biến lúa gạo là các nhà
phân phối trong nước, các công ty trong nước và nước ngoài, thậm chí là Chính phủ
một số nước như Philippine, Indonesia,… Do có nhiều khách hàng trong và ngoài
nước nên áp lực từ khách hàng đối với doanh nghiệp cũng không quá lớn.
Đối thủ hiện tại: Đối thủ hiện tại là các doanh nghiệp của các tỉnh lân cận
trong vùng và các doanh nghiệp của các nước như: Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ,
Pakistan, nhưng chủ yếu vẫn là Thái Lan.
Đối thủ tiềm năng: Đối thủ tiềm năng của các doanh nghiệp chế biến lúa gạo
là các doanh nghiệp có thể gia nhập ngành hàng lúa gạo ở các tỉnh trong vùng
ĐBSCL, trong đó đáng chú ý là các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp. Đối với
các doanh nghiệp nước ngoài đối thủ tiềm năng là các doanh nghiệp của Indonesia.
Sản phẩm thay thế: Không có nhiều sản phẩm thay thế chính, vì lúa gạo là
lương thực chính của nhiều quốc gia nên ít có sản phẩm nào thay thế được lúa gạo
trong tương lai.