I, Nội dụng cơ bản của quản lí nhà nước về thương mại đối với mặt hàng sữa tươi
1.1
Tổng quan về mặt hàng sữa tươi trên địa bàn TP Hà Nội
a,
Sữa tươi là mặt hàng thiết yếu được người dân tiệu thụ ngày càng nhiều, có đủ loại
dành cho mọi lứa tuổi. Các sản phẩm sữa được cung cấp từ các công ty trong nước
như Vinamilk, Ba Vì, Mộc Châu…cho đến các sản phẩm nhập ngoại như Dutch lady…
đều được người dân an tâm lựa chọn. Năm 2008, thị phần sản phẩm sữa uống của
Friesland Campina là 26,6% và Vinamilk là 25,2% (riêng sản phẩm sữa tươi nguyên
chất và sữa tiệt trùng, Vinamilk chiếm 55,4% thị phần sữa nước toàn quốc). Tổng
doanh thu sữa uống chiếm khoảng 43% doanh thu toàn ngành sữa.
Sản phầm sữa chủ yếu chia làm các loại chủ yếu: sữa tươi thanh trùng, sữa tươi tiệt
trùng và sữa hoàn nguyên
b, Chất lượng sữa tươi
Có thể nói, cho tới bây giờ, người tiêu dùng vẫn không thể thống kê hết được doanh
nghiệp hay hãng nào công bố sản phẩm sữa của mình là sữa tươi hay sữa thanh trùng,
sữa tiệt trùng, sữa hoàn nguyên. Hiện tại hệ thống siêu thị trên địa bàn Hà Nội như
Fivimart, Intimex, Citimart Metro, Hapromart… người tiêu dùng choáng ngợp trước
những sản phẩm sữa chất cao như núi. Mỗi siêu thị đều dành cho sản phẩm thiết yếu
này một gian hàng hoành tráng để trưng bày mẫu mã. Một số siêu thị còn có gian hàng
dùng thử để khách hàng có thể sử dụng qua sản phẩm, việc này thu hút được rất nhiều
sự chú ý của khách mua hàng.
Vì có quá nhiều hang sản xuất cũng như người dân còn chưa phân biệt được các
loại sữa nên dễ bị đánh lừa về chất lượng. Thống kê cũng cho thấy một thực trạng
đáng buồn là đang có ít nhất 40% lượng sữa tươi tiệt trùng ở Việt Nam không phải là
"100% sữa tươi nguyên chất" như quảng cáo. Lý do là vì năm 2009, tổng lượng sữa
tươi đàn bò cả nước khoảng 270 triệu lít, trong khi đó lượng sữa tươi mà các doanh
nghiệp sản xuất sữa đưa ra thị trường lên đến 452,8 triệu lít. Cách để bù đắp lượng
thiếu hụt này là mua sữa bột nguyên liệu giá rẻ (khoảng 2.000 USD/tấn) pha với nước
các công ty sữa có thể lên đến 23.400-23.610 đồng, gấp gần 4 lần so với giá mua của
nông dân chỉ khoảng 6.500- 7.000 đồng.
1.2, Nội dụng cơ bản của quản lí nhà nước về thương mại đối với mặt hàng sữa
tươi
a. Quản lý, kiểm soát lưu thông mặt hàng sữa trên thị trường.
-Là một nội dung quan trọng của nhà nước góp phần định hướng đầu tư và cơ cấu
lại sản xuất cho nền kinh tế, đặc biệt là định hướng phát triển sản phẩm cho các doanh
nghiệp.
- Quản lý, kiểm soát lưu thông mặt hàng sữa trên thị trường tập trung vào các nội
dung chủ yếu sau:
+Khuyến khích lưu thông và cung ứng các mặt hàng sữa, tạo điều kiện thuận lợi để
đa dạng hóa chủng loại các mặt hàng về sữa trên thị trường, có cơ cấu phù hợp với
nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu.
+Cấm các hành vi cản trở lưu thông sữa trên thị trường.
+Quản lý chất lượng sữa trên thị trường trong nước và xuất nhập khẩu
b. Quản lý hệ thống thương nhân và các giao dịch thương mại liên quan tới mặt
hàng sữa.
- Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt
động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
- Quản lý của nhà nước đối với thương nhân và các giao dịch thương mại liên quan
tới mặt hàng sữa tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:
+ Quy định các điều kiện, thủ tục đăng ký, điều kiện kinh doanh và phạm vi hoạt
động của thương nhân, điều chỉnh các hành vi thương mại và quy định những nguyên
tắc, chuẩn mực trong hoạt động thương mại.
+ Đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của các thương nhân trong hoạt động
thương mại.Nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh gây tổn hại đến lợi ích quốc gia.
+ Định hướng, tạo khuôn khổ và hành lang cho các hoạt động thương mại của các
thương nhân.
tới hơn 32% so với cùng kỳ năm 2009 với sản lượng đạt hơn 15.500 tấn sữa bò
tươi. Ba Vì là huyện có số lượng bò sữa lớn nhất TP với tổng đàn hơn 3.700 con và
đang phấn đấu đến năm 2015 sẽ đưa tổng đàn bò sữa của huyện lên khoảng 10.000
con. Để tạo điều kiện cho người chăn nuôi bò sữa mở rộng quy mô chăn nuôi, góp
phần phát triển bền vững nghề chăn nuôi bò sữa ở các huyện ngoại thành, Trung tâm
Phát triển chăn nuôi gia súc lớn Hà Nội (thuộc Sở NN&PTNT Hà Nội) đang tích cực
phối hợp với các công ty sữa triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ bà con về công tác thú
y; thụ tinh nhân tạo để nhân giống, phát triển đàn bò; giám định, bình tuyển đàn bò cái
nền, bò đực, bò sữa; động viên người chăn nuôi mạnh dạn thải loại những con bò kém
chất lượng.
Ba Vì là một trong những huyện có lượng đàn bò lớn nhất ở TP, theo Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ huyện Ba Vì vừa đề ra, đến cuối năm 2010, Ba Vì sẽ phấn đấu
tăng tốc số lượng bò sữa thêm 1.000 con. Đến năm 2015, Ba Vì đưa đàn bò sữa
lên trên 10 nghìn con, với sản lượng sữa đạt 22,5 nghìn tấn/năm.
b, Quy hoạch phát triển
Quy hoạch phát triển của ngành công nghiệp chế biến sữa được chia làm hai giai
đoạn: Giai đoạn I: từ năm 2001 đến năm 2005 và giai đoạn II: từ năm 2006 đến năm
2010 Đầu tư xây dựng các dây chuyền sản xuất bao bì sữa, in nhãn mác, công suất
đáp ứng 50% nhu cầu về công suất của các sản phẩm: Công suất giai đoạn I:
75.000.000 m2/năm, công suất giai đoạn II: 150.000.000 m2/năm. Vốn đầu tư: Giai đoạn
I: 5 triệu USD, giai đoạn II: 3 triệu USD
Tổng hợp vốn đầu tư cho phát triển ngành sữa đến năm 2010
T
Hạng mục
Đến năm
Đến năm
100
1.000
1.000
51,2
101,6
901,25
993,75
1997,45
2195,35
năm 2009, Sở NN&PTNT đã tập trung phát triển chăn nuôi bò sữa theo quy
hoạch tại 7 xã Tản Lĩnh, Yên Bài, Vân Hòa (Ba Vì); Phù Đổng, Dương Hà, Trung
Mầu (Gia Lâm); Phượng Cách (Quốc Oai). Trên cơ sở quy hoạch, chọn vùng
chăn nuôi phù hợp, điều kiện đất đai, khí hậu, tập quán canh tác... TP đã cùng
các doanh nghiệp đầu tư hỗ trợ nông dân về vốn, khoa học kỹ thuật, thành lập
các chi hội chăn nuôi bò sữa... Diện mạo các vùng được quy hoạch đã thay đổi
cả về chất và lượng. Số bò sữa chăn nuôi trong vùng quy hoạch đã tăng từ
4.085 con (năm 2008) lên 7.546 con năm 2010, tăng 84,7%; sản lượng sữa bình
quân mỗi lần khai thác tăng từ 24.400 kg/ngày lên 63.464 kg/ngày, tăng 160%.
Từ hiệu quả của việc quy hoạch chăn nuôi bò sữa tại 7 xã trọng điểm, Hà Nội
tiếp tục nhân rộng mô hình tại một số vùng bãi của các huyện Thanh Oai,
20
105
Nhà máy sữa Hà Nội cổ
2 phần Hà Nội milk (Đầu tư
mới)
25
127,5
25
127,5
Xưởng chế biến sữa Phù
3 Đổng (Trung tâm bò sữa
Gia Lâm) (Đầu tư mới)
Nhà máy Nestle Ba Vì
4 (Sơn Tây) (Đầu tư mở
rộng)
45,0
5
5
dấu hiệu gian lận nào”, chính là bởi lí do trên. Điều này đang khiến người tiêu dùng VN
một lần nữa phải cắn răng chấp nhận các đợt tăng giá sữa liên tiếp.
Để khắc phục những hạn chế trên và bình ổn giá sữa trên thị trường đảm bảo lợi
ích của người tiêu dùng nhà nước tiếp tục ban hành thông tư 122 và bắt đầu có hiệu
lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2010: Thông tư 122/2010 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ
sung Thông tư 104/2008 hướng dẫn thi hành Nghị định số 170/2003 và Nghị định
75/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá.
Thông tư 122 có 2 điểm chính, thứ nhất là điều kiện áp dụng biện pháp bình ổn giá.
Trước đây, Thông tư 104 đưa ra điều kiện tăng giá trong vòng liên tục 15 ngày, mức
tăng trên 20% thì cơ quan Nhà nước áp dụng các biện pháp bình ổn. Nay không cứng
như thế, khi mà các doanh nghiệp (DN) sản xuất kinh doanh tăng bất hợp lý theo quy
chế tính giá của Bộ Tài Chính thì áp dụng các biện pháp bình ổn giá đó.
Thứ hai liên quan đến vấn đề về đăng ký giá, Thông tư 104 quy định DN Nhà nước
và DN có vốn nhà nước trên 51% trở lên thì DN đăng ký giá. Như vậy nó cũng không
phù hợp với quy định hiện hành, không phù hợp hai nghị định trên. Nay Thông tư 122
quy định tất cả DN, từ DN Nhà nước, DN tư nhân, DN nước ngoài đều phải thực hiện
đăng ký giá với cơ quan quản lý nhà nước, bình đẳng trước pháp luật.
c. Chính sách chất lượng
Theo Quy chế ghi nhãn hàng hóa (ban hành kèm Quyết định 178/1999/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ), đối với hàng hóa là thực phẩm đóng gói, đồ uống, mỹ phẩm,
doanh nghiệp phải ghi đầy đủ thành phần cấu tạo trên nhãn hàng hóa theo thứ tự từ
nhiều đến ít nhưng không cần ghi rõ tỷ lệ cụ thể.
Về trách nhiệm quản lý chất lượng sữa tươi trong nước, Chính phủ đã giao cho
Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế). Song thực tế, việc kiểm tra chất lượng sữa
nước gần như đang bị thả nổi. Chủ yếu dựa trên việc tự công bố chất lượng của các
nhà sản xuất. Trên thị trường, tất cả các loại sữa nước đều ghi sữa tiệt trùng, sữa tươi
tiệt trùng, sữa thanh trùng mà không thấy loại nào ghi sữa hoàn nguyên tiệt trùng.
Khiến người tiêu dùng khó phân biệt đâu là loại được sản xuất từ sữa tươi, đâu là loại
Ngoài ra, Bộ Công Thương đề xuất Bộ Tài chính cho phép các doanh nghiệp sản
xuất sữa được trích từ 2-5% giá trị nguyên liệu nhập khẩu vào chi phí sản xuất
để hình thành quỹ hỗ trợ cho việc phát triển đàn bò sữa.
e. Chính sách chăn nuôi bò sữa
Từ khi có Quyết định 167/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/10/2001
về một số biện pháp và chính sách phát triển bò sữa Việt Nam thời kỳ 2001-2010, các
địa phương đã quan ban hành nhiều chính sách về phát triển chăn nuôi bò sữa. Số
lượng bò sữa tăng từ 41,2 ngàn năm 2001 lên 113,2 ngàn con năm 2006, tốc độ tăng
dàn bình quân trong giai đoạn này là 24,9%/năm, trong đó cáctỉnh phía Bắc tăng
43,7%/năm, các tỉnh phía Nam tăng 22,1%/năm.
Hà Nội hiện có hơn 6.500 con bò sữa, từ nay đến năm 2010 phấn đấu có hơn 10.000
con. Theo ông Tạ Văn Tường, Giám đốc Trung tâm phát triển chăn nuôi gia súc lớn Hà
Nội: Hà Nội có 2 vùng phát triển đàn bò sữa chất lượng cao với điều kiện khí hậu, đất
đai… thuận lợi là Ba Vì và Phù Đổng (Gia Lâm). Sở NN & PTNT Hà Nội cũng đang xây
dựng thương hiệu sữa Phù Đổng và Ba Vì, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp (DN) và
nông dân nuôi bò sữa trên địa bàn phát triển. Ngoài quan tâm nâng cao chất lượng đàn
ở 2 "thủ phủ" bò sữa, Hà Nội sẽ đầu tư các tiểu vùng như Phượng Cách (Quốc Oai),
Phương Đình (Đan Phượng)... Theo tính toán với diện tích đất bãi từ 20-30ha, các địa
phương hoàn toàn có thể phát triển đàn bò sữa lên tới 1.000-2.000 con.
Cuối năm 2008, đầu năm 2009, một số hộ chăn nuôi bò sữa của Hà Nội chủ yếu thuộc
khu vực huyện Gia Lâm gặp khó khăn về "đầu ra" do không bán được sữa cho nhà
máy. Rõ ràng việc gắn kết giữa DN, nông dân và cơ quan quản lý nhà nước còn rất
lỏng lẻo. Trung tâm Phát triển chăn nuôi gia súc lớn Hà Nội đã đứng ra khâu nối giữa
DN và nông dân. Sở NN & PTNT Hà Nội cam kết với DN sẽ bảo đảm về tính ổn định
của đàn bò, công tác thú y, tiêm phòng, vệ sinh tiêu độc. 100% số bò đang cho khai
thác sữa được đánh số tai để theo dõi thường xuyên. Trong hợp đồng bán hàng cho
DN, hộ nông dân phải có "hồ sơ" đầy đủ về con bò cho khai thác của mình… DN yên
tâm về chất lượng sữa, nông dân yên tâm chăn nuôi là có "đầu ra" ổn định, đôi bên sẵn
sàng chia sẻ khó khăn trong các trường hợp bất khả kháng. DN thu mua sữa trực tiếp,
giá sữa theo chất lượng, không thu mua qua trung gian như trước kia.
trường, chắp nối bạn hàng, giới thiệu đối tác, quãng cáo triển lãm giúp cho doanh nghiệp,
các hợp tác xã và hộ nông dân .
- Tiếp tục phát triển các hiệp hội thương nhân để phối hợp thông tin thị trường và
giá cả, tạo lập các cơ hội tiêu thụ sản phẩm, tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng
hóa và của doanh nghiệp trên thị trường.
- Thực hiện một cách có hệ thống các chương trình giới thiệu tuyên truyền và
hướng dẩn tiêu dùng gắn với công tác kiểm tra và kiểm soát quản lý chất lượng
hàng hóa theo hướng tăng cường quản lý bằng các tiêu chuẩn và các quy chế cụ
thể thay cho các biện pháp hành chính. Đa dạng hóa các hình thức tổ chức thử
nghiệm thí điểm sản xuất kinh doanh và đẩy mạnh quảng bá các nông sản mới,
sạch, chất lượng cao.
*Chính sách đào tạo và phát triển nguồn lực thương mại
- Có chiến lược, chương trình và chính sách bồi dưỡng, đào tạo lại, đào tạo bổ
sung nhằm nâng cao trình độ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về
thương mại, dặc biệu quan tâm đến đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về thương
mại ở địa phương.
- Sớm ban hành quy định tiêu chuẩn cán bộ quản lý chủ chốt của doanh nghiệp
nhà nước về thương mại, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch và kế hoạch bồ dưỡng
và đào tạo phù hợp. đồng thời quan tâm đến công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ
hiểu biết về pháp luật, chuyên môn, quản trị kinh doanh, ngoại ngữ, tin học,. cho
giới kinh doanh thương mại thuộc các thành phần kinh tế khác chước hết là đội
ngủ nhân lực của các công ty vừa và nhỏ của hợp tác xã.
3.2. Tăng cường hiệu lực của nhà nước đối với thị trường và thương mại trong nước
Sửa đổi bổ sung và ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực
lưu thông hành hóa liên quan đến hoạt động của thương nhân nhằm tiến tới hoàn thiện
hệ thống pháp luật về kinh tế thương mại. Đồng thời với việc sửa đổi Luật doanh
nghiệp nhà nước, luật thương mại, luật phá sản, các nghị định, thông tư hướng dần và
quy định chi tiết kèm theo yêu cầu tiếp tục rà soát nghiên cứu để điều chỉnh, sửa đổi,
hóa trong nước với điều hành xuất nhập khẩu.
Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chốn buôn lậu và gian lận thương
mại để tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh. Đồng thời tăng cường vai trò của các cơ quan,
hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
3.4. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống phân phối thích ứng với tổ chức, đặc điểm và quy
mô thị trường
Hệ thống phân phối tuy đã hình thành nhiều tầng, cấp độ , đa quy mô…Việc hình
thành các hiệp hội các nhà sản xuất và phân phối ngành hàng có ý nghĩa hết sức quan
trọng. Để liên kết các doanh nghiệp với nhau cần thiết phải thành lập các hiệp hội
ngành hàng, Nhà nước cần phải hoàn thiện quy định về việc thành lập các hiệp hội
ngành hàng để tạo cơ sở pháp lý cho việc ra đời và hoạt động của các hiệp hội. Do
đây là việc làm hết sức mới nên cần có sự hỗ trợ của nhà nước của các tổ chức phi
chính phủ để thành lập và hoạt động có hiệu quả.
* Chính sách quản lí về nhãn mác
-Yêu cầu các công ty sữa tươi ghi rõ các thành phần của sữa, shi rõ tên sữa là loại gì tránh
việc “treo đầu dê bán thịt chó”, tránh hiện tượng chất lượng sữa ghi trên bao bì cao hơn
chất lượng sản phẩm thật trong đó
- Ngoài ra yêu cầu các công ty phải đăng kí về chất lượng của sản phẩm bán ra và cam
kết sản phẩm đag bán đảm bảo chất lượng, nguyên chẩt như sản phẩm đã đăng kí
- Bên cạnh đó có các biện pháp xử phạt thật nặng các doanh nghiệp bán ra những sản
phẩm giả, kém chất lượng, không đúng như đã đăng kí