“ Một số biện pháp phát triển vốn danh từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chủ đề thế giới thực vật ”. - Pdf 51

Lêi CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo khoa
Giáo dục mầm non; Ban chủ nhiệm khoa - Trường Đại học sư phạm Hà Nội
đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo – PGS.TS. Lã
Thị Bắc Lý – Người đã trực tiếp giảng dạy và tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để em có thể hoàn thành bài tập tốt
nghiệp này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm lớp
mẫu giáo 4 tuổi trường mầm non Hà An đã tạo điều kiện thuận lợi để em
hoàn thành bài tập tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân và tập thể lớp Mầm Non
K9A đã quan tâm, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Quảng Yên , ngµy 1 th¸ng 08 n¨m 2014
Tác giả

Bùi Thị Hạnh


MỤC LỤC
A. Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu

B. Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Khảo sát thực trạng việc phát triển vốn danh từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ
thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chủ đề thế giới thực

mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam, như sự khỏe mạnh nhanh nhẹn, cơ thể phát triển
hài hòa cân đối, giáo dục trẻ lòng yêu thương, biết quan tâm nhường nhịn những
người gần gũi xung quanh mình, thật thà, lễ phép, mạnh dạn tự tin, hồn nhiên,
trẻ biết yêu cái đẹp trong cuộc sống. Từ đó giáo dục trẻ lòng nhân ái, tính vị tha,
giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn.
- Do vậy nhiệm vụ của trường mầm non là chăm sóc giáo dục trẻ phát
triển toàn diện để trẻ có đủ thể lực, đủ trí tuệ trong học trường phổ thông, một
trong những tiền đề để trẻ phát triển nhân cách toàn diện về mọi mặt dặt nền
móng cho sự phát triển trí tuệ, năng lực phẩm chất, nhân cách con người mới xã
hội chủ nghĩa trong đó ngôn ngữ là mấu chốt.


- Việc phát triển ngôn ngữ ở trường mầm non được tích hợp trong các
hoạt động và trong những tiền đề để trẻ hoạt động đem lại hiệu quả cao cho trẻ
phát triển ngôn ngữ là hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chính vì
thế mà em chọn đề tài “ Một số biện pháp phát triển vốn danh từ cho trẻ mẫu
giáo nhỡ qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chủ đề thế giới
thực vật ”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Để tìm ra những biện pháp thích hợp để phát triển vốn từ cho trẻ nhằm giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài.
Tổng hợp các tư liệu có liên quan đến đề tài, đề cập đến một số vấn đề cốt lõi
về phát triển vốn danh từ qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh về thế
giới thực vật cho trẻ 4-5 tuổi.
2. Nghiên cứu thực trạng việc phát triển vốn danh từ cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm
non thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh.
3. Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn danh từ cho trẻ mầu giáo nhỡ qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh về thế giới thực vật.

5. Pương pháp tổng kết kinh nhiệm
- Địa điểm: Trường mầm non Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Mục đích: nhận xét rút kinh nghiệm.
6. Phương pháp thực nghiệm
- Đối tượng nghiên cứu: trẻ.
- Địa điểm: Trường mầm non Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Số lượng: 20 trẻ.
- Mục đích: kiểm nghiệm cách thực hiện, kiểm chứng hiệu quả tổ chức.
7. Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phân tích, đánh giá thực tiễn biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầu giáo 4-5
tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chủ đề thế giới
thực vật từ đó rút ra những kết luận nhằm nâng cao chất lượng vốn từ ở trẻ 4-5
tuổi.


B. PHẦN NỘI DUNG
Chương I Cơ sở lí luận của đề tài
I. Cơ sở sinh lí
1. Sự phát triển của bán cầu đại não liên quan đến việc phát triển ngôn ngữ
Cho tới lúc ra đời, não bộ của trẻ vẫn chưa được phát triển đầy đủ, mặc dù
hình thái và cấu tạo giải phẫu của nó không khác với não người lớn là mấy. Nó
có kích thước nhỏ hơn và trọng lượng khoảng 370- 392 g. Trọng lượng của não
tăng lên mạnh mẽ trong 9 năm đầu tiên. Lớp trong của não bộ phát triển chậm so
với lớp vỏ ngoài, chính sự phát triển quá mạnh đó của lớp vỏ tạo thành
nhuwngxneeps nhăn, những rãnh trên vỏ não.
Một đặc điểm phát triển của vỏ não là sự phát triển của dduwwongf dẫn
truyền diễn ra rất mạnh mẽ theo sự tăng lên của tuổi.
Sự myêlin hóa các sợi thần kinh là một giai đoạn phát triển quan trọng của
não bộ. Quá trình này có một ý nghĩa sinh học to lớn, bởi nó góp phần làm cho
hưng phấn được truyền đi một cách riêng biệt theo các sợi thần kinh, do đó hưng

nhưng do biểu tượng cong nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình
diện bên ngoài vào bìn diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải được một số bài
toán đơn giản theo kiểu tư duy trực quan hình tượng. Cùng với sự hoàn thiện
hoạt động vui chơi và sự phát triển các hoạt động khác như kể chuyện, đi
chơi, dạo chơi,... vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu lên thêm rất
nhiều, chức năng kí hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú
tăng lên rõ rệt. Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan –
hình tượng, đây cũng là thời điểm kiểu tư duy đó phát triển mạnh mẽ nhất.
- Trẻ bắt đầu đề ra cho mình những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải thích
những hiện tượng mà mình nhìn thấy được. Trẻ thường thực nghiệm, chăm
chú quan sát các hiện tượng và suy nghĩ về những hiện tượng đó để rút ra kết
luận.
- Phần lớn ở trẻ mẫu giáo nhỡ đã có khả năng suy luận. Trẻ có khả năng giải
các bài toán bằng các phép thử ngầm trong óc, dựa vào các biểu tượng, kiểu
tư duy trực quan hình tượng bắt đầu chiếm ưu thế.
- Tư duy trực quan- hình tượng phát triển mạnh cho phép trẻ em ở độ tuổi
mẫu giáo nhỡ giải được nhiều bài toán thực tiễn mà trẻ thường gặp trong đời


sống. Tuy vậy, vì chưa có khả năng tư duy trừu tượng nên trẻ chỉ mới dựa
vào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy luận ra
những vấn đề mới. Do vậy nhiều trường hợp chỉ dừng lại ở các hiện tượng
bên ngoài mà chưa đi được vào bản chất bên trong.
2. Khả năng chú ý và ghi nhớ của trẻ mẫu giáo nhỡ.
- Trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi, sự chú ý phát triển mạnh. Nhưng sự thay đổi cơ bản
của chú ý ở lứa tuổi này là ở chỗ trẻ bắt đầu biết điều khiển chú ý của mình,
biết tự giác hướng chú ý của mình vào đối tượng nhất định, có nghĩa là chú ý
có chủ định bắt đầu hình thành ở tuổi mẫu giáo nhỡ.
- Chú ý có chủ định gắn liền với hành động có mục đích , với ngôn ngữ.
- Ở lứa tuổi này chú ý có chủ đã được hình thành nhưng chú ý không chủ

chủ quan của họ mà luôn luôn cho trẻ tự do chọn góc chơi, tự do hoạt động
theo nhu cầu hứng thú của mình. Tạo cơ hội, điều kiện cho trẻ được trải
nghiệm, được thực hành, được chia sẻ, được khám phá mình trong thế giới
muôn hình muôn vẻ xung quanh chúng.
Nhà giáo dục với tư cách là “ thang đỡ ”, là “ điểm tựa ” của trẻ, trong quá
trình giáo dục trẻ, giáo viên quan tâm đến dòng suy nghĩ của trẻ hơn là những
điều trẻ hiểu biết. Họ quan tâm đến cách dạy trẻ học như thế nào hơn là cho
trẻ học cái gì. Họ tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ tích cực hoạt động, kích thích
óc sáng tạo của trẻ trong các hoạt động của chúng ở trường mầm non.
Việc lấy trẻ là trung tâm, luôn luôn coi trẻ là chủ thể tích cực trong mọi
hoạt động của chúng và nhà giáo dục tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi cho trẻ
bộc lộ tính tự lập, tự quyết định làm những điều chúng muốn, chúng thích và
chúng nghĩ là một nguyên tắc cơ bản mang tính định hướng quan trọng trong
giáo dục mầm non.
Theo “ Lí thuyết hoạt động ” của Leeonchep thì nhân cách của con người,
trong đó có trẻ em mầm non chỉ hình thành trong hoạt động và thông qua
hoạt động. Sự phát triển của trẻ em là một quá trình liên tục, trải qua nhiều
giai đoạn khác nhau và mỗi giai đoạn lại có một hoạt động chủ đạo mang nét
đặc thù riêng ở lứa đó. Thông qua hoạt động chủ đạo để giáo dục và phát
triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần và trí tuệ của trẻ.


Chỉ trong quá trình hoạt động tích cực thì trẻ mới có thể hiểu được và hiểu
đúng những quy luật của thế giới xung quanh và trên cơ sở đó mới có thể
biến đổi và cải tạo nó. Quá trình giáo dục trẻ không thể tồn tại nếu thiếu tính
tích cực của chính bản thân trẻ mà tính tích cực này của trẻ là do nhà giáo
dục tạo ra. Chỉ ở trong đều kiện như vậy, trẻ mới có thể chiếm lĩnh được tri
thức mới và nắm được các kĩ năng mới, phát triển được các năng lực và
phẩm chất tâm lí cá nhân.
Quan điểm của giáo dục mầm non của nước ta cũng rất quan trọng nguyên

động chủ đạo của trẻ lứa tuổi ấu nhi và hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo
có thể trở thành hoạt động chính để tích hợp, lồng ghép và đan cài các hoạt
động khác của trẻ theo các chủ đề gần gũi với cuộc sống thực của chúng.
Tích hợp, lồng ghép, đan cài nội dung đó thông qua các hoạt động giáo dục
đa dạng, phong phú và tạo điều kiện cho trẻ vận dụng những điều đã biết vào
những hoàn cảnh mới, tình huống mới, tạo cơ hội cho trẻ phát huy tính độc
lập, chủ động và sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của mình.
Giáo dục tích hợp đòi hỏi cô giáo quan tâm đến tiềm năng phát triển của
đứa trẻ hơn là tạo ra cơ hội tương ứng với mức độ phát triển hiện tại của
chúng. Cô giáo nâng đỡ trẻ bằng cách giảm dần mức độ trợ giúp khi trẻ có
khả năng hơn trong việc tự điều khiển hoạt động của mình.
Giáo dục tích hợp theo chủ đề dựa trên quan điểm tiến bộ lấy trẻ làm trung
tâm, khai thác tiềm năng vốn có của trẻ, dựa vào các đặc điểm cá nhân, phù
hợp với hứng thú, nguyện vọng và năng khiếu trên tinh thần tự do, tự
nguyện, chủ động tích cực tham gia vào hoạt động của đứa trẻ, giáo viên giữ
vai trò là người tổ chức hướng dẫn, giúp đỡ trẻ trong những lúc cần thiết, kịp
thời động viên khích lệ trẻ.
Giáo dục tích hợp ở trường mầm non chính là quá trình tác động sư phạm
một cách phù hợp với sự phát triển tình cảm, đạo đức và trí tuệ của trẻ, cho
trẻ được tham gia vào nhiều hoạt động theo chủ đề nhằm cung cấp cho trẻ
nhiều cơ hội được học tập và luyện tập để trở thành nhà nghiên cứu, trẻ tích
cực, năng động trong việc tìm hiểu, khám phá, kích thích trẻ tư duy tích cực,


vận dụng các kiến thức, kỹ năng, lựa chọn và đưa ra quyết định tron hoàn
cảnh có ý nghĩa đối với cuộc sống thực của chúng.
Tích hợp trong giáo dục mầm non cần được hiểu và thể hiện trong quá trình
chăm sóc- giáo dục trẻ. Xây dựng chương trình giáo dục mầm non không
xuất phát từ logic phân chia các bộ môn khoa học như ở trường phổ thông
mà phải xuất phát từ yêu cầu hình thành những năng lực chung nhằm hướng

+ Danh từ cụ thể: là những danh từ chỉ sự vật cụ thể, có thể tri nhaannj bằng
các giác quan ( nghe, nhìn, sờ, ngửi... ). Danh từ cụ thể có thể phân thành các
nhóm sau:
 Danh từ đơn vị: chỉ các đơn vị sự vật. Danh từ đơn vị bao gồm:
Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên: chiếc, cái, con, bức, tờ, tẩm,...
Danh từ chỉ đơn vị đo lường: mẫu, sào, tạ, tấn,....
Danh từ chỉ đơn vị tập thể: tốp, bọn, lũ, đống....
Danh tù chỉ đơn vị thời gian: giờ, phút, giây, năm, tháng,...
Danh từ chỉ đơn vị tổ chức hành chính: làng, xã, tỉnh, huyên,...
Danh từ chỉ đơn vị hành động, sự việc: cuộc, chiến, phen, lần,...
 Danh từ chỉ sự vật đơn thể: là những danh từ chỉ các sự vật có thể tồn
tại thành từng đơn vị cụ thể.
Ví dụ: sách, quần áo, chó, lợn,...
 Danh từ chỉ chất liệu: là những danh từ chỉ các chất, không phải các
vật.
Ví dụ: nước, đường, sữa,...
2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ
- Trẻ 4-5 tuổi đã phát triển và thành thục với ngôn ngữ hơn, các lỗi đã giảm
nhiều và trẻ bắt đầu tham gia sử dụng ngôn ngữ như là một phương tiện để tham
gia vào cuộc sống xã hội và giao tiếp với những người khác, thể hiện nhu cầu
của trẻ và thuật lại những trải nghiệm của chúng.
- Vốn từ vựng tăng lên, trẻ có thể nắm được xấp xỉ 700 từ. Ưu thế thuộc về danh
từ và động từ. Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ.
- Trẻ biết nói đúng ngữ pháp. Sử dụng các câu đơn mở rộng thành phần trạng
ngữ chỉ thời gian, địa điểm.


- Trẻ thuộc và hiểu được các bài hát, bài thơ dành cho trẻ nhỏ, trẻ có khả năng kể
lại câu chuyện.
V. Hoạt động làm quen với môi trường xung quanh

- Trường thành lập năm 1984
- Cơ sở vật chất: Quy mô trường lớp không tập chung ở một điểm trường, cò
nhiều cơ sở lẻ,trường mầm non Hà An có 4 điểm trường, một điểm chính, 3
điểm lẻ. Cơ sở vật chất đầy đủ, đồ dùng đồ chơi phong phú đa dạng, không gian
rộng rãi, thoáng đủ cho trẻ hoạt động.
- Đội ngũ giáo viên: Tổng số giáo viên trong trường là 30 cán bộ giáo viên, trình
độ giáo viên đạt chuẩn 100% , trong đó trên chuẩn chiếm 55 %. Nhìn chung đội
ngũ cán bộ giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy, luôn trao đổi học hỏi đồng
nghiệp để nâng cao trìnhđộ chuyên môn nghiệp vụ, bên cạnh đó cũng có một số
giáo viên mới ra trường, tay nghề còn yếu, chưa có kinh nghiệm giảng dạy.
2. Đặc điểm dân cư
Sự quan tâm của gia đình dành cho các cháu là không đồng đều. Chủ yếu là do
trình độ dân trí của người dân là không đồng đều. Một số phụ huynh có trình độ
nhận thức thấp, họ cho rằng đưa con đến trường là để gửi con để họ đi làm, họ
nghĩ con mình đến trường chỉ là chơi với các bạn, chơi với các đồ chơi, cô giáo
là người trông trẻ chứ không nghĩ các cô là người dạy, không quan tâm, hỏi han
con được học gì trẻn trường, cô giáo dạy con những gì? Tuy nhiên cũng có
những phu huynh thì rất quan tâm đén việc cho con đén trường, con được học
những gì trên lớp, họ còn có sự hợp tác với nhà trường, với cô giáo, họ hiểu
được công việc của các cô trên lớp. Khi con đi học về, phụ huynh hỏi con mình
xem cô giáo dạy con bài thơ, bài hát gì ? Và cho con đọc lại cho cả nhà cùng
nghe....
II. Đối tượng điều tra


1. Giáo viên dạy lớp mẫu giáo nhỡ

STT

Họ tên giáo viên


Nguyễn Thị Quỳnh Chi

Cao đẳng

8 năm

5

Phạm Thị Kim Dung

Trung cấp

5 năm

6

Dương Thị Hà

Đại học

8 năm

7

Nguyễn Thị Thủy

Cao đẳng

7 năm


Nam

Bố làm CN, mẹ làm giáo viên

3

Phạm Tuấn Minh

Nam

Bố làm ruộng, mẹ làm CN

4

Vũ Tùng Dương

Nam

Bố làm mỏ, mẹ làm nội trợ

5

Phạm Quang Huy

Nam

Bố làm CN, mẹ làm nội chợ

6


10

Ngô Thị Thanh Huyền

Nữ

Bố làm CN, mẹ buôn bán

11

Vũ Thị Kim Ngân

Nữ

Bố làm lái xe, mẹ làm du lịch


12

Vũ Hoàng Thùy Linh

Nữ

Bố, mẹ làm giáo viên

13

Phạm Tiến Thành


Đồng Huy Hoàng

Nam

Bố làm du lịch, mẹ làm GV

18

Hoàng Gia Bảo

Nam

Bố, mẹ làm giáo viên

19

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Nữ

Bố làm lái xe, mẹ làm du lịch

20

Bùi Thu Thảo

Nữ

Bố làm CN, mẹ làm nội chợ


4

Cây

5

Hoa

6

Hạt

7

Vỏ

8

Rau

9

Củ

10

Cuống

V. Kết quả điều tra và phân tích kết quả điều tra
1. Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên và các biện pháp đã sử dụng


0

0

Giáo viên
8

Phân tích: Nhìn vào bảng kết quả cho thấy:
Trong số 8 giáo viên chúng tôi điều tra thì số giáo viên cho nhận thức cho
rằng việc phát triển vốn danh từ cho trẻ thông qua làm quen với môi trường
xung quanh là việc rất cần thiết có 6 người chiếm tỷ lệ 75%. Còn số ít giáo viên
cho rằng việc phát triển vốn danh từ cho trẻ thông qua làm quen với môi trường
xung quanh là cần thiết có 2 người chiếm tỷ lệ 25%.
Trong số 8 giáo viên được chúng tôi điều tra thì không có giáo viên nào
trả lời cho rằng việc phát triển vốn danh từ cho trẻ thông qua làm quen với môi


trường xung quanh là không cần thiết. Như vậy, có thể nói rằng nhận thức của
giáo viên về vấn đề phất triển vốn danh từ cho trẻ là đúng đắn, phần lớn họ có ý
kiến cho rằng rất cần thiết.
* Câu hỏi 2: Trong quá trình tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường
xung quanh, chị đã thực hiện nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ nào?
Giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ
ở trường mầm non thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh,
cụ thể:
5/8 giáo viên xá định nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ chủ yếu là
phát triển vốn từ và phát triển ngôn ngữ mạch .
3/8 giáo viên xác định rất chung chung là phát triển tất cả các nhiệm vụ
phát triển ngôn ngữ trong đó có nhiệm vụ dạy nói cho trẻ, một số giáo viên cũng


đạt

nhiên
Điểm
%
đạt

Giáo viên
8
Phân tích:

20

25

21

26,2

20

25

19

23,8

Qua bảng kết quả có thể thấy trong số 8 giáo viên được điều tra thì tất cả
giáo viên đều cho rằng mục đích cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh


Thiên nhiên
vô sinh
Điểm
%
đạt

Hiện tượng tự
nhiên
Điểm
%
đạt

Giáo viên
8

25

31,3

23

28,7

17

21

15


dụng đầy đủ, hợp lý hay không còn phụ thuộc vào tiết học ấy có được kiểm tra
dự giờ hay không.
Câu hỏi 6: Chị đã sử dụng những hình thức nào để phát triển vốn danh từ cho
trẻ?
6/8 giáo viên phát triển vốn từ cho trẻ chủ yếu là trên tiết học là chính, tiết
văn học và tiết môi trường xung quanh.
2/8 giáo viên cho biết thêm ngoài dạy trên tiết học còn phải dạy đủ mọi
lúc mọi nơi.
Như vậy, việc phát triển vốn danh từ cho trẻ trên các hình thức còn rất hạn
hẹp, giáo viên chưa áp dụng hình thức giáo dục tích hợp để dạy trẻ trong tất cả
các môn học. Đa số giáo viên phát triển vốn danh từ cho trẻ trên tiết học.
Câu hỏi 7: Những phương tiện nào được sử dụng cho trẻ làm quen với môi
trường xung quanh nhằm phát triển vốn danh từ cho trẻ.
Vật thật

Tranh ảnh

Mô hình

Băng hình


Điểm

%

Điểm

đạt



18

22,5

Phân tích: Nhìn vào bảng chúng ta thấy trong số những phương tiện cơ
bản được sử dụng cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh nhằm phát triển
vốn danh từ cho trẻ như: vật thât, tranh ảnh, mô hình, băng hình thì việc cho trẻ
LQVMTXQ bằng vật thật được giáo viên đánh giá cao nhất đạt 23 điểm chiếm
28,8%.
Theo chúng tôi sở dĩ có kết quả như vậy là do khi cho trẻ LQVMTXQ
thông qua vật thật giúp trẻ được trực tiếp tự giác, sử dụng các giác quan sờ, nếm,
ngửi đối với rau củ quả, được tận mắt quan sát nghe nó vận động, vuốt ve, chăm
sóc đối với vật nuôi. Vật thật rất sinh động, sẽ gây hứng thú cho trẻ, phát huy tư
duy, trẻ dễ nhớ, ấn tượng sâu sắc.
Còn đối với việc sử dụng băng hình đạt 18 điểm chiếm 22,5%. Theo
chúng tôi việc sử dụng băng hình cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh
là rất khó, bởi lẽ trẻ không được tiếp xúc trực tiếp với đối tượng, ở trường mầm
non có ít băng hình về thiên nhiên, vì thế sẽ không phát triển được vốn từ cho
trẻ.
Câu hỏi 8: Chị đã gặp những thuận lợi và khó khăn gì?
Về thuận lợi
4/8 giáo viên cho rằng do đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 4-5 tuổi và
nội dung dạy trong chương trình quy định là rất phù hợp với trình độ nhận thức
ở trẻ nên đó là điều kiện thuận lợi.
4/8 giáo viên cho rằng do trẻ sống ở địa bàn thị xã nên trẻ có điều kiện
được giao tiếp, học hỏi nhiều nên cung tạo điều kiện trong việc phát triển vốn từ
cho trẻ.
Về khó khăn



7/10

70%

3

Phạm Tuấn Minh

8/10

80%

4

Vũ Tùng Dương

5/10

50%

5

Phạm Quang Huy

6/10

60%

6


10

Ngô Thị Thanh Huyền

10/10

100%

11

Vũ Thị Kim Ngân

7/10

70%

12

Vũ Hoàng Thùy Linh

9/10

90%

13

Phạm Tiến Thành

5/10

Đồng Huy Hoàng

8/10

80%

18

Hoàng Gia Bảo

9/10

90%

19

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

7/10

70%

20

Bùi Thu Thảo

8/10

80%


+ Tri giác của trẻ cần được gắn liền với những từ ngữ cô đã chuẩn bị trước. Tuy
nhiên không hạn chế các từ ngữ do trẻ tự sử dụng.
+ Cô chú ý cho các cháu quan sát kĩ và được nói nhiều các từ ngữ mới nếu được
nhắc đi nhắc lại, kết hợp với tri giác các sự vật, hiện tượng.
2. Biện pháp 2: Sử dụng trò chơi
- Mục đích: Sử dụng một số trò chơi học tập để phát triển vốn danh từ cho trẻ.
- Yêu cầu: Trò chơi đơn giản, phù hợp với nhận thức của trẻ, phù hợp với chủ
đề.
- Cách thực hiện:
+ Trò chơi: Cái gì đã thay đổi? Trước mặt trẻ có bày một số đồ chơi. Yêu cầu trẻ
nhắm mắt lại, cô thay đổi vị trí của đồ chơi hoặc cất đi và bổ sung đồ chơi khác
vào vị trí đó. Yêu cầu trẻ mở mắt, quan sát và nói xem cái gì đã thay đổi.
+ Trò chơi: “ Chiếc túi kì diệu ”. Cho một số đồ chơi vào túi. Cô cho trẻ nhắm
mắt, không nhìn vào túi lấy vật theo yêu cầu của cô, lấy ra ngoài túi rồi phát âm
tên của vật. Lần sau cô tăng mức độ chơi bằng cách cô miêu tả vật, tự tưởng
tượng xem trong đó là vật gì và lấy vật theo sự miêu tả của cô và gọi tên.
+ Trò chơi: “ Hái hoa ”. Cô cho trẻ ngồi ghế hình vòng cung xong nói cách chơi.
Cô đặt các chậu hoa, lẵng hoa đã chuẩn bị, cô yêu càu trẻ hái hoa theo yêu cầu
của cô và nói tên hoa.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status