SỞ GD & ĐT NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT ...........................
----------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DỰ THI CẤP TỈNH
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
ĐỀ TÀI:
GIÚP HỌC SINH LỚP 12 NÂNG CAO NĂNG LỰC
LÀM TỐT BÀI NGHỊ LUẬN HAI Ý KIẾN BÀN VỀ VĂN HỌC
Tác giả: .................................
Trình độ chuyên môn: .........
Chức vụ: ..............
Nơi công tác: Trường THPT ..........
.........., tháng 5 năm 2017
1
SỞ GD&ĐT NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT ...............................
THÔNG TIN CHUNG VỀ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DỰ THI CẤP TỈNH
1. Tên sáng kiến: “Giúp học sinh lớp 12 nâng cao năng lực làm tốt bài nghị luận hai ý
kiến bàn về văn học ”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ năm học 2014- 2015 đến nay.
4. Tác giả:
3.1. Với dạng đề hai ý kiến về một chi tiết
3.2. Với dạng đề hai ý kiến về một nhân vật
3.3. Với dạng đề hai ý kiến về một đoạn trích
3.4. Với dạng đề hai ý kiến về một tác phẩm
4. Giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản về các tác giả, tác phẩm
trong chương trình để có chất liệu làm tốt bài nghị luận hai ý kiến bàn
về văn học
5. Tích cực hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận hai
ý kiến bàn về văn học
C. Hiệu quả do sáng kiến đem lại
D. Cam kết
E. Kết luận
Nhận xét của cơ quan, đơn vị áp dụng sáng kiến
G. Thư mục tham khảo
E. Phụ lục
I. Các chữ viết tắt
II. Dàn ý một số đề nghị luận hai ý kiến bàn về văn học
Trang
2
3
4
5
5
5
6
7
7
8
8
từng lĩnh vực, từng môn học.
Riêng đối với môn Ngữ văn, mấy năm gần đây nhằm thực hiện đồng thời hai mục
đích, vừa xét tốt nghiệp, vừa xét tuyển đại học, các đề thi đã có nhiều thay đổi từ cấu trúc
đến nội dung theo định hướng đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh, tránh học tủ, học vẹt.
Bên cạnh việc đưa phần Đọc – hiểu vào đề thi mà ngữ liệu có thể nằm ngoài chương trình
sách giáo khoa (SGK) thay cho kiểu câu hỏi tái hiện kiến thức, thiên về kiểm tra trí nhớ
trước đó, phần nghị luận văn học trong kỳ thi THPT Quốc gia đều theo xu hướng tiếp cận
ngày một gần hơn với các đề thi Đại học, Cao đẳng khối C và khối D. Có nghĩa là, mức độ
đề thi khó hơn so với đề thi Tốt nghiệp trước đây, nhưng lại “nhẹ” hơn so với đề thi Đại học,
Cao đẳng. Qua khảo sát thực tiễn, chúng tôi thấy, bên cạnh những câu hỏi yêu cầu nghị luận
về một đoạn thơ, bài thơ, nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích, văn xuôi, hay nghị luận
về một ý kiến bàn về văn học rất quen thuộc với học sinh vì các em đã được học kỹ ở
chương trình Ngữ văn 12; kiểu bài nghị luận hai ý kiến bàn về văn học xuất hiện khá phổ
biến trong các đề thi Đại học năm 2013 và 2014. Đặc biệt, mới đây nhất, ngày 15/5/2017, Bộ
GD&ĐT đã chính thức công bố đề thi minh họa lần thứ 3 môn Ngữ văn theo định hướng kỳ
thi THPT Quốc gia năm 2017, trong đó cũng có câu thuộc kiểu bài nghị luận hai ý kiến bàn
về văn học. Bởi đây là một dạng đề mở, không chi kích thích tư duy, phát triển trí tuệ, giúp
học sinh có cơ hội phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình, mà còn có khả năng
phân hóa được trình độ của học sinh trong kiểm tra, đánh giá, nhờ đó mà có thể đánh giá
được năng lực học sinh một cách khách quan, chính xác hơn.
Tuy nhiên, đây là dạng đề khó đối với học sinh, nhất là các em có học lực trung bình.
Bởi nó đòi hỏi học sinh năng lực tư duy cao, biết huy động kiến thức cho phù hợp và bày tỏ
rõ quan điểm, chính kiến của bản thân về những vấn đề được đặt ra ở đề bài... Hơn nữa,
trong chương trình SGK Ngữ văn THPT không có những tiết học riêng về lý thuyết và thực
hành cho dạng đề này. Vì thế, khi đối diện với dạng đề nghị luận hai ý kiến bàn về văn học,
học sinh găp rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết vấn đề và kết quả bài làm của các em
chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn ấy, tôi đã chọn đề tài “Giúp học sinh lớp 12 nâng cao
năng lực làm tốt bài nghị luận hai ý kiến bàn về văn học ” làm sáng kiến kinh nghiệm
(SKKN), nhằm trao đổi với các bạn đồng nghiệp cách thức hướng dẫn học sinh ôn tập môn
Từ cảm nhận của mình về niềm khát khao đó, anh/chị hãy bình luận những ý kiến
trên.
Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
Về nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn
MinhChâu, có ý kiến cho rằng : nét nổi bật ở người nghệ sỹ này là một tâm hồn nhạy cảm và
say mê cái đẹp thơ mộng của cảnh vật. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: vẻ đẹp sâu xa của nghệ sĩ
Phùng chính là một tấm lòng đầy trăn trở, lo âu về thân phận con người.
Từ cảm nhận của mình về nhân vật Phùng, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.
Ví dụ 3: Đề thi ĐH năm 2014 – Khối C:
Câu III (5 điểm): Về hình tượng sông Hương trong bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng
sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường (sách Ngữ văn 12), có ý kiến cho rằng: Vẻ đẹp nổi bật
của sông Hương là cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, tình tứ. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: Vẻ
đẹp bề sâu của sông Hương là những trầm tích văn hóa, lịch sử.
Bằng cảm nhận về hình tượng sông Hương, anh/chị hãy bình luận các ý kiến trên.
Ví dụ 4: Đề thi ĐH năm 2014 – Khối D:
Câu III (5 điểm): Về hình tượng Lor-ca trong bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của
Thanh Thảo, có ý kiến cho rằng: Đó là mẫu nghệ sĩ - chiến sĩ, vì dấn thân tranh đấu cho dân
chủ và tự do nên bị bọn phát xít hành hình. Ý kiến khác thì khẳng định: Đó là mẫu nghệ sĩ
thuần túy chi đam mê cái đẹp và sáng tạo nghệ thuật, nhưng bị giết hại oan khuất.
Bằng cảm nhận về hình tượng Lor-ca, anh/chị hãy bình luận các ý kiến trên.
Ví dụ 5: Đề minh họa lần 3 môn Ngữ văn kỳ thi THPT Quốc gia 2017 của Bộ
GD&ĐT:
Về nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân, có ý kiến cho rằng:
Tràng là gã trai quê nông nổi, liều lĩnh. Lại có ý kiến nhấn mạnh: Đó là một con người đầy
khaokhát, tốt bụng.
Bằng cảm nhận của mình về nhân vật Tràng, anh/chị hãy bình luận các ý kiến trên.
5
những kĩ năng này ở học sinh, nhất là những trường có đầu vào tuyển sinh rất thấp, đa phần
là rất hạn chế. Vì thế, nhiều giáo viên cũng tỏ ra e ngại khi đưa ra dạng đề nghị luận văn học
này đối với học sinh đại trà, mà thường chi dành riêng cho đối tượng học sinh tham gia đội
tuyển học sinh giỏi, hoặc có thiên hướng lấy kết quả bài thi môn Ngữ văn trong kỳ thi THPT
Quốc gia để xét tuyển Đại học.
Mặt khác, trong chương trình Ngữ văn lớp 12 THPT thời lượng luyện tập kĩ năng làm
văn nghị luận còn rất hạn hẹp, chi có một số tiết ít ỏi nếu không có sự sắp xếp hợp lí không
thể đem lại hiệu quả thực hành. Vì thế, đa số giáo viên thường chi hướng dẫn học sinh lập
dàn ý cho một số đề bài trong sách giáo khoa. Một số giáo viên dù có cập nhật hướng ra đề
mới nhưng không đủ thời gian rèn kĩ năng cho các em hoặc hướng dẫn các em thực hành.
Bên cạnh đó, đa số học sinh không yêu thích môn Ngữ văn, chưa chủ động tìm hiểu, tích lũy
các đề bài (câu hỏi) hay, mới lạ. Không ít học sinh vẫn còn có thói quen học vẹt, học tủ.
Thậm chí,một số em học bài mà chẳng hiểu gì về tác phẩm, nhân vật, không thể đưa ra
những ý kiến đánh giá độc lập, không thể bình luận về tác phẩm đã học, không biết đóng góp
của tác giả với nền văn học nước nhà. Nhiều em cách nhìn nhận về tác phẩm và các vấn đề
văn học còn chủ quan, phiến diện. Vì thế, khi gặp dạng đề nghị luận hai ý kiến về văn học đa
số các em không biết phải làm thế nào, bắt đầu ra sao? Thâm chí, không ít học sinh chưa có
nhận thức đúng đắn về yêu cầu của đề bài. Nhiều em còn có suy nghĩ bài làm đơn thuần chi
6
là sự ghép lại của hai bài văn độc lập. Không ít trường hợp các em chi nghị luận về một ý
kiến mà mình cho là đúng, không quan tâm đến ý kiến còn lại, không thấy được mối liên
quan giữa chúng. Thậm chí, có những học sinh gặp gì viết nấy, không đáp ứng đúng nội
dung, yêu cầu của đề bài, nên chất lượng, hiệu quả bài làm của các em chưa cao.
3. Kết quả kiểm tra năng lực làm bài nghị luận hai ý kiến bàn về văn học của học sinh
còn hạn chế:
Khảo sát qua kết quả các bài kiểm tra chất lượng phần làm văn câu hỏi nghị luận hai ý
kiến bàn về văn học môn Ngữ văn 12 (thang điểm 5/10) của học sinh THPT .........................
Như trên đã nói, nghị luận hai ý kiến bàn về văn học là sự đổi mới trong cách ra đề
khá phổ biến ở các kỳ thi Đại học, Cao đẳng hiện nay. Cách thức ra đề cũng đa dạng phong
phú, đề cập tới nhiều vấn đề văn học khác nhau nhằm đánh giá đúng năng lực, phẩm chất
học sinh, tạo cơ hội để các em bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình trước những ý kiến
khác nhau bàn về các vấn đề văn học.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu, khảo sát các đề thi Đại học, Cao đẳng mấy năm trở lại đây,
chúng tôi thấy có các kiểu dạng nghị luận hai ý kiến bàn về văn học cơ bản sau:
- Hai ý kiến về một chi tiết nghệ thuật:
* Ví dụ:
Có ý kiến cho rằng, hành động cắt dây cởi trói cho A Phủ của Mị trong “Vợ chồng A
Phủ” của Tô Hoài là hành động hoàn toàn mang tính bột phát. Lại có ý kiến khẳng định Mị
cắt dây cởi trói cho A Phủ cũng là tự cởi trói cho mình.
Suy nghĩ của anh (chị) về hai ý kiến trên.
- Hai ý kiến về một nhân vật:
* Ví dụ:
Bàn về hình tượng người lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn
Tuân có ý kiến cho rằng: “Đó là người lao động đầy trí dũng trên sông nước Đà giang”. Ý
kiến khác lại khẳng định: “Đó là người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác leo
ghềnh.”
Tổng số HS dự thi
7
Từ cảm nhận của mình về hình tượng người lái đò sông Đà trong tùy bút “Người lái
đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên?
(Hay, như ví dụ 1, ví dụ 2 (câu 3b), ví dụ 3, ví 4, ví dụ 5 trang 5)
- Hai ý kiến về một đoạn trích:
* Ví dụ:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
kiểu dạng cụ thể của bài nghị luận hai ý kiến bàn về văn học bao giờ cũng có những yêu cẩu
riêng đòi hỏi học sinh phải nắm chắc mới có cơ hội đạt kết quả cao khi làm bài nghị luận văn
học này.
2. Giúp học sinh nắm chắc đặc điểm chung và yêu cầu riêng của mỗi kiểu dạng đề này:
2.1. Đặc điểm chung của kiểu bài nghị luận hai ý kiến bàn về văn học:
- Nghị luận hai ý kiến bàn về văn học là kiểu bài nghị luận đòi hỏi học sinh phải sử
dụng tổng hợp các thao thác nghị luận một cách linh hoạt, bao gồm các thao tác: Giải thích,
phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ. Ở đó, học sinh cần phải thể hiện rõ nhất
quan điểm, chính kiến của bản thân trước những ý kiến nhận xét, đánh giá khác nhau về một
hiện tượng văn học. Bởi vậy, bên cạnh việc nắm chắc các kiến thức trọng tâm, cơ bản về tác
giả, tác phẩm, sử dụng linh hoạt, hiệu quả các thao tác nghị luận, học sinh phải thể hiện rõ
quan điểm, chính kiến của mình, đồng tình hay bác bỏ, hoặc chi nhất trí về một phương diện,
8
khía cạnh nào đó trong các ý kiến và đề xuất, bổ sung cho phù hợp. Đây quả là một yêu cầu
rất cao đối với học sinh, đòi hỏi các em phải huy động vốn sống, vốn hiểu biết của bản thân
và thể hiện rõ phẩm chất, năng lực người học. Đấy là chưa kể mỗi kiểu dạng nghị luận hai ý
kiến về văn học lại có những yêu cầu riêng, cần huy động những đơn vị kiến thức khác nhau,
nên học sinh cần phải không ngừng trau dồi, bổ sung kiến thức mới có thể làm tốt những
kiểu dạng đề bài này.
- Mặc dù, mỗi kiểu dạng nghị luận hai ý kiến về văn học có những yêu cầu riêng,
nhưng giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm chắc khung dàn ý chung của kiểu bài này bao
gồm các ý cơ bản sau:
+ Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm (đoạn trích, nhân vật, chi tiết) cần nghị
luận; trích dẫn hai ý kiến.
+ Giải thích (nếu cần), phân tích, chứng minh, bình luận ý kiến 1.
+ Giải thích (nếu cần), phân tích, chứng minh, bình luận ý kiến 2.
+ Phân tích, đánh giá về mối quan hệ giữa hai kiến.
hành động, nhân vật tư tưởng? Nhân vật được xây dựng bằng bút pháp điển hình hóa, hay lý
tưởng hóa?...
+ Cảm nhận, phân tích được giá trị của nhân vật trong việc phản ánh nội dung, tư
tưởng tác phẩm, thể hiện phong cách nghệ thuật tác giả.
9
+ Từ đó, biết cách cắt nghĩa, lý giải hai ý kiến khác nhau về nhân vật; xác định rõ ý
kiến nào đúng, ý kiến nào chưa thỏa đáng, ý kiến nào cần bổ sung và mối quan hệ giữa hai ý
kiến…
+ Đánh giá về giá trị của hai ý kiến với việc nâng cao nhận thức của bản thân về nhân
vật.
- Đối với kiểu dạng hai ý kiến về một đoạn trích, học sinh cần:
+ Nắm chắc xuất xứ của đoạn trích: Nằm ở vị trí nào trong tác phẩm, thể hiện phương
diện nào trong chủ đề tư tưởng và phong cách nghệ thuật tác giả?
+ Hiểu rõ: giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của đoạn trích, thông qua ngôn ngữ,
hình tượng, các biện pháp tu từ được sử dụng (các chi tiết, sự kiện tiêu biểu)...
+ Biết cách cắt nghĩa, lý giải hai ý kiến khác nhau về đoạn trích; xác định rõ ý kiến
nào đúng, ý kiến nào chưa thỏa đáng, ý kiến nào cần bổ sung và mối quan hệ giữa hai ý
kiến…
+ Đánh giá về giá trị của hai ý kiến với việc nâng cao nhận thức của bản thân về đoạn
trích.
- Đối với kiểu dạng hai ý kiến về một tác phẩm, giáo viên cần giúp học sinh:
+ Nắm chắc xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm; những nét chính trong phong
cách nghệ thuật của tác giả.
+ Hiểu rõ và cảm nhận, phân tích được giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác
phẩm thông qua thế giới ngôn ngữ, hình tượng được tác giả sử dụng.
+ Biết cách cắt nghĩa, lý giải hai ý kiến khác nhau về đoạn trích; xác định rõ ý kiến
nào đúng, ý kiến nào chưa thỏa đáng, ý kiến nào cần bổ sung và mối quan hệ giữa hai ý
3.1. Với dạng đề hai ý kiến về một chi tiết
3.1.1. Mở bài :
Để giúp học sinh chủ động, sáng tạo trong việc giới thiệu về tác giả, tác phẩm, chi tiết
cần nghị luận; trích dẫn 2 ý kiến, giáo viên nên định hướng cho các em tự đặt ra và trả lời các
câu hỏi sau:
+ Chi tiết nghệ thuật cần nghị luận thuộc tác phẩm nào? Do ai sáng tác?
+ Chi tiết ấy nằm ở phần nào trong tác phẩm?
+ Những ý kiến khác nhau về chi tiết?
3.1.2. Thân bài :
a. Giải thích (nếu cần), phân tích, chứng minh, bình luận ý kiến 1:
Học sinh cần trả lời các câu hỏi:
+ Ý kiến này nhận xét, đánh giá về giá trị nào của chi tiết? (làm nổi bật đặc điểm tính
cách nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, phong các nghệ thuật của nhà văn hay chủ đề
tư tưởng tác phẩm?) – thao tác giải thích.
+ Ý kiến ấy đúng hay sai? (Hoặc chi đúng một phần)- thao tác bình luận.
+ Ý kiến ấy bao gồm những khía cạnh nào? (hay chi có một khía cạnh)- thao tác phân
tích.
+ Khía cạnh (những khía cạnh) ấy được thể hiện qua những chi tiết, hình ảnh, biện
pháp tu từ nào? - thao tác phân tích, chứng minh.
b. Giải thích (nếu cần), phân tích, chứng minh, bình luận ý kiến 2:
(Tương tự như ý kiến 1)
c. Phân tích, đánh giá về mối quan hệ giữa hai 2 kiến:
Học sinh cần trả lời các câu hỏi sau:
+ Hai ý kiến này giống nhau hay khác nhau? (thường khác nhau).
+ Chúng đối lập nhau hay bổ sung cho nhau? (thường bổ sung).
+ Nếu bổ sung cho nhau thì chúng giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về nhân vật
(tác phẩm) ở phương diện nào? (đặc điểm, tâm lý, tính cách, hay nghệ thuật xây dựng nhân
vật của tác giả ; giá trị nội dung, hay giá trị nghệ thuật tác phẩm; hoặc cả hai).
+ Nếu chúng đối lập nhau thì ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai, hay cả 2 đều đúng? Bản
thân đồng tình với ý kiến nào? (hay cả hai). Có cần bổ sung, đề xuất thêm không?.
pháp tu từ nào? - phân tich, chứng minh.
b. Giải thích (nếu cần), phân tích, chứng minh, bình luận ý kiến 2: (tương tự như ý kiến 1)
c. Phân tích, đánh giá về mối quan hệ giữa hai 2 kiến: (tương tự như phần c, mục 3.1.2)
3.2.3. Kết bài :
Đánh giá khái quát về giá trị 2 ý kiến với nhận thức, suy nghĩ của bản thân về nhân
vật và vị trí vai trò của nhân vật trong tác phẩm, cũng như sự nghiệp sáng tác của nhà văn,
học sinh cần trả lời các câu hỏi sau :
+ Những ý kiến này giúp ta hiểu về nhân vật như thế nào? (sâu sắc toàn diện về một
phương diện nào đó).
+ Nhân vật góp phần làm nổi bật phương diện nào của tác phẩm? (nội dung, tư tưởng
nào hoặc nét đặc sắc nghệ thuật nào?).
+ Nhân vật có góp phần làm nên sức sống của tác phẩm hay phong cách nghệ thuật
của nhà văn không? Sức sống ấy như thế nào? Phong cách nghệ thuật ấy ra sao?
3.3. Với dạng đề hai ý kiến về một đoạn trích:
3.3.1. Mở bài :
Khi giới thiệu về tác giả, tác phẩm, đoạn trích cần nghị luận; trích dẫn 2 ý kiến, học
sinh có thể tự đặt ra và trả lời các câu hỏi sau:
+ Đoạn trích thuộc tác phẩm nào? Do ai sáng tác?
+ Vị trí đoạn trích trong tác phẩm?
+ Chủ đề chính và những nét đặc sắc của đoạn trích?
+ Những ý kiến khác nhau về đoạn trích?
3.3.2. Thân bài :
a. Giải thích (nếu cần), phân tích, chứng minh, bình luận ý kiến 1:
Học sinh cần trả lời các câu hỏi sau :
+ Ý kiến này bàn về phương diện nào của đoạn trích? (chủ đề, nội dung tư tưởng, cảm
hứng chủ đạo, hình tượng trung tâm hay những đặc sắc nghệ thuật …) - giải thích.
+ Ý kiến ấy đúng hay sai, hoặc chi đúng một phần? (tương tự như phần a, mục 3.1.2)
+ Ý kiến ấy bao gồm những khía cạnh nào? (hay chi có một khía cạnh), (tương tự như
phần a, mục 3.1.2)
+ Khía cạnh (những khía cạnh) ấy được thể hiện qua những từ ngữ, hình ảnh, (chi tiết
+ Tác phẩm do ai sáng tác, được ra đời trong hoàn cảnh nào?
+ Chủ đề chính của tác phẩm là gì?
+ Những nét đặc sắc nghệ thuật và vị trí tác phẩm trong sự nghiệp sáng tác của tác
giả?
+ Những nhận xét khác nhau về tác phẩm?
3.4.2. Thân bài :
a. Giải thích (nếu cần), phân tích, chứng minh, bình luận ý kiến 1:
Học sinh cần trả lời các câu hỏi sau :
+ Ý kiến này đề cập tới phương diện nào của tác phẩm ? (chủ đề, nội dung tư tưởng,
cảm hứng chủ đạo, hình tượng trung tâm hay những đặc sắc nghệ thuật…) - giải thích.
+ Ý kiến ấy đúng hay sai, hoặc chi đúng một phần? (tương tự như phần a, mục 3.1.2)
+ Ý kiến ấy bao gồm những khía cạnh nào? (hay chi có một khía cạnh), (tương tự như
phần a, mục 3.1.2)
+ Khía cạnh (những khía cạnh) ấy được thể hiện qua những từ ngữ, chi tiết, hình ảnh,
biện pháp tu từ nổi bật nào? - phân tích, chứng minh.
b. Giải thích (nếu cần), phân tích, chứng minh, bình luận ý kiến 2: (tương tự như ý kiến 1)
c. Phân tích, đánh giá về mối quan hệ giữa hai 2 kiến:
Học sinh cần trả lời các câu hỏi sau:
+ Hai ý kiến này giống nhau hay khác nhau? (tương tự như phần c, mục 3.1.2)
+ Chúng đối lập nhau hay bổ sung cho nhau? (tương tự như phần c, mục 3.1.2)
+ Nếu bổ sung cho nhau thì chúng giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về tác phẩm
ở phương diện nào? (chủ đề, nội dung tư tưởng, cảm hứng chủ đạo, hình tượng trung tâm
hay những đặ sắc nghệ thuật …)
+ Nếu chúng đối lập nhau thì ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai, hay cả 2 đều đúng? Bản
thân đồng tình với ý kiến nào? (hay cả hai). Có cần bổ sung, đề xuất thêm không? (tương tự
như phần c, mục 3.1.2)
3.4.3. Kết bài :
Đánh giá khái quát về giá trị 2 ý kiến với nhận thức, suy nghĩ của bản thân về tác
phẩm và vị trí vai trò của tác phẩm với sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật của nhà
văn; học sinh cần trả lời các câu hỏi sau:
- Hiểu rõ hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, ngọn nguồn cảm hứng sáng tạo của tác giả...
Đối với văn bản thơ phải học thuộc tác phẩm, nắm chắc cảm hứng chủ đạo, phát hiện ra cấu
tứ, các từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, các biện pháp tu từ tiêu biểu, đặc sắc… Đối với các tác
phẩm văn xuôi phải tóm tắt được cốt truyện, nắm được những chi tiết cơ bản, đặc điểm nổi
bật của các nhân vật chính, nhận diện được ngôi kể, giọng kể, điểm nhìn trần thuật, phương
thức trần thuật...
- Nắm chắc và hiểu sâu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm;
biết cảm thụ, phân tích, cắt nghĩa, lý giải một số chi tiết (câu, đoạn) đặc sắc; có vốn văn học
cần thiết để liên hệ, so sánh, đối chiếu các hình tượng văn học cùng loại, các tác phẩm có
chung đề tài, chủ đề để để hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm, cũng như đóng góp riêng, độc đáo
của tác giả với nền văn học dân tộc.
5. Tích cực hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng viết bài văn nghị luận hai ý kiến bàn
về văn học:
Rèn luyện kỹ năng viết bài văn nghị luận hai ý kiến bàn về văn học là khâu cuối cùng
quan trọng nhất, có tính quyết định tới chất lượng hiệu quả của bài văn, thể hiện rõ nhất
phẩm chất, năng lực người học. Bởi đây là mục đích, yêu cầu chung của mọi bài văn nghị
luận thể hiện rõ nhất vốn sống, vốn hiểu hiểu biết và năng lực nhiều mặt của học sinh. Nó
đòi hỏi các em biết cách huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng cơ bản của mộn học, cùng
vốn sống vốn hiểu biết của bản thân để giải quyết các vấn đề đặt ra ở đề bài sao cho có sức
thuyết phục và hấp dẫn người đọc.
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, kiểu bài nghị luận hai ý kiến bàn về văn học có những
yêu cầu cao đối với đa số học sinh. Nó không chi đòi hỏi các em thể hiện rõ năng lực cảm
14
thụ văn học của bản thân, mà còn thể hiện được chính kiến, quan điểm của cá nhân về vấn đề
nghị luận. Đặc biệt, với bài nghị luận hai ý kiến bàn về văn học, để thuyết phục người đọc,
người viết cần có kĩ năng kết hợp đồng thời, linh hoạt nhiều phép lập luận để làm sáng tỏ vấn
đề, để trình bày một cách hấp dẫn ý kiến, nhận định của mình. Vì thế, lời văn trong bài nghị
đẹp hơn, giàu chất thơ, chất họa hơn bởi hình ảnh những chiếc váy đem phơi trên những
mỏm đá “xòe như con bướm sặc sỡ” của những cô sơn nữ chuẩn bị đi chơi xuân, cùng
âm thanh “cười ầm” trên sân, trước nhà của đám trẻ chơi quay, đợi tết. Đó chính là bức
tranh xuân rộn rã âm thanh, lung linh màu sắc là cái nền, tạo bước đệm cho sự bừng tỉnh
của một tâm hồn nguội lạnh” (Bài viết của Ngô Thị Ngọc Diệp, lớp 12 A2 trường
THPT .........................).
+ Đoạn văn trong bài nghị luận nói chung, nghị luận hai ý kiến bàn về văn học nói
riêng phải tuân thủ theo những quy tắc nghiêm ngặt. Trong đó, mỗi đoạn văn là một luận
điểm, phải xuống dòng và lùi đầu dòng, chữ đầu tiên phải viết hoa, có thể được viết theo
hình thức diễn dịch, quy nạp, hoặc tổng phân hợp. Nhưng giáo viên cần khuyến cáo học sinh
nên chọn hình thức tổng phân hợp để diễn đạt cho chặt chẽ. Trong đó, câu mở đoạn nêu luận
điểm (chủ đề) của cả đoạn cần ngắn gọn rõ ràng. Các câu ở phần thân đoạn triển khai ý đã
nêu ở câu mở đoạn. Còn câu kết đoạn nhận xét đánh giá vấn đề vừa triển khai, tiểu kết cả
đoạn.
15
Chẳng hạn, cũng với đề bài hai ý kiến bàn về đoạn văn miêu tả tâm trạng Mị đêm tình
mùa xuân như đã dẫn ở trên, khi phân tích mối quan hệ giữa hai ý kiến, có học sinh đã viết
như sau: “Rõ ràng, hai ý kiến trên là những nhận xét khác nhau về đoạn văn miêu tả diễn
biến tâm trạng Mị đêm tình mùa xuân trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài. Một ý kiến
thiên về nhận xét, đánh giá giá trị nghệ thuật của đoạn trích. Ý kiến còn lại, chủ yếu nhấn
mạnh giá trị nội dung đặc sắc của đoạn văn này. Nhưng chúng đã bổ sung cho nhau, cùng
góp phần thể hiện vẻ đẹp riêng, sức hấp dẫn riêng của đoạn văn miêu tả diễn biến tâm trạng
Mị đêm tình mùa xuân trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài. Bởi giá trị một tác phẩm, hay
một đoạn trích suy cho cùng là sự kết hợp hài hòa giữa giá trị nghệ thuật và giá trị nội dung.
Không ai phủ nhận được nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật đạt tới “Phép biện chứng tâm
hồn” của Tô Hoài. Cũng không ai không cảm nhận được “chất thơ của Tây Bắc” trong
đoạn văn đặc sắc này. Đấy quả là những nhận xét tinh tế, sâu sắc của người đọc về tài năng
mới văn học của Nguyễn Minh Châu. Ở đó, nhà văn chẳng những đã tạo ra một tình huống
truyện độc đáo, hấp dẫn mà còn xây dựng thành công một hình tượng nhân vật Phùng. Có ý
kiến cho rằng, “nét nổi bật của người nghệ sĩ này là một tâm hồn nhạy cảm, say mê cái đẹp
thơ mộng”. Ý kiến khác lại khẳng định, “vẻ đẹp sâu xa của nghệ sĩ Phùng chính là một tấm
lòng đầy trăn trở, lo âu về thân phận con người”.
16
Thực ra, một nhân vật trong tác phẩm văn học có những cách hiểu, cách nhận xét,
đánh giá khác nhau không có gì lạ. Bởi đấy là quy luật của quá trình tiếp nhận văn học. Tùy
thuộc vào năng lực, sở trường và góc độ tiếp cận khác nhau mà mỗi người có những cách
cảm nhận, đánh giá riêng về một hình tượng văn học. Ý kiến cho rằng, nét nổi bật của
Phùng là “một tâm hồn nhạy cảm, say mê cái đẹp thơ mộng” là cách cảm nhận tinh tế và
xác đáng, thiên về nhận xét, đánh giá hình tượng nhân vật này qua lời kể của anh ở phần
đầu thiên truyện.
Cùng với người đàn bà hàng chài, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng cũng là nhân vật trung
tâm trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Có điều, khác với người đàn bà
hàng chài, Phùng vừa là nhân vật trong tác phẩm vừa trong vai người kể chuyện xưng “tôi”
trong văn bản ngôn từ kể lại câu chuyện về chuyến đi công tác của mình và về người đàn bà
hàng chài mà anh đã bắt gặp.
Trước hết, qua lời kể của Phùng, anh là một nghệ sĩ nhiếp ảnh được đơn vị cử đi công
tác chụp một bức ảnh thuyền và biển để hoàn thành bộ sưu tập chuẩn bị xuất bản một bộ
lịch nghệ thuật cho năm tới. Anh đã tìm đến một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh
thời kháng chiến chống Mĩ. Sau mấy ngày “phục kích” quan sát tìm cảm hứng sáng tạo,
Phùng đã chớp được một cảnh “đắt” trời cho. Đó là cảnh một chiếc thuyền thấp thoáng
ngoài khơi xa trong làn sương trắng như sữa của một buổi sáng bình minh trên biển. Theo
Phùng, bức tranh ấy chẳng khác gì “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”.
Hiển hiện trên cái nền không gian khoáng đạt của biển khơi là hình ảnh “mũi thuyền in một
nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha một chút màu hồng hồng do
biết. Anh đã chạy nhào tới để can ngăn, bị người đàn ông trên thuyền chống trả, Phùng bị
thương và được đưa vào điều trị tại trạm ý tế của tòa án nhân dân huyện. Những cử chỉ và
hành động ấy của Phùng chứng tỏ anh là người nghệ sĩ không chỉ yêu say cái đẹp mà còn
gắn bó và rất có ý thức trách nhiệm với cuộc đời.
Tại tòa án nhân dân huyện, Phùng đã được nghe toàn bộ câu chuyện của người đàn
bà hàng chài. Cũng như Đẩu – vị bao công phố huyện, đồng thời là người bạn chiến đấu
năm xưa của Phùng, người nghệ sĩ nhiếp ảnh này đã đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc
nhiên khác. Anh không chỉ ngạc nhiên vì dù bị chồng đánh nhưng người đàn bà hàng chài
không chống trả, không chạy trốn mà còn ngạc nhiên khi biết dẫu liên tục bị người đàn ông
đánh đập, hành hạ “cứ ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng người đàn
bà này vẫn một mực quyết không chịu bỏ chồng trước những lời khuyên ngăn của chánh án
Đẩu. Chỉ tới khi lắng nghe lời tâm sự của người đàn bà hàng chài Phùng mới bỡ ngỡ nhận
ra rằng, sở dĩ người đàn bà này cam chịu mọi hành vi bạo lực của chồng là vì chị muốn có
một người đàn ông ở trên thuyền, là chỗ dựa vững chắn cho các con khi phong ba bão táp,
cùng chị nuôi cả “một sắp con nhỏ” trên dưới mười đứa mong sao “chúng được ăn no”.
Hơn nữa, sở dĩ chị chấp nhận đòn roi của chồng là vì chị hiểu những bực dọc của chồng :
vì đông con, thuyền chật, kinh tế nghèo túng do trốn lính ngụy. Bởi vậy, từ đây Phùng luôn bị
ám ảnh bởi vẻ đẹp tâm hồn giàu tình yêu chồng thương con của người đàn bà hàng chài.Vì
thế, sau chuyến đi công tác ấy mỗi lần nhìn lên bức ảnh về chiếc thuyền ngoài xa được đồng
nghiệp đánh giá cao, được treo ở những gia đình sành nghệ thuật, Phùng như thấy người
đàn bà hàng chài bước ra từ tấm ảnh với vẻ bề ngoài lam lũ đáng thương. Phải chăng
Phùng đã nhận ra rằng chân lí nghệ thuật là cuộc sống. Cuộc sống lam lũ nhọc nhằn của
người đàn bà hàng chài đáng thương và tội nghiệp cùng với vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong của
chị mới là cái đích mà người nghệ sĩ chân chính khát khao khám phá. Nói cách khác, đấy là
minh chứng sinh động cho “tấm lòng đầy trăn trở, lo âu về thân phận con người” của
Phùng.
Có thể nói, hai ý kiến trên tuy khác nhau, nhưng chúng đã bổ sung cho nhau đem đến
cho người đọc cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Ở anh vừa có
“một tâm hồn nhạy cảm, say mê cái đẹp thơ mộng”, vừa có “một tấm lòng đầy trăn trở, lo
âu về thân phận con người”. Đó là những phẩm chất cần có của một nghệ sĩ chân chính, có
C. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI
Có thể nói, một số giải pháp giúp học sinh nâng cao năng lực làm tốt bài nghị luận
hai ý kiến bàn về văn học tuy không phải là vấn đề hoàn toàn mới, nhưng qua thực tế khi áp
dụng những giải pháp này cho bản thân tôi và tổ bộ môn, chúng tôi thấy những giải pháp ấy
đã đạt được những hiệu quả và lợi ích cơ bản sau:
I. Về phương diện lý luận:
- Những giải pháp trên đã phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo và năng lực
tư duy của học sinh, giúp các em từng bước hình thành các kỹ năng làm bài nghị luận hai ý
kiến bàn về văn học.
- Những giải pháp mà đề tài nêu ra giúp học sinh dễ vận dụng linh hoạt, hiệu quả vào
việc làm bài nghị luận về hai ý kiến bàn về văn học.
- Đặc biệt hệ thống câu hỏi khi lập ý và triển khai các ý ở mỗi dạng bài cụ thể tránh
được lối dạy tủ, học vẹt và thói quen thụ động vốn có của học sinh.
II. Về phương diện thực tiễn:
1. Về chương trình SGK:
Chương trình SGK không có phần hướng dẫn học sinh kỹ năng làm văn nghị luận về
hai ý kiến bàn về văn học, cũng không có những tiết học riêng thực hành kiểu bài nghị luận
văn học này. Hơn nữa, các ý kiến đưa ra nghị luận trong các đề bài nghị luận văn học này
nhiều khi còn hàm chứa những khái niệm mới lạ, học sinh chưa được hướng dẫn, tìm hiểu
sâu sắc. Bởi vậy, nếu không có kiến thức cơ bản về lí luận văn học, lí thuyết làm văn, nhất là
kiến thức về tác giả, tác phẩm, học sinh khó có thể làm tốt bài nghị luận hai ý kiến bàn về
văn học.
Vì thế, cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về về lí thuyết làm văn, nhất là
kiến thức về tác giả, tác phẩm, khung dàn ý chung và yêu cầu riêng đối với mỗi kiểu dạng đề
bài cụ thể góp phần khỏa lấp những chỗ hổng về kiến thức cho các em. Nó không chi giúp
các em chủ động, tích cực củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng làm bài nghị luận hai ý
kiến bàn về văn học, mà còn tránh được cách tiếp cận thụ động, hoặc cảm tính, tùy tiện khá
phổ biến hiện nay, tạo điều điệu thuận lợi cho các em trong quá trình ôn tập và làm bài thi.
2. Về phía người dạy:
Vì chương trình SGK chưa cung cấp kiến thức lý luận và hướng dẫn học sinh thực
Điểm 3,5 đến 5,0
SL
TL%
8
2,9%
Điểm 2,0 đến dưới 3,5
SL
TL%
76
26,2%
Điểm 0 đến 1,75
SL
TL%
175
70,9%
* Sau khi áp dụng sáng kiến: (Kết quả kiểm tra phần Làm văn câu hỏi nghị luận hai
ý kiến bàn về văn học theo thang điểm 5/10 trong đợt kiểm tra chất lượng 8 tuần học kỳ II
năm học 2016 -2017, có độ khó tương đương với cùng kỳ năm học 2013-2014)
Tổng số HS
244
Điểm 3,5 đến 5,0
SL
TL%
31
12,7%
22
E. KẾT LUẬN:
Như đã nói ở trên, một số giải pháp trong sáng kiến kinh nghiệm này đã được áp
dụng trong tổ bộ môn trường THPT ......................... và thực sự đã góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả giảng dạy, ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn nói chung, phần làm văn câu
hỏi nghị luận hai ý kiến bàn văn học nói riêng. Tuy nhiên, đụng chạm tới một vấn đề chưa có
hệ thống lý luận về kiểu bài nghị luận hai ý kiến bàn về văn học, SKKN của tôi khó tránh
khỏi những khiếm khuyết. Tôi rất mong nhận được sự chia sẻ của các thầy cô lớp trước, các
bạn đồng nghiệp để có một cái nhìn thấu đáo hơn, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả
giảng dạy và ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn nói chung, phần làm văn nói riêng .
Người viết SKKN
23
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN, ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
………….