SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 6
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 12
ĐẠT HIỆU QUẢ CAO TRONG LÀM VĂN DẠNG ĐỀ NGHỊ
LUẬN VỀ HAI Ý KIẾN BÀN VỀ VĂN HỌC
Người thực hiện: Mai Thị Bình
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2017
1
MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU
1
1.1. Lí do chọn đề tài........................................................................ 1
1.2. Mục đích nghiên cứu................................................................. 2
1.3. Đối tượng nghiên cứu................................................................ 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu........................................................... 2
2. NỘI DUNG
3
2.1. Cơ sở lí luận của đề tài.............................................................. 3
2.2. Thực trạng vấn đề...................................................................... 4
2.3. Giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện.................................. 5
vào văn, nhìn vào đề văn các em thấy hoang mang, không biết bắt đầu từ đâu,
làm những gì và phải làm sao để đạt kết quả cao.
Vì vậy, là một giáo viên văn, ngoài việc cung cấp kiến thức cho học sinh,
giúp các em hiểu, cảm thụ sâu sắc, tinh tế các tác phẩm văn học thì việc hướng
dẫn học sinh luyện tập, trang bị kiến thức cho các em về các dạng đề, cách làm
các dạng đề cụ thể, hướng dẫn các em luyện viết để các em vừa nắm được kiến
thức lí thuyết vừa biết cách thực hành và có thể đạt kết quả cao trong các kì thi
là việc làm thiết thực và ý nghĩa.
Trong những năm gần đây, dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn
học và nghị luận về hai ý kiến bàn về văn học gần như là thống trị các kì thi. Kì
thi Đại học năm 2013, năm 2014 phần nghị luận văn học ở cả hai khối C và D
chủ yếu là dạng nghị luận về hai ý kiến bàn về văn học. Đề thi học sinh giỏi của
các tỉnh phần nghị luận văn học hầu như cũng ở các dạng đề này. Và hiện nay kì
thi quan trọng nhất là kì thi trung học phổ thông quốc gia là lồng ghép của hai kì
thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, việc tuyển sinh đại học
muốn tuyển được những học sinh thực sự có chất, hiểu biết văn chương, có kiến
thức rộng, có chiều sâu thì xu thế ra đề ở hai dạng đề này là không loại trừ và đã
được thể hiện ở đề thi năm 2016. Thế nhưng, đây lại là những dạng đề rộng và
khó. Thời lượng chương trình dành cho hai dạng đề này rất ít, chỉ một tiết trên
lớp mà lại chủ yếu bàn về dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học còn
dạng đề nghị luận về hai ý kiến bàn về văn học gần như không đề cập đến. Dạng
đề nghị luận về hai ý kiến bàn về văn học cũng chưa có một công trình nghiên
cứu, một sáng kiến kinh nghiệm nào bàn tới, chỉ có một vài bài viết đơn lẻ trên
các trang mạng của thầy Hiếu “Kĩ năng làm bài về ý kiến bàn về văn học”; cô
Thu Trang “Dàn ý cho kiểu bài nghị luận hai ý kiến bàn về văn học”, hay bài
viết của cô Triệu Thị Huệ “Nghị luận về hai ý kiến, hai vấn đề trong kiểu bài
nghị luận văn học”. Tuy nhiên, những bài viết này chỉ nêu một cách ngắn gọn,
sơ lược, khái quát về dạng đề nói chung hoặc lập dàn ý cho một đề bài cụ thể
nào đó chứ không chỉ ra trong dạng đề này có những kiểu dạng nào, cách làm
những dạng đó và những biện pháp để học sinh có thể hiểu và đạt hiệu quả cao
để có thời gian hướng dẫn học sinh ôn tập củng cố kiến thức. Ngoài việc dạy
học, hướng dẫn học sinh luyện tập tôi còn kết hợp với kiểm tra, đánh giá mức độ
hiểu biết, vận dụng của học sinh.
4
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của đề tài
“Ý kiến bàn về văn học là một nhận định về văn học, một danh ngôn về
một vấn đề trong văn học. Vấn đề đó thuộc lí luận văn học, về văn học sử, về tác
phẩm, về phong cách tác giả”[1]. Các ý kiến, nhận định về văn học vô cùng
phong phú của cả giới phê bình trong nước và ngoài nước, có cả những ý kiến
về những tác phẩm cụ thể, những nhân vật, những chi tiết, những tình huống cụ
thể nhưng cũng có những ý kiến bàn luận chuyên sâu về lí luận. Ví dụ như ý
kiến của của GS.TS Trần Đăng Suyền là một ý kiến rất cụ thể khi nhận xét về
“Sóng” của Xuân Quỳnh: “Đó là cuộc hành trình, khởi đầu là sự từ bỏ cái tôi
chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến một tình yêu bao la rộng lớn, cuối cùng là khát
vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân vĩnh viễn thành tình yêu
muôn thuở”. Hay đề thi trung học phổ thông quốc gia 2016 ở phần làm văn là
một ý kiến về tình huống truyện “Vợ nhặt”: “Trong truyện ngắn Vợ nhặt, nhà
văn kim Lân đã xây dựng được một tình huống bất thường để nói lên một khát
vọng bình thường mà chính đáng của con người”. Nhưng cũng có những nhận
định mang tính chất lí luận chuyên sâu: “Một câu thơ tràn đầy ý tứ và tình cảm
cao thượng cũng sẽ không nghe được nếu làm chối tai bởi sự méo mó” (Boa-lô).
Ý kiến của Vương Duy, một nhà thơ đời Thanh của Trung Quốc: “Nhà thơ đối
với vũ trụ nhân sinh nên bước vào trong, mà lại nên đi ra ngoài. Bước vào trong
mới có thể viết được. Đi ra bên ngoài mới có thể quan sát được. Bước vào bên
trong mới sinh khí. Đi ra bên ngoài mới đạt cao siêu”. Đó chỉ là một vài ý kiến
văn học trong vô vàn ý kiến bàn về văn học mà học sinh có thể gặp khi làm văn.
nội dung vào. Đặc biệt làm kiểu bài này giáo viên còn phải hướng dẫn học sinh
sử dụng thành thạo các thao tác nghị luận: giải thích, phân tích, chứng minh,
bình luận, bác bỏ, so sánh. Sử dụng các thao tác đó theo trình tự hợp lí để vừa
làm sáng tỏ được ý kiến vừa khẳng định được giá trị ý kiến thậm chí bác bỏ
những ý kiến sai lệch và cho thấy bản lĩnh, hiểu biết, độ sắc sảo của người viết
để thuyết phục người đọc.
2.2. Thực trạng vấn đề
Nghị luận về hai ý kiến bàn về văn học là dạng đề thi khó. Dạng đề thi
này đang rất thịnh hành trong các kì thi quan trọng như học sinh giỏi, Trung học
phổ thông quốc gia nhưng phân phối chương trình dành cho kiểu bài này lại quá
ít. Trong chương trình Ngữ văn 12 chỉ có duy nhất một tiết cho bài: Nghị luận
về một ý kiến bàn về văn học. Sách giáo khoa chỉ nêu lên hai dạng đề minh họa,
phần gợi ý tìm hiểu đề, lập dàn ý chỉ trình bày một cách khá sơ lược. Kiểu bài
nghị luận về hai ý kiến bàn về văn học được coi là lồng ghép trong kiểu bài nghị
luận về một ý kiến bàn về văn học nhưng lại không có đề cụ thể nào. Vì vậy để
học sinh biết đến dạng đề nghị luận về hai ý kiến bàn về văn học, cách làm dạng
đề này và nhất là đạt hiệu quả cao kiểu bài này nếu như chỉ dạy theo phân phối
chương trình là điều không thể. Vì vậy, giáo viên chỉ có thể tận dụng những tiết
ôn tập, những buổi học bồi dưỡng để hướng dẫn học sinh dạng đề này.
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều những quyển văn mẫu: Những bộ đề
văn, Giới thiệu đề thi trung học phổ thông quốc gia, Những bài văn hay…hoặc
thậm chí các em có thể vào Google, gõ tên vào ý kiến, vào tác phẩm, vào hình
tượng…cũng có thể có đề đã được làm sẵn. Thế nhưng nếu như vậy thì các em
sẽ trở thành những cỗ máy, những con rô bốt, khả năng sáng tạo sẽ bị thui chột.
Hơn nữa, ở dạng đề này là vô vàn ý kiến và có rất nhiều kiểu lấy tác phẩm để
chứng minh cho nên tài liệu khó mà có sẵn. Vì vậy, với dạng đề này điều quan
trọng là giáo viên hướng dẫn cho các em các bước tiến hành, cách làm bài ở
từng dạng đề cụ thể. Khi đã nắm bắt được cách làm các em có thể áp dụng vào
những đề khác nhau, luyện viết nhiều, được giáo viên sửa chữa các em sẽ thành
thạo. Và như vậy các em sẽ chủ động, tự tin khi bắt gặp dạng đề này thậm chí có
mà người viết thường đưa ra hai ý kiến về một tác phẩm, hình tượng, chi tiết,
tình huống…hoặc một vấn đề lí luận và sau đó yêu cầu học sinh bình luận. Thế
nhưng, học sinh khi bắt gặp dạng đề này lại rất mơ hồ về các ý kiến bàn về văn
học, các em chưa từng biết đến, nghe đến những ý kiến này hoặc ý kiến tương tự
bao giờ. Vì vậy, các em rất hoang mang không biết bắt đầu từ đâu và dẫn đến
việc lúng túng trong cách làm bài và giải thích ý kiến sai. Do đó, việc đầu tiên
khi hướng dẫn học sinh ôn tập dạng đề này là tôi chỉ cho học sinh như thế nào là
ý kiến, nhận định bàn về văn học; đưa ra các ví dụ về ý kiến, nhận định tiêu
biểu. Sau đó tôi cung cấp và hướng dẫn học sinh cách tìm hiểu về các ý kiến,
nhận định về văn học. Tôi chỉ cho học sinh thấy, ở dạng này có những ý kiến
bàn luận chuyên sâu về lí luận văn học. Muốn nắm được mảng kiến thức này các
em phải tìm hiểu các bài: Văn bản văn học, Phong cách văn học, Giá trị văn học
và tiếp nhận văn học. Ở mảng những ý kiến, nhận định về tác phẩm, hình tượng,
chi tiết…cụ thể thì trong quá trình giảng dạy học sinh tiếp nhận tác giả, tác phẩm
văn học tôi thường yêu cầu học sinh nắm vững được phong cách tác giả, nắm
được những đặc điểm nội dung và nghệ thuật nổi bật của tác phẩm. Tôi còn lồng
ghép vào quá trình phân tích những nhận định tiêu biểu về vấn đề hoặc sau mỗi
bài học tôi cung cấp cho học sinh những ý kiến, nhận định sâu sắc nhất về tác
phẩm. Tôi còn yêu cầu học sinh đọc thêm những tài liệu tham khảo về tác giả,
tác phẩm, những bài phê bình về những tác phẩm văn học. Ngoài ra, sau khi học
xong một phần, một giai đoạn văn học, ví dụ học xong phần “Thơ mới” (1932 –
1945), tôi cung cấp cho các em những ý kiến nhận xét, đánh giá nổi bật về
phong trào thơ này; với những em thực sự yêu thích và say sưa văn học tôi còn
cho các em mượn những quyển sách để đọc thêm như: Một thời đại trong thi ca,
Thi nhân Việt Nam…
7
Bằng những sự nỗ lực như vậy, học sinh của tôi đã có được kiến thức cơ
bản về ý kiến bàn về văn học. Biết rằng những ý kiến bàn về văn học là vô cùng
- Dạng 1b: Hai ý kiến về hai đối tượng trong hai tác phẩm
Ví dụ: Có ý kiến cho rằng: sự nhẫn nhục của nhân vật Từ (Đời thừa – Nam
Cao) không đáng trách, chỉ đáng thương; còn sự nhẫn nhục của người đàn bà
hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu) thì vừa đáng thương
vừa đáng trách.
Từ cảm nhận của mình về hai nhân vật này, anh (chị) hãy bình luận các ý
kiến trên.
- Dạng 2: Hai ý kiến tương phản
Ví dụ: Nhận định về niềm khát khao tận hưởng sự sống trong bài thơ “Vội
vàng” của Xuân Diệu, từng có ý kiến cho rằng: Đó là tiếng nói của cái tôi vị kỉ
tiêu cực. Lại có ý kiến khẳng định: Đó là tiếng nói của cái tôi cá nhân tích cực.
Từ cảm nhận của mình về niềm khát khao đó, anh (chị) hãy bình luận
những ý kiến trên.
8
(Câu 3a, Đề thi Đại học năm 2013, Khối D).
2.3.3. Hướng dân học sinh các bước làm bài
Đây là khâu vô cùng quan trọng. Bởi vì, phần lớn học sinh lúng túng khi
bắt gặp dạng đề này. Các em không biết bắt đầu từ đâu, nên làm như thế nào. Vì
vậy, với dạng đề khó này, tôi hướng dẫn các em các bước làm bài cụ thể.
Bước 1: Hướng dẫn học sinh giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề cần
nghị luận.
Tôi yêu cầu học sinh giới thiệu ngắn gọn, chắc chắn. Khi giới thiệu vấn đề
cần nghị luận có thể trích dẫn một ý kiến khác để giới thiệu, hoặc có thể đưa ra
một liên tưởng tương đồng, tương cận, đối lập hoặc bằng một ấn tượng để giới
thiệu.
Phần giới thiệu tác giả, tác phẩm phải có mối liên hệ với ý kiến; phải nêu
được vấn đề nổi bật, ấn tượng của tác giả, tác phẩm có liên quan đến ý kiến,
không được sa vào kể lể về tác giả, tác phẩm.
9
Đồng thời, khi bình luận tôi luôn yêu cầu học sinh phải bám thật sát vào ý
kiến, không diễn giải dài dòng mà lời bình phải rõ, chắc, gọn, phải tỏ thái độ
khiêm nhường, mềm mỏng nhưng kiên quyết, giàu sức thuyết phục.
Bước 5: Hướng dẫn học sinh mở rộng, nâng cao vấn đề
Ở phần này có thể có rất nhiều học sinh bỏ qua nhưng đây lại là phần
quan trọng để đánh giá sự hơn thua trong bài viết của học sinh. Với những em
chắc kiến thức về cả lí luận và tác phẩm văn học thì phần mở rộng, nâng cao vấn
đề rất sâu sắc, bài viết của các em dường như tròn trịa hơn. Ở phần này, tôi
hướng học sinh nhưng cách mở rộng, nâng cao như sau:
- Sự đóng góp của ý kiến đối với quá trình nhìn nhận tác giả, tác phẩm,
hình tượng văn học…
- Điểm nổi bật, đóng góp của nhà văn, tác phẩm đối với giai đoạn văn
học, nền văn học.
- Điều tác giả trăn trở, gửi gắm qua tác phẩm.
2.3.4. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý
Một thực tế hiện nay là học sinh ngay cả những học sinh giỏi văn cũng
xem thường khâu lập dàn ý. Các em thường có thói quen làm bài ngay sau khi
đọc đề. Điều đó dẫn đến tình trạng lạc đề, xa đề, thiếu ý, lặp ý, các ý lộn xộn,
thiếu logic.
Nhận thức được hạn chế đó, tôi thường xuyên rèn luyện kĩ năng này cho
học sinh. Sau khi hướng dẫn các em các bước làm bài, tôi yêu cầu học sinh thảo
luận nhóm, phác thảo ra dàn ý của mỗi dạng đề, với các lớp khối A đây là dạng
đề khó nên tôi cung cấp luôn cho các em dàn ý đại cương để các em áp dụng vào
các đề cụ thể.
2.3.4.1. Dàn ý đại cương cho các dạng đề
Ở phần hướng dẫn dàn ý đại cương, tôi gộp dạng 1a và 1b.
* Dạng 1a và 1b:
4) Bình luận ý kiến
- Chỉ ra sự thống nhất, bổ sung của hai ý kiến.
- Nếu là hai ý kiến về hai đối tượng trong hai tác phẩm thì học sinh phải
chỉ ra điểm chung, gặp gỡ và nét độc đáo riêng của mỗi hình tượng mà ý kiến
nêu ra.
c) Kết bài:
- Đánh giá khái quát, ngắn gọn về mức độ đúng đắn, sâu sắc, toàn diện
của mỗi ý kiến, nhận định mà đề yêu cầu bình luận.
- Mở rộng, nâng cao vấn đề.
* Dạng 2:
a) Mở bài (nếu mở bài trực tiếp)
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm
- Nêu vấn đề cần nghị luận (trích dẫn đầy đủ hai ý kiến)
b) Thân bài:
1) Giải thích ý kiến
- Giải thích ý kiến, nhận định thứ nhất
- Giải thích ý kiến, nhận định thứ hai
Với dạng đề này, sau khi giải thích xong học sinh phải chỉ ra một trong
hai ý kiến đâu là ý kiến đúng, đâu là ý kiến chưa đúng.
2) Chứng minh ý kiến
Học sinh lấy dẫn chứng từ tác phẩm để phân tích, chứng minh làm rõ ý
kiến đúng.
3) Bình luận ý kiến
- Học sinh phủ định, bác bỏ ý kiến chưa đúng, giải thích lí do vì sao.
- Khẳng định ý kiến đúng, giải thích lí do.
c) Kết bài:
- Đánh giá khái quát vấn đề
- Mở rộng, nâng cao
2.3.4.2. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết
Sau khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý đại cương, ở mỗi dạng đề, tôi đưa
- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm
+ Nguyễn Tuân là nhà văn tài năng với phong cách độc đáo
+ Tùy bút “Người lái đò sông Đà” là kết quả chuyến đi thực tế lên Tây
Bắc của Nguyễn Tuân.
- Nêu hai ý kiến cần bình luận
b) Thân bài
1) Giải thích ý kiến
- Công trình khảo cứu công phu: là một tác phẩm được tạo nên từ công
sức tìm tòi, nghiên cứu dựa trên các tài liệu phong phú. Nó thể hiện vốn sống và
tầm hiểu biết của nhà văn đồng thời cũng đem đến cho người đọc những hiểu
biết phong phú về các đặc điểm, tính chất của đối tượng được đề cập.
- Áng văn giàu tính thẩm mĩ: là tác phẩm nghệ thuật đạt đến độ hoàn hảo
trong việc tái hiện cái đẹp, khơi gợi những hứng thú và khả năng cảm nhận cái
đẹp ở người đọc.
2) Chứng minh ý kiến
* Công trình khảo cứu công phu
- Tác giả huy động một vốn kiến thức tổng hợp khá đồ sộ về rất nhiều
ngành nghề khoa học và nghệ thuật.
+ Địa lí: Sắc nước mỗi mùa, tên của các con thác dọc sông Đà, đặc
điểm địa hình, địa thế của sông.
+ Lịch sử: Các thời kì lịch sử khác nhau gắn với sông Đà: thời tiền
sử, thời Hùng Vương, thời vua chúa phong kiến, thời xây dựng chủ nghĩa xã hội.
12
+ Văn hóa: Những sinh hoạt vật chất (đốt lửa trong hang đá, nướng
ống cơm lam) và tinh thần (bàn cá anh vũ, cá dầm xanh…).
+ Văn học: Hình ảnh con sông Đà trong thơ văn (Đà giang độc bắc
lưu), gợi nhớ thơ Lí Bạch, thơ Ba Lan.
+Các kiến thức khác: quân sự, thể thao, âm nhạc, hội họa, điện ảnh,
+ “Người lái đò sông Đà” thể hiện rõ phong cách tài hoa, uyên bác
của Nguyễn Tuân.
+ Khác với những tác phẩm trước Cách mạng tháng Tám 1945, với
tác phẩm này Nguyễn Tuân khẳng định cái đẹp không ở đâu xa, mà nó có ngay
trong cảnh sắc thiên nhiên đất nước và cuộc sống của người dân lao động.
* Dạng 1b:
a) Mở bài: (Mở bài gián tiếp)
- Dẫn dắt vấn đề:
13
+ Trong tập tiểu luận “Trang giấy trước đèn”, nhà văn Nguyễn Minh
Châu viết: “Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc
giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số
phận đen đủi dồn người ta đến chân tường”. Như vậy, theo Nguyễn Minh Châu
thiên chức của nhà văn là sự cảm thông, thấu hiểu, động viên, yêu thương, trân
trọng nhân vật của mình. Nhân vật Từ (Đời thừa – Nam Cao) và người đàn bà
hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu) đều nhận được sự cảm
thông, yêu thương của nhà văn dành cho họ.
+ Trích dẫn hai ý kiến.
b) Thân bài:
1.Giới thiệu vài nét về hai tác giả, hai tác phẩm
- Nam Cao là nhà nhân đạo lớn, là nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học
Việt Nam hiện đại; “Đời thừa” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông
trước Cách mạng tháng Tám 1945.
- Nguyễn Minh Châu là nhà văn tài năng đi tiên phong trong công cuộc
đổi mới văn học Việt nam sau 1975; “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm
xuất sắc của ông thuộc giai đoạn này.
2. Giải thích ý kiến
Ý kiến chỉ ra sự giống nhau của hai nhân vật: đều nhẫn nhục nhưng có sự
cảnh có thể khác, có thể đấu tranh và thay đổi.
- Hai tác giả do yếu tố hoàn cảnh nên có cách nhìn khác nhau. Với Nam
Cao, ông đồng cảm, bênh vực nhân vật của mình, lên án xã hội đẩy con người
đến đường cùng. Với Nguyễn Minh Châu, ông đồng cảm, xót xa nhưng không
đồng tình và qua đó cũng gửi gắm cách nhìn đời, nhìn người.
c) Kết bài:
- Đánh giá, mở rộng, nâng cao vấn đề
+ Đây là hai hình tượng văn học nhận được sự cảm thông, yêu
thương của người đọc.
+ Chính hai hình tượng văn học này làm nên giá trị, sống sống cho
hai tác phẩm.
+ Qua hai nhân vật, hai nhà văn gửi gắm cách nhìn đời và những
thông điệp cuộc sống.
Dạng 2:
a) Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
+ Nguyễn Tuân là nghệ sĩ suốt đời đi kiếm tìm cái đẹp, trước Cách mạng
tháng Tám ông đi kiếm tìm cái đẹp trong Vang bóng một thời.
+ “Chữ người tử tù” là tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Tuân trước Cách
mạng tháng Tám, tác phẩm xây dựng hai hình tượng nhân vật Huấn Cao và viên
quản ngục.
- Trích dẫn hai ý kiến
b) Thân bài
1) Giải thích
- Đó là cách để khẳng định danh tiếng và trả ơn mấy bữa rượu thịt: ý kiến
này khẳng định việc Huấn Cao cho chữ cho quản ngục là chỉ để khẳng định
danh tiếng (tài năng viết chữ đẹp) và trả ơn mấy bữa rượu thịt tầm thường mà
quản ngục đã thiết đãi Huấn Cao.
- Đó là cách để tạ lòng tri kỉ: ý kiến này khẳng định việc Huấn Cao cho chữ
cho quản ngục có ý nghĩa sâu sắc. Huấn Cao đã coi quản ngục là một tri kỉ
3. Bình luận ý kiến
- Ý kiến thứ nhất là không đúng. Lí giải: Bởi vì, nếu Huấn Cao muốn
khẳng định danh tiếng thì Huấn Cao đã cho chữ cho rất nhiều người nhưng ở
đây Huấn Cao chỉ cho chữ cho ba người bạn thân. Nếu muốn trả ơn mấy bữa
rượu thịt thì hoàn toàn không đúng. Huấn Cao thản nhiên nhận rượu thịt như
một thú mình được hưởng. Vì vậy, không việc gì phải trả ơn; thậm chí quản
ngục đem vào thiết đãi Huấn Cao còn bị Huấn Cao đuổi ra khỏi phòng.
- Ý kiến thứ hai là xác đáng, thể hiện được dụng ý nghệ thuật của tác giả,
xây dựng cảnh cho chữ là sự hội ngộ của những tấm lòng tri kỉ, tất cả đang hành
động theo tiếng gọi thiêng liêng của cái đẹp, cái đẹp của nhân cách, của thiên
lương.
c) Kết bài:
- Đánh giá, mở rộng, nâng cao vấn đề
+ Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công cảnh cho chữ trong tác
phẩm “Chữ người tử tù”, là cảnh tượng xưa nay chưa từng thấy. Đó cũng là
cách để Huấn Cao tạ một tấm lòng tri kỉ.
+ Qua việc Huấn Cao cho chữ cho quản ngục, Nguyễn Tuân muốn
nói rằng cái đẹp đã lên ngôi, cái đẹp xóa nhòa đi mọi ranh giới.
2.3.5. Tích cực khuyến khích học sinh thực hành viết bài
Hiểu được yêu cầu của đề, lập được dàn ý nhưng điều quan trọng là phải
cụ thể hóa thành bài văn hoàn chỉnh. Hiện nay học sinh rất lười viết. Vì thế các
em hay vấp phải những lỗi dùng từ, diễn đạt và liên kết ý. Bài văn các em
thường viết rất ngắn, câu văn cộc lốc, lời văn khô khan. Đặc biệt, với dạng đề
văn lí luận này nếu thường xuyên viết bài các em sẽ bao quát, hiểu sâu hơn vấn
đề trừu tượng, khó hiểu. Bắt tay vào viết bài các em mới rèn luyện được hiệu
quả sử dụng các thao tác lập luận, chủ động hơn khâu chọn và phân tích dẫn
chứng, thành thạo trong việc bình luận ý kiến. Bên cạnh đó, quá trình viết để tạo
ra được sản phẩm tinh thần này sẽ nuôi dưỡng trong các em niềm đam mê văn
chương, ý thức tìm tòi, khám phá các câu nói, nhận định hay về văn học.
16
bàn về văn học đòi hỏi học sinh thông minh lựa chọn và phân tích dẫn chứng.
Các em không thể bê nguyên si nội dung một tác phẩm, một hình tượng văn học
vào mà phải xác định đâu là vấn đề chính, vấn đề nào phải xoáy sâu, vấn đề nào
nên bỏ qua. Việc học sinh lựa chọn, phân tích dẫn chứng như thế nào được coi là
tiêu chí quan trọng trong quá trình cho điểm của giáo viên.
Với dạng đề này, ngoài việc chú trọng việc bình luận, đánh giá, chứng
minh tính đúng đắn của vấn đề, học sinh cần phải biết mở rộng, nâng cao. Đây
là phần đánh giá và phân loại trình độ của học sinh. Với những học sinh biết mở
rộng, nâng cao vấn đề tôi thường cho điểm cao để khích lệ các em.
Trong quá trình chấm, ngoài việc cho điểm cho học sinh, tôi rất chú trọng
việc sửa lỗi cho các em. Trược hết là những lỗi về nội dung, ở dạng đề này các
em thường mắc những lỗi: giải thích lan man, không bám vào trọng tâm; phần
tích, chứng minh không biết chọn lọc dẫn chứng tiêu biểu, đưa vào tràn lan hoặc
chứng minh sơ sài; phần bình luận thường thái quá không giữ được độ chắc,
khiêm nhường.... Ngoài ra, tôi chỉ cho các em những lỗi về hình thức: bố cục,
kết cấu bài văn đã hợp lí chưa, cách trình bày luận điểm, luận cứ đã rõ ràng, chặt
chẽ chưa, những lỗi về diễn đạt, lỗi hành văn….Một mặt tôi chỉ ra những lỗi các
17
em mắc phải, mặt khác tôi hướng dẫn các em cách sửa luôn trong bài văn. Vì
vậy, khi nhìn vào thành quả của mình đã được cô giáo chấm và sửa lỗi các em
mới biết được thực sự khả năng của mình như thế nào, biết mình đã mắc những
lỗi nào mà sửa chữa cho lần sau, biết mình có những mặt mạnh nào để phát huy.
Trong các tiết trả bài, trước khi trả, tôi nhận xét khái quát cả lớp, chỉ ra
những mặt làm được, những lỗi chung của cả lớp. Tôi đặc biệt nhấn mạnh những
mặt các em đã làm được để các em có chí hướng phấn đấu. Riêng về lỗi của
từng em do đã nhận xét trong bài nên tôi không nêu cụ thể để giữ thể diện cho
các em. Đồng thời, tôi thường cho học sinh đọc một vài bài tiêu biểu để tuyên
dương các em viết tốt, vừa khích lệ những em chưa tốt phải cố gắng.
số HS
40
Tốt
SL
0
Khá
Tỉ lệ
0%
SL
3
Tỉ lệ
7,5%
Trung bình
SL
27
Tỉ lệ
67,5%
Không nắm
được
SL
Tỉ lệ
10
25%
thể hiện qua kết quả kì thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2016. Tuy chỉ là
một lớp thường nhưng ở lớp 12B4 có một số em đạt điểm khá cao. Em Lê Thị
Xinh 8 điểm môn văn; em Lê Văn Ngọc 7,5 điểm; em Ngô Thị Tình 7,5 điểm;
em Lê Thị Thu Trang 7,0 điểm; em Nguyễn Ngọc Sơn 7,0 điểm.
Ngoài ra, cách làm này tôi còn áp dụng cho tất cả các lớp mà mình giảng
dạy và suốt một quá trình từ khi đang còn tách hai kì thi tốt nghiệp và đại học.
Trường tôi tuy là một trường tiền thân là bán công, chất lượng đầu vào thấp
năng lực cảm thụ văn chương của học sinh không cao nhưng với những biện
pháp tôi đã áp dụng khi hướng dẫn học sinh ôn luyện dạng đề này kết quả thi
Đại học và học sinh giỏi tỉnh đã đạt được một số thành quả :
Kì thi đại học năm 2010 : Em Hoàng Thị Huệ ( Đại học Công Đoàn): 8,5
điểm môn văn; Em Lê Thị Công (Đại học văn hóa): 8.0 điểm môn văn, em Lê
Thị Dung (ĐH Ngoại Ngữ TPHCM ) : 8.0 điểm môn văn.
Kì thi đại học năm 2011 em : Lê Bá Huy (Đại học An Ninh): 8.0 điểm
môn văn, em Nguyễn Thị Mai (ĐH Đà Lạt): 8.0 điểm môn văn.
Kì thi đại học năm 2013, em Lại Thị Thảo (Đại học khoa học xã hội và
nhân văn) : 8,75 điểm môn văn ; em Lê Thị Lan Anh (Học viện báo chí và tuyên
truyền) : 8,0 điểm môn văn.
Năm học 2012 – 2013 : em Bùi Thị Liên đạt giải ba môn văn cấp tỉnh; em
Lại Thị Thảo đạt giải ba môn văn cấp tỉnh.
Tuy nhiên, sự chuyển biến của học sinh cần có quá trình lâu dài, không
chỉ cung cấp kiến thức mà còn hướng dẫn học sinh ôn tập và không chỉ ôn tập
một dạng đề mà nhiều dạng đề. Việc ôn tập phải kết hợp với khích lệ, rèn luyện
học sinh viết bài và sửa chữa cho các em. Nhưng với những kết quả mà các em
đã đạt được, là niềm động viên, an ủi, khích lệ đối với tôi để tôi có thêm động
lực tiếp tục tìm tòi những bài dạy hay, những phương pháp ôn luyện hiệu quả.
19
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ được rút ra trong quá trình giảng dạy
và ôn luyện. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, trao đổi của đồng nghiệp
xung quanh vấn đề mà tôi đã đề cập. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng
dạy và làm cho công việc dạy và học văn thêm nhiều ý nghĩa.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 24/05/2017
Tôi cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Mai Thị Bình
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. http://Giáo dục thời đại.vn/trao đổi kĩ năng dạy làm văn nghị luận cho học
sinh giỏi.
2. WWW.Tiền phong.vn/ lập dàn ý cho kiểu bài nghị luận tổng hợp hai ý kiến.
3. Thầy Hiếu.net/ kinh nghiệm làm văn.
4. Thu Trang.edu.vn/ dàn ý cho kiểu bài nghị luận hai ý kiến bàn về văn học.
5. Triệu Thị Huệ nghị luận về hai
ý kiến, hai vấn đề trong kiểu bài nghị luận văn học.
21
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG